Những Kẻ Văn Minh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Trước tủ kính một hiệu kim hoàn thời trang, Fierce cúi nhìn.

Anh tìm chọn một hộp tư trang trong số các hộp để mở. Nhưng có nhiều thứ trong tủ quá; có bộn nhẫn và vòng tay; nhất là bộn đồ bằng bạc Trung Quốc mỏng dính lồi u làm ở Hồng Kông; trong mớ óng ánh cốc chén, đĩa và bình trà, Fierce không nom thấy cái anh cần.

Anh bước vào trong hiệu. Cô Fernande người Do Thái, nức tiếng ở Sài Gòn, ra đón và khẽ mỉm cười chào.

- Tôi muốn mua một vòng xuyến bằng vàng nạm ngọc xanh, mấy hôm rồi thấy có bày bán.

Cửa lại chợt mở, và dáng cao to, ông Malais hiện trong khung cửa. Đã hai ngày Fierce chưa gặp lại ông chủ ngân hàng – từ hôm chơi bài pô ke.

- À, ông cũng đến đây hả? Malais nói giọng thân tình. Một món quà cho Liseron hẳn…

Ông gọi cô chủ Do Thái giữa các hộp.

- Cô Fernade! Chiếc quạt tôi đâu? Tôi đoán là lần này có sẵn rồi chứ?

Ông quay về phía Fierce.

Một món quà của vợ tôi cho bà Abel. Ông xem hộ xem có hợp thẩm mỹ không?

Fierce cầm lấy chiếc quạt vẻ thán phục.

- Ối chà! Đẹp tuyệt! Ông thó mớ lông vũ này ở đâu ra vậy?

Nan quạt tết bằng lông cò và khảm xà cừ; một cành nho bằng vàng điểm những chùm ngọc trai màu huyền.

- Ông có biết không? Fierce cười bảo. Cành nho này hơi lộ liễu: nó nói chuyện đút lót[1]

- Thế còn cái vòng xuyến kia, nó nói cái gì?

Chiếc xuyến là một cái vòng to kềnh, rất nặng, trang trí bằng những viên ngọc tròn. Cô Do Thái xướng giá ghi: hai ngàn đồng.

- Một món tiền đặt nhằm kiếm lãi cho khoản được bạc hôm nọ.

Fierce mỉm cười. Malais vỗ trán.

- Tôi hiểu ra rồi! Cái vòng này sẽ tới đường Chasseloup – Laubat, cái thoi vàng nạm ngọc ấy.

Fierce làm ra vẻ không hiểu.

- Đường Chasseloup?

- Đừng làm bộ ngây thơ nữa! Nhà bà Ariette.

- Tôi yêu cầu ông, viên sĩ quan lạnh nhạt nói.

Nhưng Malais nhún vai.

- Ông bạn thân mến, chẳng nên tức giận vô ích. Chỉ tổ làm cho cô Fernande buồn cười, ở đây mà kín đáo là thừa.

Fierce nhớ đến Mévil, và quyết định không thèm chối.

- Ông như ma xó ấy! Sao ông biết?

- Vì ông là người thứ hai mươi làm cái chuyện này.

Malais đã ngồi xuống, sau khi liếc nhìn đồng hồ. Chắc hẳn ông đang có thời gian; ông trò chuyện.

- Người thứ hai mươi. Ái chà! Ông đang bước vào một gia đình tiêu biểu đấy. Chỗ quen biết cũ của tôi mà: tôi gặp vợ chồng ông Ariette ở Nouméa, cách đây tám năm. Hai người vừa cưới nhau, và cái tuần trăng mật của họ là trăng úa, họ không hòa hợp do vì đã không tìm hiểu, nhưng chẳng bao lâu đã hiểu nhau… Bà vợ bấy giờ cũng xinh đẹp như bây giờ. Có một kẻ biết ít nhiều về bà này, và kẻ này vốn là con trai vị tổng giám mục khá giàu có – một anh bạn của ông đấy, viên đại úy hải quân chỉ huy tầu tuần tra ở Calédonie. Xẩy ra chuyện tất phải xẩy ra: một tối, ông Ariette tính toán, trong lúc quay về, và bất chợt cặp này đang say sưa đùa bỡn. Vốn con người tế nhị, ông ta không làm ồn ào: ông nhận năm mươi nghìn Frăng để dẹp chuyện này đi.

