Cách đó tám hôm, buổi sáng Fierce thức giấc tì khuỷu tay lên bậu cửa tàu.
Do thời tiết thất thường, đêm qua có mưa, một trận mưa rào ngắn và xối xả, như thường xẩy mỗi tháng một lần giữa mùa khô. Không khí nhờ vậy được vẻ mát mẻ mùa xuân, tuy bầu trời đã cháy hừng dưới vầng dương bốc lửa. Fierce quan sát thấy bờ trái sông Đồng Nai, vùi dưới đám cây cối xanh um, xếp thành lớp lớp chồng lên nhau: thật thấp bên dưới, là đám lau sậy, chuối, cọ lùn, la đà trên dòng nước, dồn ép chen chúc không để hở một lỗ, một khe nào như hàng rào kín đặc. Phía trên là mộc lan, cây đa, keo, me xen kẽ với các bụi tre; các màu sắc hòa vào nhau duyên dáng; màu xám dịu thân tre, màu xanh bóng cành quýt, màu nâu kim loại cây phu danh lá tròn. Các bông hoa vô số điểm lấm chấm cành lá, - hoa trắng, hoa vàng, nhiều nhất là hoa đỏ - phượng đỏ thắm, bông bụt đỏ son. Cuối cùng cao hơn nữa là những cây cọ gồm nhiều giống loài đu đưa cành lá thanh mảnh, in bóng kỳ lạ rối rắm lên nền trời chói lóa. Các thân cau cao vút trộn lẫn tàu lá dài với các tàu cọ xòe như chiếc quạt và tàu dừa lua tua trĩu quả - mọi cái đó bay lượn trên khu rừng như những cụm đẹp tuyệt vời ở đầu các thân cây mảnh mai màu trắng nom giống những cây cột kiến trúc thời cổ đại.
Phía dưới chiếc cửa tuần dương hạm, làn nước màu vàng lướt qua thân tàu. Nó trôi nhanh, vội vã nom đáng sợ, cuốn theo những thân cây chìm một nửa, những cành lá, tấm ván, những mảnh vỡ đến từ xa, những vật trôi giạt chẳng còn ra hình thù của cái Châu Á mênh mông xa lạ. Mặt trời khoác lên mặt sông một tấm vải chói lói, tới mức không còn nom rõ các lỗ đen dòng xoáy nuốt chửng mọi cái vật vờ trôi qua.
- Hay lắm, cái cảnh tượng này, Fierce nói.
Anh cảm thấy tâm trạng lúc này vô cùng sảng khoái. Ðêm qua anh không hút thuốc phiện.
Tuần lễ vừa qua thật là thuận lợi. Nhanh hơn điều anh hy vọng, Sài Gòn đã tiếp đón anh bằng nơi ăn chốn ở hợp ý mình: nhà cửa tốt, bữa ăn vui vẻ - rồi là cái còn lại. Nhà ở chỉ là một căn phòng để nghỉ trưa, rộng, trần trụi, mát mẻ, chỉ kê một chiếc giường lót bông cỏ mắc sẵn màn và buộc một quạt kéo do thằng bé kéo.
Qua cửa sổ nom thấy một cây phượng mọc nghiêng lòa xòa cành lá với những chùm hoa lay động. Phía ngoài là khu phố cổ Tự Đức, gồm những đường phố nâu thơm tho đa số là người Hoa Kiều sinh sống, điểm những tiệm buôn và hiệu giặt là vui mắt. Có thể ngủ yên giấc trong sàn phòng thoáng đãng này, vào những giờ buổi trưa nóng như thiêu, khi mà các tấm tôn trên tuần dương hạm bị mặt trời hun nóng giãn nở đến mức sơn trắng nứt nẻ bong từng vẩy và hắc ín thì tan chảy nhỏ giọt.
Lúc bấy giờ Fierce cởi trần nằm dài trong màn, người ướt râm rấp sau nhiều lần đi tắm và mơ màng suy nghĩ về cảnh sống ở Sài Gòn, đồng thời chú ý không cựa quậy, vì chỉ cần thò tay ra thì tất cả cánh tay ướt đẫm mồ hôi.
Trong các bữa ăn tối, Mévill và Torral cùng dự. Với cả ba người, mỗi đêm cũng giống như cái đêm đầu tiên. Tình tiết có thay đổi. Nhưng dù ít hay dù nhiều thì bao giờ cũng là gái, thuốc phiện và rượu, xen những lúc tạm nghỉ để đi dạo chơi trong cảnh thôn dã ngủ im lìm vắng lặng.
“Cái còn lại”, cuối cùng, là do Hélène Lisere cung cấp. Chẳng phải Fierce đã coi cô ta như nhân tình chính thức, hoặc anh giữ lòng chung thủy với cô, như thế thì quả là buồn cười. Nhưng cuộc phiêu lưu đầu tiên giữa hai người đã khiến họ ưa thích nhau, và cả hai cứ tiếp tục dan díu vụng trộm. Fierce tìm thấy trong đó cái lợi giản dị hóa nếp sống của mình. Kể cũng tiện là làm nhân tình thứ hai của một phụ nữ mà người ta ưa thích tuy chẳng gắn bó. Còn khoản thêm nếu bắt buộc về các nhục giác xa lạ thì các bữa ăn tối ở Chợ Lớn, có nhiệm vụ cung cấp món gia vị Nhật Bản, An Nam hoặc Trung Quốc.
Hélène trong mọi việc này, để mặc cho số phận dẫn dắt và không hề coi nó là điềm rủi ro. Hai người tình nhân hào phóng vẫn hơn là chỉ một. Vả chăng, Fierce và Mévill lần lượt trả thù hộ cô người này qua người nọ. Hélène cũng yêu cả hai bằng một thứ tình cảm khá mộc mạc nên không hề ghen. Cô đau khổ trong niềm tự ái và trong nhục cảm khi thấy họ yêu thương những người đàn bà khác. Vậy mà, Fierce chỉ giấu giếm rất ít các chuyện dan díu với người châu Á, còn Mévill thì phô trương phần lớn các trò ngủ nghê được tổ chức hoặc ngẫu nhiên. Vậy nên, Hélène bị lừa dối và biết mình bị lừa dối, thích thú có dịp đến lượt mình lừa dối, và mong ước có một ngày thú thực với mỗi tình nhân là mình vốn thích anh kia hơn. Trong thực tế, Mévill không hề biết có anh kia; Fierce, do vì nể Hélène, giữ kín điều bí mật, và vui vẻ chịu đựng là cô ta đôi lúc hù họa anh, do ghen tuông hoặc do bạo dâm gây đau, là sẽ “nói ra mọi chuyện”… Chỗ trú tốt, bữa ăn vui vẻ - và cái còn lại…
Trên tất cả mọi thứ, là vẻ mãn nguyện bề ngoài về một mục đích cuộc sống và con đường tiến tới mục đích ấy. Từ khá nhiều năm nay Fierce sống tuân theo nhục dục, và chẳng tìm kiếm gì ngoài chuyện thỏa mãn chúng một cách tốt nhất. Nhưng những ngày thân cận với Mévill và Torral khiến giờ đây anh nghĩ trên đời chẳng có cái gì tốt đẹp hơn, và cái tốt mà người ta từng ước vọng chỉ là ảo tưởng, cho nên rốt cuộc anh thấy nên khép mình vào cái công thức văn minh: Hưởng thụ tối đa với nỗ lực tối thiểu. Tính thẳng thắn khoa học của mệnh đề này quyến rũ anh.