- Thế anh ta cũng giả à, cái anh con ông tổng giám mục ấy?

- Bà Ariette bắt anh ta phải giả. Chắc ông cũng hiểu cung cách này rồi, tôi đoán thế.

- Thế rồi sau này thế nào?

- Về sau một hiệp ước được kí kết giữa hai vợ chồng: mọi cuộc dan díu đều được phép ở phía bên này cũng như phía bên kia, với điều kiện có sinh lợi, và các lợi nhuận được chia đều sòng phẳng.

- Ái chà! Fierce nói, cái này quả là hiện đại và không hề dối trá.

Anh giả tiền cái vòng tay.

- Hai ngàn đồng, Malais kêu lên, vẻ ngạc nhiên… Cái việc này mà đáng giá thế cơ à?

Fierce nghĩ ngợi.

- Không… Thế nhưng…

Anh giải thích:

- Không một phụ nữ nào đáng giá hai ngàn đồng, thậm chí hai trăm; cái cảm giác dễ chịu, tuy rằng đơn điệu, mà các nữ cộng tác viên cung cấp cho chúng ta vào các giờ phút thân mật nhất chắc hẳn họ cho là giá rẻ hơn nhiều. Nhưng theo ý tôi, cái cảm giác vốn được ca ngợi quá nhiều này chỉ là một phần của các trò vui dâm dật, và thậm chí tôi còn thú thật với ông rằng tôi vốn không kiếm tìm cái cảm giác nọ với bà Ariette.

- Sao kia?

- Không… Chúng tôi vốn… Chẳng quan trọng… Cái có lẽ đáng giá hai ngàn đồng, đó là cảnh bài trí và đạo cụ; cái tương phản thú vị giữa bữa ăn được mời dự và món tráng miệng mà tôi thưởng thức trên ghế dài; đó là chất kích thích của lời mở đầu đức hạnh: phòng ăn gia đình, ông chồng, đứa bé bốn tuổi…

- Tám… tám tuổi chứ.

- Bốn thôi mà! Cái này được ghi trên mặt nó.

- Tám. Ông quên mất cái khí hậu làm cằn cọc những đứa nhóc; lại có lợi cho các bà mẹ, được trẻ thêm cũng ngần ấy tuổi.

Ông Malais đứng lên. Vẻ khúm núm, cô Do Thái tiễn ông ra cửa. Fierce đi qua, mơn tay lên vú cô, vì cô này cũng nom xinh đẹp.

- À này, anh ta nói với Malais, cái cô Fernade này… theo ông đáng tin cậy chứ?

- Về mặt kín đáo ấy à? Ôi dào! Một con mụ Do Thái! Mụ ta xảo quyệt lại hám lợi ghê gớm, việc gì lại đi phản lại vô cớ một khách hàng cơ chứ. Với lại, thêm hoặc bớt một vụ rùm beng, mụ ta đâu có quan tâm? Tất thảy mọi vụ ngoại tình hoặc đút lót ở Sài Gòn này đều qua tay mụ. Một ổ nhơ nhớp nổi tiếng này, cái ổ điếm này!

- Thí dụ: một vòng xuyến, và một chiếc quạt.

- Ừ đúng thế! Ngoại tình và quà đút – tuy rằng cái khoản đút lót của tôi được rửa tội, được trát thạch cao, thêm đường vào cái miệng của lão nửa lương thiện Abel, và tuy rằng cái vụ ngoại tình của ông, như ông vừa nói, được…

- Một vụ ngoại tình nhà tu, cho các cô gái.

Bàn tay Malais đặt lên vai Fierce.

- Ông thích thế hả?

- Sao? Các vụ ngoại tình nhà tu ấy à!

- Không; nhưng cái kiểu sống của ông, và cái vai diễn liên miên của anh chàng khoác lác trụy lạc?

- Tôi chẳng thích thế đâu. Nhưng ông nhầm rồi. Tôi không phải vờ đóng trò.