Kiểu các bạn bè nhất nhất làm theo châm ngôn của họ cũng khiến anh thích thú không kém, Mévill, vốn tính duy nhất chỉ thích chuyện làm tình, chính thức có năm cô tình nhân, và không bỏ lỡ bất cứ một cuộc hành lạc nào do sự tình cờ tạo nên. Không một thành kiến nào quy định sự chọn lựa của anh; và bất cứ đôi môi nào cũng thu hút như nhau cái hôn hít của anh, chỉ cần cô ta trẻ và có vành môi uốn vòng cung. Một ca sĩ ôpêrét, một cô ăn chơi kiểu thượng lưu, vợ một trạng sư nổi tiếng, một “con gái” An Nam giúp việc, cô hầu – nô lệ hơn là cô hầu – tình nhân, một cô Nhật Bản nhà thổ, cứ thứ ba được vời đến cho cuộc làm tình hàng tuần, một cô gái có tiếng là ngây thơ, lén lút bê tha trụy lạc; tóm lại là năm phụ nữ - mà mỗi người nếu biết nhau sẽ khinh miệt bốn người kia, do vì số phận khác nhau – cả năm người đều thích được khen ngợi, vuốt ve và bị khinh rẻ như nhau bởi cái anh tình nhân chuyên nghiệp không bao giờ bối rối vì yêu thích riêng người nào. Và cái đó hiển nhiên là một cách sống khôn ngoan. Còn Torral, vốn chiết trung, cân đối các thú vui của mình theo toán học kiểu khoái lạc chủ nghĩa và khoe là mình biết biểu hiện bằng cách như vậy tất cả hạnh phúc chứa đựng trong cuộc sống. Mục đích ấy cần phải đạt tới, vậy dư luận thiên hạ chẳng tồn tại trước mắt anh; và anh phô trương ngay trong đường phố các mối dây dợ đồng tính luyến ái của anh, dắt đi dạo giữa khu Thanh tra hai chú con trai thân thiết, Ba và Sao. Cái này lại cũng là đức khôn ngoan – được tôn lên bằng một thái độ trâng tráo hầu như dũng cảm.
Vậy nên, Fierce thích thú cái đời sống Sài Gòn của mình đồng thời, cũng thích thú coi như cách hưởng thụ ấy là có căn cứ vững vàng.
Anh đưa mắt nhìn một lần cuối dòng sông có cây rừng bao quanh.
- Sài Gòn, một thành phố hay tuyệt.
Ngày hôm nay chủ nhật, mồng 2 tháng giêng; ông đô đốc lát nữa sẽ tổ chức bữa tiệc trưa thân mật. Fierce, vốn ghét các cuộc tiếp đón xã giao coi như lao dịch, nhưng anh nhận lời, vì có cô bé Abel sẽ đến dự, con gái ông phó toàn quyền, bức tượng bạch ngọc xinh đẹp có cặp mắt nhân sư, ngay hôm đầu tiên đã khiến anh mê mẩn và càng quyến rũ anh thêm qua mỗi lần gặp mặt. Cái cô bé kỳ lạ, anh nghĩ; một làn nước ao tù cứ khiến người ta muốn ném một hòn đá xuống xem cái gì sẽ nổi lên mặt nước. Tại bữa tiệc có mặt, ngoài gia đình Abel, ông bà toàn quyền vốn là bạn cũ của đô đốc d’ Orvillers, và một cô con nuôi được ông toàn quyền giám hộ, mẹ cô góa chồng và mù, sẽ không cùng đi đến chỗ tiếp tân. Fierce, trong phòng ăn đã được dọn sẵn, lo việc cắm hoa và tìm trên kệ các vách ngăn kiểu Nhật của đô đốc chỗ cắm hoa hồng và phong lan. Trong lúc đặt trên tờ thực đơn của phụ nữ những nhành hoa để cài lên áo, anh đọc các tên được viết nắn nót và dừng lại ở tên cô con nuôi ông toàn quyền, mơ hồ sực nhớ lại. Cô Sylva là ai nhỉ? Anh bèn hỏi ông đô đốc đang ngồi trong phòng giấy, gập lại các sơ đồ pháo binh.
- Sao, ông d’ Orvillers nói, anh không còn nhớ thật sao? Nhưng là lịch sử đấy!
Ông ta kể:
- Cô Sylva không phải ai khác là con gái đại tá Sylva lừng danh, chỉ huy đội kỵ binh Phi châu, bị chết trong trận El-Arar trong một cuộc xung kích oai hùng nhất thế kỷ. Ông d’ Orvillers nói vậy, rồi kể tiếp về ông bố mà quên bẵng cô con, miêu tả chi tiết cho anh sĩ quan tùy tùng, lơ đãng một cách kính cẩn, nghe lịch sử chi ly trận đánh nói trên, và niềm vinh quang mà đội kỵ binh Phi châu đã giành được trong dịp này dưới quyền chỉ huy của vị anh hùng Sylva. Fierce, dù vui lòng hay miễn cưỡng, được biết rằng đây là một lữ đoàn bị phản bội và bao vây ở biên giới Maroc, lữ đoàn này ai nấy cũng đã tưởng bị tiêu diệt nhưng vì đã nhờ được hai đại đội phái đi trinh sát cứu thoát một cách thần kỳ. Đại tá Sylva vốn đã từng chỉ huy các đại đội này. Bản thân cũng bị bao vây bởi một vùng nổi dậy, ông đã thoát ra bằng một mũi đột kích kỳ diệu, và phóng ngựa ba ngày xuyên qua những đám quân địch dày đặc, không hề một lần tra gươm vào vỏ, vào chiều ngày thứ ba ông oai hùng xuất hiện phía sau quân Maroc đang nắm chặt phần thắng, và biến cuộc chiến thắng ấy thành chiến bại. Sau đó, mang theo bao nhiêu vết thương đến mức bộ áo nẹp xanh da trời nhuốm đỏ màu máu, ông đã dẫn đội kỵ binh chiến thắng về đến các lều trại Pháp, kêu to: “Dừng lại!” và ngã xuống tắt thở.
Fierce, nghệ sĩ, ngưỡng mộ cử chỉ này cùng là cảnh tượng huy hoàng sặc sỡ các đại đội quân phục xanh đỏ xông thẳng mở đường máu giữa đám áo choàng nâu. Rồi anh mỉm cười thương hại khi nghĩ đến cái điên rồ mọi sự. Còn lại cái gì nào? Những vợ góa, con côi, được dán nhãn hiệu một cách hoa mĩ: gia đình anh hùng, - thế rồi tha hồ chết đói giữa sự ngưỡng mộ chung. Anh hình dung ra cô bé Sylva: một cô gái gầy gò da bánh mật với khuôn mặt nhìn nghiêng đầy góc cạnh, vẻ kích động, sướt mướt, ngu đần đến tột bậc – kiểu gái già. Ông đô đốc, mắt nhìn xa xăm, mơ về những sự tích anh hùng; còn anh chàng sĩ quan tùy tùng thì nhún vai lẩm bẩm: “Những con người tội nghiệp – và con bé tội nghiệp!”
Lúc bấy giờ đúng mười một giờ, thủy thủ đài chỉ huy báo tin ông toàn quyền sắp đến, và viên sĩ quan trực ban gọi toán lính gác đến xếp hàng cạnh cửa tàu. Fierce leo xuống thang để giúp đỡ phụ nữ. Trong chiếc canô đang tới gần, những tấm bảng đồng bóng nhoáng phản chiếu ánh mặt trời, và không thể nom thấy gì giữa cái nhấp nha nhấp nhánh kia.
Ca nô áp mạn cửa tàu. Fierce trông thấy mái đầu bạc và gương mặt loắt choắt của ông toàn quyền, mái đầu hoa râm nghiêm nghị của ông Abel, và ba chiếc dù màu hồng, hoa cà và xanh lam. Chiếc dù hoa cà ngả xuống; Fierce đỡ cánh tay bà Abel, bà nhảy lẹ làng lên các bậc đầu tiên: anh nom thấy bà như thường lệ, chẳng xinh đẹp tí nào nhưng tươi cười vẻ đôn hậu, nom dễ thương.
Cô Abel - dù màu hồng - bước lên tiếp. Cô vẫn giữ ánh mắt nhìn bí ẩn của nhân sư. Cô cầm tay anh và dựa lên rất ít. Những ngón tay thon mát không vịn chặt vào. Fierce ngưỡng mộ cái cổ tay thanh mảnh tròn trịa.
Cuối cùng chiếc dù xanh để lộ khuôn mặt cô Sylva.
Fierce ngạc nhiên, vì cô tuyệt nhiên không hề giống bức chân dung anh đã vẽ phác về cô.
Cô Sylva không hề gầy gò, da không nâu, cũng chẳng có vẻ bí ẩn quyến rũ, mà có cặp mắt màu xanh người ta chú ý thấy đầu tiên, vì mắt cô rất to và nhìn rất thẳng.
Cô nhảy lên bậc mà không đụng vào bàn tay chìa đón; cô nhảy một cách táo bạo; Fierce thấy dáng cô mềm mại và khỏe mạnh, tuy mảnh mai. Anh bước lên sau và khi lên đến boong anh đưa cánh tay dìu cô. Kèn thổi bài chào vị toàn quyền. Cô đứng dừng lại ngước mắt nhìn phù hiệu con tàu; Fierce nghe cô lẩm bẩm đọc cái khẩu hiệu: “Không sợ hãi và không thể chê trách”
Anh nhìn cô khi hai người sóng bước; cô có nước da sáng dịu, vầng trán trong trẻo, miệng kiêu kỳ ranh mãnh - và trùm lên tất cả là một nét quyến rũ tràn đầy vẻ thanh xuân, duyên dáng và trung thực. Anh nhận ra tức thì cô là tuyệt vời và quên khuấy cô Abel. Tuy nhiên lúc thấy hai cô ngồi cạnh nhau trong phòng khách phía đuôi tàu, anh phải thú nhận là bức tượng nhân sư bạch ngọc rõ ràng hơn hẳn bởi vẻ đẹp đều đặn và nét bí ẩn của cặp mắt sâu xa. Nhưng trong thâm tâm anh cảm thấy bực bội - như chịu một thất bại cá nhân - và sau đó mỉm cười thoáng vẻ tự hào khi nhận ra rằng, tuy không đẹp bằng, song Sylva vẫn xinh hơn, vì sinh động hơn, nữ tính hơn và ít pho tượng hơn.
Tại bàn tiệc hai người ngồi cạnh nhau. Phòng ăn của đô đốc thông thoáng nhờ hai cửa tàu sát góc dùng làm lỗ châu mai cho đại bác chặn hậu; những khẩu đại bác này hơi vướng víu một tẹo; nhưng là những nét độc đáo dưới mắt các bà và Sylva đang ngắm nghía chúng; Fierce chiều lòng cung cấp vài điều giảng giải thú vị, thế là hai người hết ngỡ ngàng. Cô Sylva vốn tò mò và không giấu sự hiếu kỳ; các bức rèm bằng vải sợi amian, bộ bát đĩa gia đình in huy hiệu công tước, các vách ngăn kiểu Nhật Bản với chùm phong lan lần lượt gợi những câu hỏi mà Fierce cho là ngây thơ lại được thốt ra từ cái miệng không được quyến rũ lắm. Nhưng trái lại Fierce thích thú trả lời, và một cuộc trò chuyện bắt đầu, liền sau đó rất sôi nổi. Niềm vui thích hợp với cô Sylva, nụ cười của cô xinh đẹp nhất trên đời. Fierce tìm mọi dịp gợi nên cái tiếng cười ấy, và cô gái nhận thấy anh bạn trai thật đáng yêu.
Hai người chuyện trò vui vẻ. Fierce chẳng hiểu gì về các cô gái; vả chăng anh không tin có sự tồn tại của họ. Những sinh linh được mệnh danh như thế mà anh từng gặp đó đây, trong các chuyến đi hoặc lúc dừng chân ở Pháp, và trong bốn phòng khách ở Paris nơi thỉnh thoảng anh vẫn xuất hiện, đã để lại trong anh những kỷ niệm không hay; họ chỉ là những bản phác thảo phụ nữ, lại còn sa đọa và lừa dối hơn cả phụ nữ. Anh ngắm nhìn ở họ cái vẻ xinh xẻo như đồ mỹ nghệ tinh tế, màu mè và chưa hoàn bị; và anh nhìn họ thoạt đầu thì thích thú, rồi ghét bỏ họ khi họ mở miệng. Cô Sylva, ngược lại với tất cả cái đám trinh nữ bị khinh rẻ kia, dưới mắt anh có vẻ trung thực hồn nhiên, tóm lại là thiếu nữ, trong nghĩa cổ xưa của nó. Anh lấy làm ngạc nhiên và thỏa mãn, tuy lúc đầu có phần hoài nghi về cái vẻ hồn nhiên và trung thực nọ.
- Tôi thật may mắn thưa ông, cô Sylva vui vẻ nói: cho đến sáng nay, tôi cứ lo sẽ xẩy ra cái gì trở ngại và bữa tiệc này sẽ vẫn nằm trong mộng tưởng mà thôi.
- Cảm ơn cô về chuyện bữa tiệc, Fierce vừa nói vừa cười. Thế là, thưa cô, cô cũng thích chui mình vào cái lồng của chúng tôi đấy nhỉ?