Hai người đi cạnh nhau. Chiếc xe của Malais theo sau, một cỗ xe thắng cặp ngựa ô tuyệt đẹp giống Úc Đại Lợi, to gấp đôi ngựa bản địa.

- Ông là hiện thân của cái nòi giống mà tôi ghét thậm tệ, đột nhiên ông chủ ngân hàng nói: cái nòi những kẻ vô chính phủ thanh lịch. Thế nhưng tôi lại thích ông. Tôi thầm muốn giúp ông ra khỏi vũng bùn nơi ông đang bì bõm – vũng bùn, ông đừng bảo là không… Này này, ông có chịu chấp nhận một lời khuyên không? Bỏ rơi đám bạn bè quen thuộc và bắt bạn với những người khác. Chẳng phải là một sự hi sinh đối với ông, và ông chẳng sợ mất mát gì nhiều trong việc đánh đổi này: ông đâu có gắn bó với đám Ariette, Rochet và băng của họ. Dưới cái vỏ thạch cao sang trọng trát trắng trên người họ, nếu như ông biết rõ họ là một bộ sưu tập những tên vô lại thế nào không? Rochet ư? Một tên dọa người ăn tiền, giờ đâm lẫn trí. Ariette ư? Một tên ma cô cộng một tên nói dối thuê. Vợ lão ư? Một con điếm giả đạo đức, tôi còn thích hơn trăm lần cái cô nàng Liseron của ông, vốn không hề dấu diếm, không đánh lừa ai và không đòi hỏi phải trọng vọng. Tôi chẳng nói gì về Torral và Mévil: họ là bạn ông… Vả chăng tôi không lẫn lộn họ với cái bè lũ thực dân: họ có cái gì đó tốt hơn – và tệ hơn: những con người thông minh bị lầm lạc. Điều tôi muốn nói với ông, là có những con người khác ông quen và có lẽ ông sẽ thích làm quen: những con người lương thiện. Họ có đấy – rất ít; nhưng mà có. Ông có muốn gặp họ không? Hãy đến nhà tôi. Ái chà chà, tôi cũng chẳng phải người lương thiện.

- Không ư?

- Không. Tôi là một tên kẻ cướp, ông bạn thân mến ạ; tôi đã từng ăn cắp, ăn cướp, đòi tiền chuộc, tôi đã kiếm tiền, và cái câu này hàm chứa một mớ những điều ô nhục vặt, mà cộng lại làm thành một tên tội phạm và đồng thời một nhà triệu phú. Nhưng chính vì những điều ô nhục ấy nó chất đầy chán chê và khiến cuộc sống của tôi đâm ghê tởm, tôi lại đâm mến dữ dội cái gì là lương thiện. Ở nhà tôi, ông Fierce ạ, ông sẽ không phải bắt tay với những bàn tay đáng ngờ. Ở đất Sài Gòn này là một xa xỉ lớn nếu từ chối những bàn tay như vậy; nhưng tôi khá giàu để chi vào các món xa xỉ của tôi. Vợ tôi, ở đây cũng như ở mọi nơi, chỉ chịu đựng những người sạch sẽ…

- Ông không ngại, Fierce nói giọng châm biếm, là tôi làm hoen bẩn ư?

- Đó là việc của tôi. Ông đến nhá.

- Bao giờ?

- Bao giờ ông muốn. Chẳng có ngày quy định cho đứa con lãng tử…

Hai người đi qua trước hãng Hồng Kông và Thượng Hải. Với vẻ nhanh nhẹn thường có trong các cử chỉ, Malais bắt tay ông bạn và biến vào cửa xe.

Fierce bỏ đi dáng nghĩ ngợi. Trên đầu, một cây phượng mỉa mai thả rơi từng bông hoa đỏ.

Fierce ngẫm nghĩ. Không ngờ anh đã đi ngược đường – vì chuông nhà bưu điện đánh năm tiếng, giờ đi dạo trong khu Thanh tra, và xe ngựa của anh đang đợi ở đường Tự Đức; thế nhưng đường Tự Đức gần với sông Đồng Nai và Fierce bước đi vu vơ, đang xa dần con sông.