- Cái lồng của các ông thật tuyệt vời… Phòng ăn này đẹp ơi là đẹp, vừa đơn sơ vừa rất thích hợp cho một nhân vật quan trọng đến vậy.
- Và chúng ta lại nhìn ra biển!
- Ông nói đùa, thế là rất không tốt. Thế nhưng quả thật, tôi vốn ước ao đến thăm chiếc Bayrad nổi tiếng này. Cả Sài Gòn chỉ nói về nó, báo chí toàn viết về các ông… Thế rồi một bữa tiệc kiểu quân nhân, quả thực là một ngày hội đối với một cô bé gái.
- Bé thế kia ư?
- Tôi vẫn đang chơi búp bê mà… Suỵt! chớ nên nói ra. Nhưng tôi yêu biết bao con tàu, và các thủy thủ, và mọi thứ…
Fierce ném một cái cười mỉm.
- Cô yêu các thủy thủ hả? Vì sao cô yêu thủy thủ?
- Vì là… Cô Sylva ngừng trong giây loát… - vì rằng họ không phải là người như các ông đàn ông khác.
- A… Rất hay.
- Không đâu… Họ không giống những người đàn ông như đám đàn ông bây giờ… Cả binh sĩ của ta cũng chẳng giống… Họ chu du khắp thế giới, họ đi đây đi đó và chiến đấu bất cứ đâu, chẳng quan tâm đấy là đất nước nào, quân địch nào… Và họ chẳng hề tính toán đến tiền bạc, vì nếu muốn thì họ đã có thể kiếm được những món tài sản lớn; nhưng họ chẳng muốn. Họ cứ thích vẫn là binh sĩ hoặc thủy thủ. Đó đúng là những con người thủa xưa…
Fierce ngẫm nghĩ…
- Và thế đấy, cô Sylva kết luận, vì sao tôi không hài lòng được có mặt ở đây, sau khi rất sợ là không tới được.
Fierce ra khỏi cơn mơ mộng.
- “Rất” sợ? Nói thật tình là chúng tôi đã suýt không được đón tiếp cô, có phải không?
- Tôi sẽ không đến nếu mẹ tôi ốm…
- Tôi nghĩ mẹ cô tuổi rất cao?
- Tuổi chưa cao lắm, nhưng yếu, nhất là vào lúc thời tiết nóng nực này. Bà cảm thấy rất trống trải khi tôi không ở cạnh bà, chắc ông đã biết bà bị mù từ ba năm nay?
- Tôi có biết. Cuộc sống với cô chắc không vui vẻ lắm, thưa cô.
- Vui chứ! Bao giờ ông gặp mẹ tôi – ông sẽ gặp – bà cụ là một bạn cũ của ông d’ Orvilliers – ông sẽ thấy là không thể buồn bên cạnh bà. Bà rất tốt và luôn luôn tươi cười, rất tuyệt vời, rất hoàn hảo…
- Cô yêu bà chứ?
- Ồ, rất yêu. Tôi lại còn nghĩ không thể yêu một người nào khác bằng như yêu mẹ tôi… Vả chăng chắc ông cũng nhận điều này là khá tự nhiên. Nhưng nếu như không phải con bà đẻ ra thì chắc chắn tôi cũng sẽ yêu bà như vậy và sẽ có niềm hạnh phúc bằng vậy được sống cạnh bà…
- Tôi không hề biết đô đốc vốn là bạn của mẹ cô.
- Hai người biết nhau từ lâu lắm, rồi không có dịp gặp nhau sau khi đã hết sức thân thiết. Tất thảy mọi điều này xẩy ra trước ngày tôi ra đời; về phần tôi chỉ mới thấy ông d’ Orvilliers hồi nãy là lần đầu… Nhưng tôi đã mến ông từ lâu: mẹ tôi đã bảo lần nói với tôi về ông. Tôi biết ông rất tốt, và nhân cách ông rất đẹp.
Fierce liếc nhìn ông đô đốc, ánh mắt ông nom hồn hậu tương phản với vẻ mặt nghiêm nghị khắc khổ.
- Cũng như cô vừa nói ấy, đó là một con người thời xưa.
- Vâng… thời xưa hay hơn thời bây giờ.
- Có thể, Fierce nói. Thế là, thưa cô, cô sống ở Sài Gòn hầu như là người hộ lý và cô vui vẻ với cuộc sống của mình. Cô không buồn bao giờ chứ?
- Không bao giờ! Tôi rất là bận rộn, thử nghĩ mà xem!
- Đúng vậy, cô có con búp bê của cô…
- Ông có im không đấy! Ông giữ kín các bí mật Quốc gia mà người ta trao cho ông như vậy đấy hả! Khéo mà tôi bị mất danh dự vì ông: ông có biết rằng sang tháng tôi đầy hai mươi tuổi? Hãy để “con gái tôi” yên. Tôi là mẹ chỉ để đùa thôi, còn tôi thật sự là chủ nhà đấy.
- Đúng thế.
- Và là chủ nhà giỏi giang đấy, xin ông tin như vậy. Trông nom nhà cửa, đọc sách, dạo chơi, đó là toàn bộ đời sống chúng tôi, rất đầy đặn và tuyệt nhiên không hề buồn chán… Thích biết bao ngồi bên ngọn lửa, cả khi lửa, như ở đây, là một huyền thoại.
- Đó là một hạnh phúc, Fierce, mà dân thủy thủ không phải bao giờ cũng biết đánh giá đúng. Nhưng tôi vẫn có thể hình dung được bằng tưởng tượng. Cô chẳng hề thích giao du?
- Có chứ, ông cứ tưởng! Ngồi bên ngọn lửa không hề ngăn cản sự giao du: Tôi rất thích các cuộc khiêu vũ, các dạ hội, các cuộc đi chơi, các bộ trang phục, nhất là quân phục. Và tôi khiêu vũ như điên. Thưa ông chúng ta sẽ cùng nhảy tám hôm nữa ở phủ toàn quyền. Ông giám hộ của tôi sẽ tổ chức tiếp tân đón mừng Bayrad, và tôi sẽ dành cho ông dòng đầu trong sổ tay của tôi.
- Tóm lại thế này nhé, và xin ngàn lần cảm ơn. Thưa cô, có có biết không cô là một cô gái trẻ rất chiết trung? Gia đình, cuộc sống khá giả, các bộ quân phục, các thủy thủ - gì nữa nhỉ? Cô yêu thích tất cả, không phân biệt.
- Phải thế thôi, hỡi ôi! Suy cho cùng thì cuộc sống chẳng có gì hay ho đến vậy… Phải làm cho nó vui lên chút ít… À này, tôi nghĩ đến chiếc tàu thủy đã đưa mẹ con tôi từ Pháp sang đây: ba mươi ngày lênh đênh trên sông nước, lúc đầu tôi cứ tưởng là dài dằng dặc và đơn điệu không tưởng tượng được; nhưng chuyến tàu đầy những con người thật dễ thương, và chúng tôi liền tổ chức các trò chơi, các buổi đọc sách, các bữa ăn nhẹ; chiều tối chúng tôi khiêu vũ trên boong thượng; sau bữa ăn trưa chúng tôi tập một vở hài kịch; cuối cùng chuyến đi biển đã diễn ra như trong cơn mơ. Cuộc sống cũng giống y thế thôi; một chuyến đáp tàu thủy; phải làm cho vui chuyến đi.