Anh rời các đường phố trung tâm ồn ào. Các khu phố phía Bắc thành phố trổ những ngả lớn rợp bóng cây và tĩnh lặng. Fierce đi ngang qua đường Chasseloup-Laubat mà không nhận ra, đường có nhà vợ chồng Ariette anh đã đến; anh chỉ thưởng thức cái mát mẻ màu xanh, các biệt thự nấp kín giữa khu vườn, sau các hàng rào gỗ; anh không thể hình dung ra là một trong những biệt thự kia là nơi trú ngụ một người phụ nữ với chiếc ghế đệm dài anh từng biết rõ một cách mật thiết. Cơn mộng của anh hướng về nơi khác.

Anh tiếp tục đi, không màng tới cảnh tượng đường phố. Gần một ngôi nhà giàu người bản xứ, một cô gái trẻ đẹp, đứng ở ngưỡng cửa đập lên cánh cổng và cười ré lên để anh quay nhìn. Nhưng anh cắm đầu bước qua. Sài Gòn là cái thành phố tuyệt vời nhất để quên mọi sự; hè nóng bức ẩm ướt làm tê liệt mọi giác quan và bụi đỏ đường phố dập tắt các tiếng động đời sống.

Fierce lẩm bẩm: “Cuộc sống chán ngắt”. Đầu óc anh ngổn ngang bao ý nghĩ mơ hồ, toàn bi quan. Không thể chối cãi, những kẻ anh giao du quả tình là những con người không lương thiện theo đạo đức quy ước, ngoài ra họ lại đơn điệu quá sức. Cũng đơn điệu đến lộn mửa, cuộc sống của anh: đơn điệu và nhanh chóng thành nhạt nhẽo, các thú vui anh thử tìm đến để thêm mắm muối cho nó. Anh lặp lại như trước đây: “Chẳng có vị gì sất”. Anh nghĩ đến cái nghèo nàn trong danh mục các thú vui của con người: cộng hết tất cả là năm cảm giác được tiếng là thú vị, năm! Và cái có giá nhất, xúc giác – chuyện làm tình – hoàn toàn khuôn bó trong cái định nghĩa y học: sự tiếp xúc của hai lớp da ngoài. Chẳng gì hơn, chẳng có gì hay hơn. – “Da ngoài” ư? Fierce chữa lại, cũng chẳng được thế: màng nhầy. Bốn đề xi mét vuông da. Các dị bản ư? Trò văn chương. Thật nhục nhã. Lộn xộn, anh khinh miệt Mévil, quá điên nên mới mê chuyện làm tình; và Torral, khá ngốc nghếch nên mới đặt hạnh phúc thành công thức.

- Hưởng thụ tối đa!... Chẳng có chuyện hưởng thụ… Nhưng nếu có thì sao nhỉ? Có những cái chưa hề biết thì sao nhỉ?

Một tia nắng quái rọi vào mặt. Anh kéo sập vành mũ và vô tình nhìn ra xung quanh. Một tấm biển chỉ tên đường phố, phố Mọi – người Mọi là một bộ tộc cổ Đông Dương. Fierce nom thấy hai hàng cây cổ thụ, và hai dãy vườn. Các ngôi nhà cách nhau rải rác. Nhà gần nhất là một nhà kiểu An Nam, rộng và thấp, với những bức tường gạch và một mái chìa; một hàng hiên lớn gỗ mun lấp ló sau dãy cành lá nho rừng; các cây đa rất cao tỏa bóng lên mái ngói sành tráng men.

Một chiếc xe ngựa đợi ở cổng. Một anh bồi bé ti kìm cương ngựa, những con ngựa cỡ con gái hoặc bà già. Đường phố, ngôi nhà, chiếc xe ngựa và khu vườn trầm mặc xinh xắn nom thấy qua cửa cổng mở, hòa lẫn vào nhau trong một vẻ hài hòa giản dị và bình yên tuyệt vời.

Fierce nghĩ: “Chắc sống trong cái nhà này rất dễ chịu – xa tất cả mọi trò rượu chè và động cỡn của tụi mình”.

Anh đã đứng trước ngõ. Hai người đàn bà đi ra khỏi nhà; Fierce bỗng cảm thấy tim giật thột, một tiếng đập khô khan như tiếng bấm cò súng: Cô Sylva đang tiến ra phía anh, dẫn đi ra xe ngựa một bà tóc bạc bước chân chập chững.

Cô Sylva ân cần và dịu dàng, cầm hai cây dù và một chiếc măng tô nhẹ phòng lúc hoàng hôn. Người mù bước lên xe; cô gái đỡ cho bà ngồi rồi khi quay lại, chợt thấy viên sĩ quan cách vài bước.

- Ông Fierce!

Một tiếng reo vui thành thực. Bàn tay nhỏ nhắn xòe rộng nhanh nhẹn chìa tới. Diễn ra cuộc giới thiệu:

- Mẹ ạ, đây là ông sĩ quan tùy tùng của ông d’ Orvilliers. Thưa ông, mẹ tôi đã rất biết ông, tôi đã nói rất nhiều về chiếc tàu của ông – và về ông…

Fierce cúi chào thật thấp. Cô Sylva không còn nghĩ đến cái xe.

Cô líu lo vui vẻ, rất vui gặp lại anh bạn nhảy mà cô thích. Bà Sylva cho tiếp khách ngoài đường là bất tiện, muốn đứng dậy và đưa khách vào chơi trong biệt thự.

- Tôi xin cảm ơn, Fierce ngỏ ý chối từ. Xin bà thứ lỗi đừng coi tôi như kẻ quấy rầy và đừng vì tôi mà chậm lại cuộc đi dạo. Thực quả, thưa bà, tôi không có quyền gì được bà và cô tiếp, vì chỉ do tình cờ mà tôi đi đến cửa nhà ta; tôi không biết rằng bà và cô ở đây.

- Sự tình cờ đã ưu đãi mẹ con tôi, bà Sylva niềm nở đáp. Nhưng nếu ông nhất định không muốn vào nhà thì xin mời ông lên xe với mẹ con tôi: chúng tôi sẽ đưa ông đến nơi ông muốn.

Cô Sylva tiếp lời:

- Và chuyện này được ông coi như một cuộc thăm hỏi, không nên để cho tình cờ chẳng giúp được việc gì.

- Tôi thật sự bị cám dỗ, Fierce nói. Nhưng chắc chắn là tôi sẽ khiến cho bà và cô kém thoải mái.

- Tuyệt nhiên không! Có một chiếc ghế phụ rất tốt, và tôi lại thích ngồi ghế phụ.

- Nếu tốt đến thế… thì cho tôi ngồi vậy…

Anh nhanh nhẹn trèo lên ngồi. Xe bắt đầu chạy. Đầu gối anh bị kẹt giữa chiếc váy xanh và chiếc váy đen, và cáy này cái kia đều khiến anh xúc động như nhau – hết sức trong trắng.

- Ông chẳng có công việc gì chứ? Bà Sylva hỏi. Vậy thì cùng đi với chúng tôi đến đường Tự Đức; sẽ về nhà trước bảy giờ.

Fierce nhận lời, và nói lời cảm ơn bằng giọng nồng nhiệt hơn là phép lịch sự cần thiết. Sự thực thì cuộc dạo chơi bất ngờ này khiến anh vô cùng thích thú. Từ một tiếng đồng hồ, các lời lẽ của Malais dằn vặt đầu óc anh, và trong anh nẩy một ý tò mò về những con người lương thiện anh chưa từng quen bao giờ ở bất cứ đâu. Biết đâu đó họ sẽ thú vị hơn, bớt đơn điệu hơn là cái nhóm quen thông thường gồm những gái điếm, dân lừa đảo và phần tử vô chính phủ văn minh – quá văn minh. Trong lúc thử đến gần cô gái thật sự trong sáng hồn nhiên này – anh không nghi ngờ điều ấy lấy một giây – Fierce hình dung sau mùa nháo nhiệt dài đằng đẵng qua các sòng bạc nhà hát, tiệm ăn đêm và nhà thổ, mình đang leo lên ẩn náu trên tầng cao cảnh núi non hoang mạc và thở không khí trong lành tinh khiết các băng hà.