- Cô là nhà triết học hả?
- Hoàn toàn không! Tôi rất sợ những cái trò lý luận chẻ sợi tóc làm tư. Và tôi cho thật ngớ ngẩn và phi lý cứ cãi vã không thôi chuyện linh hồn, chuyện vĩnh cửu, chuyện cõi vô cùng vô tận mà chẳng đi đến cái gì thuộc lẽ thường… Đây là đầu đề tôi luôn luôn tranh cãi với Marthe.
- Marthe?
- Marthe Abel đấy. Ông không biết tên cô ấy là Marthe hả? À này, người ta lại còn hay gán cho chị ấy một tên đùa gì đấy.
- Cô nói đi.
- Cô là một người bạn thân kín đáo…
- Bạn thôi, dù thân hay sơ nhưng luôn luôn kín đáo.
- Ít ra cũng là bạn thân chứ?
- Bạn tôi. Tôi không có bạn gái trẻ. Mấy cô gái khiếp sợ tôi: hình như tôi là một đứa ngổ ngáo, vô giáo dục…
- Mà lại thế này à, thưa bà?
- Cam đoan với ông thế. Chả thấy ghi trên trán tôi đấy là gì. Tóm lại, tôi là con trọc trụi, con khốn nạn. Marthe chịu đựng tôi vừa phải, nhưng chúng tôi không cùng chung ý tưởng…
- Thí dụ…
- Này nhé, bạn ấy sính triết lý. Bạn ấy lý luận, biện luận, đọc những pho sách Đức đồ sộ, đầy những lý thuyết trên trời dưới biển; bạn ấy không đi lễ, bạn ấy vô thần và tất cả mọi điều ấy khiến tôi bực mình ghê gớm…
Fierce, vẻ tò mò, liếc nhìn sang cô gái kỳ quặc nom giống như nhân sư. Cô Abel nãy giờ không hề mở miệng, cô lắng nghe và nhìn. Cặp mắt đen, sâu xa như mặt hồ, nom giống như những mảnh vải bạt có ánh xanh; thật không thể thăm dò cặp mắt kia và khám phá ra ý nghĩ nào đang xao động dưới cái làn nước im lìm. Cô Sylva nói tiếp:
- Tôi thì tôi không đọc Schopenhauer và tôi đi xưng tội.
Fierce quay lại nhìn cô bé trẻ xinh đẹp có mái tóc hoe vàng và cặp mắt màu thời gian, vẫn còn chơi búp bê.
- Sách giáo lý với cô là đủ hay sao?
- Với tôi là đủ hoàn toàn.
- Hẳn cô rất sùng đạo?
- Không phải là sùng đạo. Tôi không sống suốt ngày suốt tháng trong nhà thờ. Nhưng tôi là con chiên ngoan đạo, rất chăm đi lễ.
Fierce không nhún vai. Cô Sylva tiếp:
- Chắc hẳn ông là người theo đạo, thưa ông: tất cả các thủy thủ đều thế, phải điên khùng lắm mới phủ nhận Chúa… Nhưng đặc biệt tôi cho một phụ nữ mà vô thần là một thứ quái vật. Chẳng đẹp đẽ gì, cái chủ nghĩa vô thần; tôi nghĩ cái thứ chủ nghĩa này là dành cho mấy ông lão già, mấy anh thanh niên chưa vợ hay cằn nhằn, gàn dở, ngốc nghếch, hói đầu và đi đứng xiêu vẹo…
- Rất đúng, Fierce nói mà không nhịn được cười. Nhưng đó là một lý thuyết cũ mà cô vừa mới nhắc lại đấy cô ạ. Cô đã đọc Musset chưa?
- Có đọc một ít. Mẹ tôi xưa kia có găm lại nhiều trang, và từ ấy tôi không hề đọc các trang này. Tôi chờ đến khi lấy chồng.
- Việc này sẽ đến nhanh thôi.
- Tôi chẳng thích, xin ông tin như vậy, giờ đây tôi đang rất hạnh phúc, và chắc tôi không bao giờ hạnh phúc hơn…
Hai người trò chuyện thân mật, nhìn nhau và mỉm cười với nhau, không hề có ẩn ý. Họ bắt đầu thân mật, cô Sylva líu lo tâm sự, Fierce lắng nghe và không dám cắt lời. Cô Sylva coi người đối thoại là một bạn cũ, như đồng hương về chủng tộc và tâm hồn, hầu như người anh cả mà người ta biết là ý nghĩ, đức tin, lý tưởng giống hệt như đức tin của mình. Fierce suy đoán cái ảo tưởng cả tin của cô gái, và trong thâm tâm anh xấu hổ vì đã không làm tiêu tan đi mối ảo tưởng kia. Đôi khi, giữa hai câu hỏi, anh tự trách mình là sự im lặng này giống như một điều dối trá. Anh những muốn thẳng thắn – hoàn toàn thẳng thắn – nói “Tôi không phải người như cô tưởng đâu. Tôi chẳng có gì trong tim cũng như trong đầu để cô có thể yêu mến hoặc thông cảm. Và nếu như cô đoán thấy đáy lòng tôi, cô sẽ lấy làm kinh hãi. Tôi là một kẻ chán chường, hoài nghi và ngoại đạo, tôi chẳng tin cái thiện cũng chẳng tin cái ác, chẳng tin Chúa chẳng tin Quỷ sứ. Càng đi khắp mọi nơi, tôi càng dứt bỏ mọi thứ. Cô chồng chất lên con người tôi, do chiếu cố đến bộ quân phục tôi khoác, một lô một lốc những đức tính cổ lỗ không phải của tôi và tôn thờ cay đắng về cái chân lý trần trụi, sẽ khiến cô kinh hãi như một điều báng bổ. Chẳng có gì chung giữa cô và tôi cả.”
Nhưng anh lặng thinh chẳng nói ra mọi điều vì không đủ can đảm, - và đây là lần thứ ba người đầu bếp Nhật Bản mang cất đĩa thức ăn còn đầy của anh. Từ phía đầu bàn, đô đốc mỉm cười hướng về anh sĩ quan tùy tùng.
- Thưa ngài toàn quyền thân mến, tôi xin gửi tới ngài một lời khiếu nại chính thức: anh chàng Fierce của tôi quên cả ăn, để dễ bề tán tỉnh cô cháu giám hộ của ngài.
- Anh nhầm rồi, ông toàn quyền nói. Người ta chẳng ai dại dột đi tán tỉnh cô Sélysette, cô ta không phải là một thiếu nữ; đó là một anh con trai, và tôi thách thức cả Don Juan xem anh này có biết là cô ta mặc váy hay không; vả chẳng, ông de Fierce đang trò chuyện với cái cô bé rất máy móc hay chế giễu ghê gớm và tôi khuyên anh ta nên tránh xa thì hơn.
Cô Sylva cười ré tỏ ý phản kháng. Fierce thấy mặt cô ửng hồng lên: dòng máu nhậy cảm đỏ tươi hiện rõ dưới làn da quá mịn; anh nhớ lại ngày xưa lúc còn bé ti, anh hình dung các bà tiên là như vậy, trong những lâu đài bằng ngọc…
- Cô tên Sélysette hả? Tên đẹp và hơi lạ tai.
- Quá lạ tai! Nhưng cha tôi vốn thích cái tên này, và tuy có ba bốn tên để chọn, tôi bao giờ cũng mang cái tên mà cha đã đặt cho tôi.
Fierce lại bắt đầu mơ mộng – và anh không hề nghĩ tới cái điều đáng ngạc nhiên về niềm thú thích ngược đời mình đang nếm hưởng cạnh cô bé này, cô bé với những ý nghĩ nguyên thủy – anh, một kẻ văn minh, bạn của Mévil và Torral, bạn của Rochet.
Mọi người đã rời khỏi bàn ăn. Trong phòng khách, Fierce bỏ rơi cô bạn ngồi cạnh để mời khách uống trà – một thứ chè xanh của Tứ Xuyên, rót trong những chiếc chén không quai. Ông toàn quyền, vốn là tay hùng biện còn nhớ đến thời Nghị viện, thuyết dông dài về các phong tục của thuộc địa – phong tục bản xứ và phong tục du nhập.
- “Người Trung Quốc thì hay ăn cắp, người Nhật Bản hay giết người. Người An Nam thì cả hai.” Nói điều này rồi, tôi lớn tiếng công nhận là ba chủng tộc có những đức tính mà châu Âu không hề biết, và có những nền văn minh tiến bộ hơn các nền văn minh phương Tây chúng ta. Vậy chúng ta, những người làm thầy họ mà đáng lẽ họ phải làm thầy của chúng ta mới phải, chí ít ra nên hơn họ bằng nền đạo lý xã hội của ta. Chúng ta, những kẻ thực dân, lẽ ra không là kẻ giết người cũng không là kẻ ăn cắp. Nhưng điều này là một điều không tưởng.
Lịch sự, ông đô đốc phác ra một lời phản đối. Ông toàn quyền nhấn mạnh:
- Một điều không tưởng. Tôi không lặp lại với ngài, thưa ngài đô đốc thân mến, những lời lẽ ngu ngốc mang danh nhân đạo đã bao lần láy đi láy lại về các cuộc xâm chiếm thuộc địa. Tôi không lên án các thuộc địa; tôi lên án những người thực dân – những người thực dân Pháp chúng ta mà quả thực tư cách quá kém.
- Tại sao? Một người nào đó hỏi.
- Vì rằng, theo cách nhìn đồng nhất của nhân dân Pháp, các thuộc địa được tiếng là phương sách cuối cùng và nơi trú ẩn tột cùng của những kẻ mạt hạng thuộc thất thảy mọi giai tầng và những tên tái phạm thuộc tất thảy mọi tòa án. Trên cơ sở đó, mẫu quốc giữ riêng cho mình, một cách cẩn trọng, tất cả những thành viên mới, có giá trị và nhất thiết chỉ xuất khẩu thứ cặn bã của dân số. Chúng ta cho trú ngụ ở đây những tên bất lương và vô tích sự, những tên ăn chực và móc túi. Những kẻ đi khai khẩn ở Đông Dương vốn không biết cày bừa ở Pháp; những kẻ buôn bán bịp bợm vốn phá sản; những kẻ đang chỉ huy các ông quan nhà nho sở tại vốn là học trò hỏng thi; và những kẻ đang ngồi xét xử và tuyên án vốn đôi khi đã từng bị xét xử và ngồi tù. Trong tình trạng như vậy, không cần lấy làm lạ là trên đất nước này người phương Tây thấp kém về mặt đạo lý hơn người châu Á, như anh ta vốn đã thấp kém so với tất cả các nước về mặt trí tuệ.
Ông phó toàn quyền Abel đến lượt mình cất tiếng, giọng châm biếm và nhẹ nhàng tương phản với gương mặt cứng rắn của vị quan tòa không biết cười.
- Thưa ngài Toàn quyền, điều tôi sắp nói có cơ nguy vạch tội môn phái của tôi – cái môn phái thuộc địa – nhưng tôi muốn xác nhận lời của ngài bằng một câu chuyện. Ngài biết Portalière chứ ạ?
- Cái ông Portalière khâm sứ Bắc Kỳ phải không?
- Chính ông ta đấy. Ngài có biết chuyện ông ta không?
- Tôi biết đó là một tay kém cỏi. Ông Duybois cựu bộ trưởng năm ngoái đã tặng chúng tôi món quà đáng buồn đó.
- Vâng. Và đây là các âm mưu bên trong; tôi không từng biết một chuyện nào tiêu biểu hơn về vấn đề tuyển viên chức cho thuộc địa. Thời xưa, Portalière làm báo; anh ta tường thuật các chuyện chó chết trong một tờ báo sống lay lắt bằng những thủ đoạn dọa phát giác lên báo.
- Rất hay.
- Anh ta như kẻ chết đói.
- Đáng tiếc là anh ta không chết.
- Chả là Chúa chẳng muốn cái chết của kẻ phạm tội. Portalière lâm vào cùng kế phải xoay sở, may sao gặp bà Dupont rất nổi danh; vợ ông bộ trưởng bộ Tư pháp. Ngài biết bà Dupont chứ?
- Đó là một…
- Vậy là ngài có biết. Portalière chẳng ngại làm những trò bậy bạ, cũng chẳng hề thiếu tự phụ.
- ... Và do những đức tính ấy, anh ta được phụ nữ yêu thích. Có thể đoán được đoạn sau. Một sáng nọ, anh ta được đặt ngồi chễm chệ vào một chức vụ nhàn rỗi đáng ao ước, ở Paris, tất nhiên. Việc này diễn ra suôn sẻ trong mấy tháng. Rồi và Dupont thay tay chân trong tòa báo, và cái chức vụ kia thay người phụ trách. Portalière, rơi tõm xuống vũng bùn ti tiện, dùng những lời bội bạc để than phiền mà hơi có ý hăm dọa vậy.
Anh ta nhớ đến cái thời làm báo cũ đấy.