… Và nụ cười cô Sylva với giọng trò chuyện líu lo, thật tươi mát và mơn trớn, - và khuôn mặt bình thản bà Sylva cùng giọng nói, thật hiền hậu làm dịu lòng.

Ông de Fierce, cột chặt trong niềm thoải mái, trái tim ấm áp đến mức đờ đẫn, lặng im không nói. Chiếc xe chạy vòng quanh thành cổ qua những con đường thôn dã, vượt qua con kênh trên chiếc cầu trong khu vườn. Cầu Vắng, cũng vắng người qua lại, các lối đi màu đỏ quạch ngủ giữa những hàng rào tre và mộc lan: Sàn Gòn giờ này rong chơi làm duyên làm dáng ở khu Thanh tra, còn khu vườn chưa có người đi dạo trước lúc mặt trời lặn.

Cô Sylva hỏi:

- Ông chắc biết phố Tự Đức?

- Tự Đức à? Fierce bứt khỏi cơn bình lặng ủy mị để trả lời.

- Tôi không biết.

Cô Sylva kêu lên vẻ bất bình và công phẫn:

- Ông không biết phố Tự Đức hả! Trời ơi, thế ông làm gì từ mười lăm hôm nay khi tàu Bayard tới Sài Gòn?

Khó nói quá chừng, cái anh làm.

- Chẳng có gì hay cả. Tôi lên phố rất muộn; bác xà ích muốn đưa tôi đi đâu thì đi – và bao giờ cũng là khu Thanh Tra.

- Khu Thanh Tra thật không chịu nổi, cô Sylva nói giọng quyết đoán. Có quá nhiều xe, quá nhiều quần áo, quá nhiều dân lịch sự trên cái lối đi quỷ quái kia, thẳng tắp mà vẫn không chạy được nước kiệu. Và ông sẽ thấy là đường Tự Đức một trăm lần đẹp hơn…

Fierce sẵn lòng tin cô. Cạnh cầu, đường Tự Đức chẳng gì hơn là một lối đi thích thú quanh co giữa các đám ruộng, có những gốc mộc lan rậm rạp, các ruộng lúa xanh rờn hơn đồng cỏ bên Irlande, và các bụi mộc lan tỏa từng luồng thơm ngào ngạt say người.

- Không nơi nào như ở đây, Fierce nói, có những con đường thơm tho thế này. Sài Gòn là một cái lư hương.

- Không nơi nào như ở đây ư? Cô Sélysette hỏi. Vâng, đúng đấy, ông biết hết thảy mọi đất nước. Ông hãy kể các cuộc du hành của ông đi…

Fierce chiều lòng bèn kể. Anh đã chu du gần khắp thiên hạ; anh biết đánh giá với con mắt sắc sảo các dân tộc và phong cảnh, và chọn giữa cả trăm chi tiết ý nhị cái độc đáo và sắc sảo nhất.

Anh mô tả nước Nhật Bản nơi anh từ đó đến. Anh nói về những ngôi nhà gỗ bạch nom có vẻ bao giờ cũng mới, về cây cối quá lớn trùm lên các ngôi nhà như những chiếc măng tô xanh huyền bí. Anh nói về những cây cầu vắt cong phía trên những dòng suối cạn, về những tchaias thôn dã nơi người đi đường bao giờ cũng tìm được một bát nước chè nóng bỏng, một bánh ga tô castera rất mềm, và nụ cười rất đứng đắn của cô hầu chân bước lon ton. Anh phác tả hình bóng núi Fuji cao nhọn, và các chuỗi dài người hành hương y phục vàng, xanh, tím in sặc sỡ lên tấm áo tuyết ngọn núi. Thế rồi anh quên nhắc đến các cô mousme[2] cho khách trú ngụ một cách hồn nhiên và cả cái Skébé[3] Nhật Bản – anh cũng bỏ qua chẳng mấy khó khăn. Cô Sylva tỏa quanh mình một làn trinh trắng dễ lây nhiễm.

Xe ngựa vượt qua con suối trên chiếc cầu bằng gạch hồng.