- Hẳn thế. Ông Dupont chồng bà này, vốn ngại chuyện rùm beng, quyết định tống đi xa một cách ổn thỏa kẻ ông ta từng che chở. Chả là dinh thự Fiere không xa quảng trường Vedôme là mấy, Dupont đến gặp Dubois và nói thế này: Tôi phải xếp chỗ cho một thằng ngớ ngẩn. Ông có nơi nào thích hợp không? Xa thì càng hay. Dubois đáp: được thôi. Ông cứ đưa cái thằng ngu xuẩn đến đây. Người ta đưa Portalière đến, anh này nêu yêu sách này nọ. Dobois hỏi: “Anh biết gì nào? – Mỗi thứ một tí. – có nghĩa là chẳng biết gì cả. Tú tài hả? – Không – Tuyệt. Tôi xếp cho anh làm tham biện, tham biện ngành dân chính Đông Dương. Anh đồng ý chứ? – Chẳng biết, Portalière nói giọng bất cần. Tham biện! Thôi được, để tỏ lòng ân nghĩa với ông Dupont. – Anh có muốn kiếm sáu nghìn frăng ở một đất nước đẹp đẽ bình yên không? - Ở đâu? An Nam – An Nam bên châu Phi hả? – Đúng. – Sáu nghìn cũng tạm được... Khởi điểm sáu nghìn phải thế không? Tôi sẽ làm chức vụ gì? – Thủ tướng.
Gương mặt Portalière phút chốc rạng rỡ lên. Thủ tướng hả? Thế thì, tôi chấp nhận. Như kiểu Bismark chứ gì?”
Ông toàn quyền chẳng thèm bật cười.
- Hiển nhiên là như vậy! Bọn rắp ranh sang làm việc ở thuộc địa là thế đấy; thối nát, lại càng dốt đặc cán mai; thế rồi sẵn sàng trong mọi tình huống nhảy sổ ra đóng vai Nã Phá Luân. Những kẻ này đặt chân đến Sài Gòn vốn đã hư hỏng, thường có tì vết; và cái ảnh hưởng của một môi trường khác thường cộng với khí hậu làm suy sút sức khỏe, hai cái đó bổ sung và kết thúc họ. Họ nhanh chóng coi thường mọi nguyên tắc của chúng ta đồng thời nhấn mạnh thêm mọi thành kiến chúng ta có sẵn; và chẳng bao lâu, ngược lại với những con người thời 1815, họ đã quên tất cả, mà không hề học hỏi được gì. Thật thứ đồ rác rưởi giòi bọ. Và có lẽ như thế lại mà hay...
- Một điều nghịch lý chăng?
- Không đâu! Trên những mảnh đất thuộc địa vừa được xáo xới cày bừa do dấu chân dẫm của tất cả các giống nòi từng va chạm nhau nơi đó, có lẽ tốt nhất là cái thứ phân làm bằng loại con người rác rưởi kia được ném xuống, để từ sự phân hủy thối tha của những ý tưởng cổ hủ và những đạo lý già cỗi, mọc lên ngôi nhà của những nền văn minh tương lai.
Ở một góc phòng khách, Fierce, bằng một tàu cọ khảm đồi mồi, quạt cho cô Sylva đang uống trà. Nghe đến chữ văn minh, anh ngẩng đầu. Ông toàn quyền kết thúc:
- Tôi có thoáng thấy, giữa cái đám tiện dân thuộc địa đáng khinh này, một vài con người cao quý. Với những con người này, môi trường và khí hậu đã có tác dụng tốt, và họ trở thành như những kẻ báo hiệu cho các nền văn minh tương lai. Họ sống bên rìa cuộc sống quá ư quy ước của chúng ta; họ từ bỏ tất thảy điều cuồng tín của tất thảy mọi tôn giáo; và nếu họ chấp nhận tuân theo hình luật của chúng ta, tôi nghĩ rằng chỉ do tinh thần thỏa hiệp. Sự nẩy nở những con người như vậy chỉ có thể xẩy ra tại cái xứ Đông Dương vừa rất cổ vừa rất mới này: phải có môi trường của những nền triết học Ấn Độ, Trung Hoa và Mã Lai chậm rãi chà xát nhau; phải có sự thối ruỗng của một xã hội nơi nền đạo lý châu Âu đã phá sản; phải có cái ẩm ướt oi nồng của Sài Gòn, nơi mọi cái tan chảy dưới mặt trời và tiêu tán đi những nghị lực, tín ngưỡng và cái ý thức thiện ác! Những con người đi trước thời đại ấy là những con người văn minh. Còn chúng ta, những kẻ man rợ!
Giọng nhẹ nhàng của ông phó toàn quyền kết luận:
- Càng hay cho chúng ta.
Bà Abel, vốn hiểu biết kiểu sinh hoạt Sài Gòn, và chẳng hề ngu ngơ tốt bụng, đến lượt mình lẩm bẩm:
- Vâng, dễ thường đi chậm lại, hoặc giả đi trước thời đại cũng đều chẳng hay.
Ở góc trong cùng phòng khác là một tấm biển bằng đồng, đóng trên thành tàu. Đô đốc d’ Orvilliers đến tựa lên.
- Tôi chẳng hiểu gì sất cả. Thế nhưng, đây là một con người man rợ mà tôi thích hơn cả các con người văn minh của quý vị.
Ông đọc lời ghi trên tấm biển:
TƯỞNG NIỆM
PHÓ ĐÔ ĐỐC COURBET
TỔNG CHI HUY HẠM ĐỘI VIỄN ĐÔNG
Ở ĐÂY ĐƯỢC QUÀN DI HÀI CỦA NGƯỜI
THỦY THỦ LỖI LẠC
ĐỂ ĐƯỢC ĐƯA TRẢ VỀ NƯỚC PHÁP TANG TÓC
Thuận An, Sơn Tây, Fouchéou, Kelung, Shêipoo,
Pescadores, 1883 – 1884 – 1885
Cô Sylva đứng dậy đến gần tấm mộ chí. Cô thầm đọc và cất tiếng hỏi với một vẻ trầm lặng thầm kính – kiểu trầm lặng những người phụ nữ bắt đầu chịu lễ ban thánh thể trước bàn thờ Chúa:
- Ông ấy chết ở đây à?
- Không, ông D’ Orvilliers đáp. Ông chết trên một chiếc tàu Bayard khác, nay đã loại. Nhưng chẳng quan trọng. Những người già như bác tin ở hồn mà; và bác tin chắc rằng trong chiếc vỏ tàu mới này vẫn còn phảng phất linh hồn chiếc tàu cũ, và cũng như vậy, biết đâu đấy, linh hồn ông đô đốc xưa...
- Một vị đô đốc rất vĩ đại, ông toàn quyền lễ phép nói.
- Vâng; và một đô đốc như chúng ta chẳng còn được gặp nữa; một đô đốc thời xưa, anh em bà con với các thuyền trưởng hải tặc từng tung hoành trên biển – tóm lại là một dân man rợ; và tuyệt nhiên chẳng phải một người lính thời nay, tuyệt nhiên không phải một dân văn minh – ngược lại…
- Tùy nhận thức từng người thôi! Thưa ngài toàn quyền thân mến, ngài có thể coi trọng những con người ngày mai; tôi thì tôi coi trọng tổ tiên họ. Do tuổi tác của tôi vậy. Không thể chối cãi rằng các vị tổ tiên kia không phải những con người tinh tế; họ nguyên thủy; họ giữ nguyên các bản năng thô sơ, các tính tình hung dữ cũng như trung thực của đám người này; họ không tế nhị, không khoan dung; họ không thông cảm và không chịu đựng sự chống đối nào, và kiêu ngạo một cách hồn nhiên, họ khinh thường tất cả thiên hạ. Lý tưởng của họ là chiến đấu; và họ không coi cái gì tốt đẹp hơn là làm người lính…
- Thực tế, họ đã từng là những người lính đẹp. Họ không giống người lính bây giờ; họ chẳng phải là nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ. Nhưng trên chiến trường, kẻ địch sợ họ. Hầu như tất cả họ là những tên võ biền tồi tệ, và họ ngang ngược chống đối mọi thể chế và luật pháp. Nhưng khi cần, cũng nhân danh cái luật pháp bị chế giễu kia, họ biết cách chết.
- Chúng ta không còn có những con người như vậy; thế hệ ấy chết rồi. Điều đó đáng tiếc hay không, tùy từng người nghĩ. Đó là một thế hệ man rợ, đi ngược lại với thế giới hiện đại. Nhưng đó là một thế hệ ngoạn mục và vinh quang; đó là thế hệ những người lính. Bây giờ không còn những người lính ấy nữa. Tôi từng biết những người cuối cùng: các ông Courbet, Sylva…”
Ông D’ Orvilliers đột nhiên im lặng; vì cô Sylva đang ở cạnh ông: trong lúc say sưa nói ông đã quên bẵng cô. Cô Sylva vẫn giữ vẻ thản nhiên tuy gương mặt tái đi. Fierce nãy giờ nhìn cô không rời, chỉ nhác thấy khuôn miệng kiêu kỳ hơi run rẩy và những ngón tay nóng nảy quắp chặt chiếc khăn mùi xoa.
Ông toàn quyền, hoài nghi và lịch sự, bác bẻ lại:
- Chẳng còn những người lính ấy nữa ư? Đô đốc thân mến, ngài hãy nghĩ rằng ngày nay hơn bao giờ hết lẽ phải không hề đồng nhất với sức mạnh, xuyên qua các nghị viện và số đông. Vậy thì, hơn bao giờ hết, những người lính là rất cần thiết. Tôi công nhận với ngài là họ không còn giống những người lính thời xưa, họ là những nhà văn, những nghệ sĩ, những nhà triết lý, nếu như ngài muốn nghĩ thế. Nhưng ngài có cho rằng vì vậy mà họ không phải là những người lính tốt không?
Ông D’ Orvilliers bĩu môi dưới bộ râu mép rậm, lẩm bẩm:
- Còn có vấn đề phong cách nữa chứ.
Rồi ông nói chữa, với giọng vui vui đượm u sầu:
- Thực ra thì ngài có lý. Phải lạc quan chứ. Mới lại các thế hệ mới chẳng phải đều đáng khinh…
Ông ta bước ba bước đến vịn vào vai Fierce.
- Và đây là chứng cứ. Xin hãy nhìn chú bé này, chú ra khỏi tay vú nuôi, chú làm thơ, soạn nhạc xô nát; đủ mọi tật xấu. Tuy nhiên chớ nên nhầm mà tin vào cái vẻ vờ ngây thơ kia. Tôi biết rõ rằng vào lúc thích hợp nào đấy, chú bé Fierce của tôi, không hề do dự, sẽ cho tôi bài học danh dự.
Fierce, điềm tĩnh và cam chịu, không nhúc nhích vì tôn trọng, anh nén một cái nhăn mặt mỉa mai. Không phải đến hôm nay anh mới tập được thói quen chịu đựng một cách bình thản những lời khen của vị chỉ huy hồn nhiên. Và tuy rằng các lời khen ngợi kia đè nặng lên tính tình trung thực của bản thân, anh vẫn cứ lặng lẽ bỏ qua cho chúng, do lòng thương hại đượm vẻ thân tình đối với người nói ra. Anh không hề bao giờ nghĩ tới việc nhấn mạnh cái thói cuồng tín kiểu trung cổ của ông già, dĩ nhiên là thế. Nhưng ích gì làm phiền lòng mọi người?
Thế nhưng khi nhìn lên anh gặp ánh mắt của Sélysette, Sylva chăm chăm nhìn mình, vẻ nồng nàn mến mộ. Cô Sylva coi như chuyện nghiêm túc cái bài hát ca ngợi kia. Ông de Fierce, với cô, bỗng dưng được tôn lên bậc anh hùng…
Và ông de Fierce, đột nhiên, không hiểu sao, đỏ mặt xấu hổ.
Một giờ rưỡi. Khách khứa ra về sớm, vì còn giấc ngủ trưa. Người ta mang dù đến. Cô Sylva, với một cử chỉ duyên dáng, vuốt lại món tóc xù lên do gió quạt kéo.
- Cô cần gương chứ? Fierce đề nghị.
Anh đi trước dẫn đường cho cô đến phòng mình, ngay gần đấy. Anh đưa cô ngồi trước gương lớn ở mặt chiếc tủ bọc nhung xám. Cô Sylva tỏ vẻ rất đỗi khâm phục.
- Phòng ông xinh ơi là xinh! Bao nhiêu đồ lụa là, mu xơ lin. Lại có mấy cuốn sách con bọc nhung! Dành cho các cô gái hả? tôi xem được không?
- Không được, Fierce vừa nói vừa cười.
- À ra thế! Để bao giờ tôi lấy chồng vậy. Phòng của ông là một thiên đường nhỏ. Thế nhưng…
- Nhưng sao?
- Nhìn lâu có phần hơi buồn tẻ, mấy cái rèm toàn mầu tối.
Fierce mỉm cười:
- Cô không thích những cái buồn tẻ, phải không thưa cô?
- Không thích lắm… và nhất là, tôi thấy có khối chuyện đáng buồn trong cuộc sống mà không cần phải bày đặt tô vẽ thêm. Thưa ông, nếu khôn ngoan, thì ông nên đưa tất cả cho thợ nhuộm, người ta sẽ trả lại cho ông màu thiên thanh.
- Màu của mắt cô.
- Nhầm rồi! Mắt tôi màu xanh lá cây.
Cô nhún vai, chẳng hề đỏng đảnh, và chìa bàn tay chưa mang găng.
- Xin chào ông, và rất cảm ơn.
Anh cầm lấy bàn tay, một bàn tay xinh xẻo và trung thực, cái nắm tay kiểu đàn ông chẳng hề ẻo lả hoặc lập lờ nước đôi. Và đột nhiên nẩy ý muốn anh cúi xuống bàn tay ấy và cố nâng nó lên gần môi mình.
Chẳng có gì ghê gớm lắm đâu, một nụ hôn trên ngón tay con gái.
Thế nhưng bằng một cái rụt tay kín đáo, cô Sylva từ chối – một sự từ chối lặng lẽ, nhưng minh bạch – Người ta không được đụng đến cô Sylva.
Ai biết được? Nụ hôn hụt hẫng ấy, ông de Fierce ạ, dễ thường cái hương vị không hề biết đến của nó sẽ còn quấy rối nhiều giấc ngủ đêm của ông