- Có phải cũng như thế này không, cô Sélysette hỏi, các cây cầu Nhật Bản?

- Không đâu, khác rất nhiều – nhiều đến mức tôi không thể giảng giải được. Nhưng chỉ cần nhìn con suối và chiếc vòm này, tôi biết tôi đang ở đất Nam Kì chứ không nơi nào khác. Trong khắp hoàn cầu, với những con mắt biết nhìn, không có hai đất nước nào giống nhau.

Cô gái thở dài:

- Thật là thú vị được thấy bao nhiêu điều và giữ lấy như chụp ảnh trong góc trí nhớ! Cái đầu óc của ông hẳn phải giống cuốn an bom.

- Thú vị… và cũng đáng buồn, bà Sylva bác bẻ với giọng suy tư. Những người thủy thủ, luôn luôn bị lưu đày từ mọi đất nước mà họ từng yêu mến, chắc hẳn phải có những niềm luyến nhớ bằng bấy nhiêu lần họ đi xa…

Torral, tuần trước, đã châm chọc Fierce về cái thói u sầu. Fierce nhớ lại, và do vậy càng thấy mối thiện cảm của bà Sylva thật là êm dịu. Anh nói:

- Ngần ấy luyến nhớ không làm thành một niềm vui buồn bã. Chúng ta lưu giữ rõ rệt và đáng yêu hình ảnh các đất nước xưa kia, nhưng ít khi tiếc nuối, vì các đất nước bây giờ cũng chẳng kém, và cái đinh này nẩy lên cái đinh kia. Làm sao giữa khu rừng mộc lan nở hoa này, tôi lại còn có thể tiếc nhớ bất cứ cái gì.

Cô Sélysette lắc đầu tóc vàng hoe:

- Vào ngày mai, trong một khu rừng, ông sẽ lại quên khu rừng này. Đó là một sự không chung thủy đấy ông ạ.

- Tôi thừa nhận. Nhưng nếu tôi chung thủy tôi sẽ khổ sở.

Anh đắm mình đến mức nói to điều mình đang mơ mộng: lần đầu tiên trong đời:

- Người ta có thể không chung thủy và vẫn trung thành. Đối với những giờ êm ái xưa kia tôi giữ tất cả lòng biết ơn; nhưng những giờ ấy đã chết; tại sao bóng ma của chúng lại có thể làm hỏng các giờ êm ái ngày nay được? Khi tôi lật một trang đời tôi, tôi gắng bắt đầu trang tiếp theo với những con mắt mới. Dễ thôi, vì hai trang chẳng bao giờ giống nhau. Trên đất Sài Gòn tôi không còn là cái anh Fierce Nhật Bản cách đây hai tháng; và cái anh Fierce Nhật Bản chẳng giống cái anh Fierce của Paris năm ngoái, cũng chẳng giống anh Fierce Thổ Nhĩ Kì hoặc Tahiti các năm xưa…

Cô Sylva bật cười thích thú.

- Ông hãy nói với chúng tôi về tất cả những ông Fierce giờ đây không phải là ông?

- Họ gây cho tôi ấn tượng là những anh bạn rất thân mà tôi xưa từng yêu mến; và đôi khi tôi mường tượng là họ vẫn đang sống trong cái đất nước tôi quen biết họ. Anh Fierce Ta Hi Ti chẳng hạn là một nhân vật hay trầm tư, chẳng mê mải gì hơn là các cây cối, đồng cỏ và sông ngòi. Anh ta hàng ngày dạo bước nơi thôn dã, bận chiếc xà lỏn bằng vải xanh và đội mũ rơm – đi chân đất, dĩ nhiên. Anh thuê trong cái làng Papeete mà anh gọi một cách khoa trương là thủ đô, một túp lều con giữa một vườn dừa. Và khi, mỗi tháng một lần, thư từ báo chí đến, in sặc sỡ các tem và dấu bưu điện Pháp, anh không mở thư và xé các tờ báo để nhóm lửa nấu ăn.

- Còn ông Fierce Thổ Nhĩ Kỳ?

- Đó là một anh chàng Hồi giáo rất sùng đạo, chẳng tuần nào là không đi lễ thánh Allah trong một đền thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Istamboul. Sau đó, anh ta ngồi ở sân hiên một tiệm cà phê Somanli lặng ngắm eo biển Bosphore, và các ngày thứ sáu – ngày nghỉ việc ngồi mơ mộng suốt bốn tiếng đồng hồ trong một nghĩa địa ở Skytari.

- Có một ông Fierce Trung Quốc không?

- Có chứ! Anh này dành suốt cả thời gian để tự hào về giòng giống của mình cho là cổ nhất thế giới và về nền triết học của mình là sáng suốt nhất và đầy nghịch thuyết nhất. Đó là một con người không chịu nổi: anh ta chỉ quan tâm đến giấy bổi và bút lông, đồng thời khinh thị cả thế giới.

Cô Sylva trở nên tư lự.

- Ngần ấy óc não liên tiếp dưới một vầng trán duy nhất! Nghĩ mà đáng lo ngại: ngày mai ông sẽ thay đổi thêm một lần nữa, và nếu tôi gặp ông ở Paris hoặc ở Nhật Bản, dễ thường chúng ta sẽ phải làm quen lại.

- Có lẽ. Tôi tự hình dung như một tấm kính ảnh: Một tia nắng và các hình ảnh in trong đó tự xóa; nhưng chỉ cần một chất cầm màu để làm thành một bản không thể phai nhạt.

- Và cái chất cầm màu kia?

- Tôi chưa tìm thấy.

Một lát lâu im lặng. Con đường len lỏi trong các rừng cau gần kề đường Tự Đức; lúc này không còn mộc lan, cũng không còn ruộng lúa, không còn bụi đường đỏ ánh lên dưới nắng. Duy chỉ còn các gốc cau chen chúc với những thân mảnh khảnh thẳng tắp – chúng đan quyện vào nhau các tàn lá nở xòe cách mặt đất năm chục bộ; và cái này làm thành một vòm đền thờ tôi tối, chống đỡ bằng vô số cột kiểu ionic cổ đại. Giữa các gốc cây, đất màu nâu, có những vũng nước lóng lánh. Tất cả khu rừng im lặng như tờ.

Cô Sylva, hai bàn tay ôm đầu gối, nhìn chăm chăm và không nói. Fierce ngắm nhìn cặp mắt xanh lá cây, và ngạc nhiên nhận thấy một cô gái lại biết nhìn nhận ra vẻ đẹp của một khu rừng không hoa, không chim chóc và không mặt trời.

- Thưa ông, bà Sylva nói, tôi nghĩ nãy giờ ông đã không nói hết với chúng tôi. Tôi rất hiểu là tới một đất nước mới ông tự khám phá ra một tâm hồn mới; nhưng tôi đoán là ở mọi nơi hẳn ông cũng cứ nhớ về bếp lửa, về gia đình của ông; và nỗi nhớ triền miên này tất yếu đặt một mối liên hệ, một mối ràng buộc thân thuộc giữa tất cả những con người khác nhau và ông lần lượt cho là con người mình.

- Tôi chẳng có nhà cửa, chẳng có gia đình.

- Không có ai cả?

- Không ai cả.

- Thật đáng buồn ở tuổi ông.

Fierce suy nghĩ. Một tổ ấm ư, đó là một nhà tù, cái nhà tù này thêm phức tạp vì những thứ xiềng xích: bà con thâm quyến, bạn bè - chẳng có cái gì ở đó cám dỗ được mình cả. Một gia đình ư? Ông, bà, và kẻ kia: những đứa nhóc chí chóe nhem nhếch – một chút phụ thuộc, một chút nhố nhăng, một chút ô nhục: món hổ lốn mới hấp dẫn làm sao! Fierce muốn bật cười. Nhưng ngửng mặt anh lại nom thấy cái gia đình này khiến anh ngạc nhiên và bối rối: bà mẹ tươi cười dịu dàng, cô con gái trong sáng tuyệt vời… Và rất chân thành, anh đáp:

- Vâng, buồn, một đôi khi – chẳng hạn khi đứng chân trên đường, trong cuộc đời kiểu Do Thái lang thang, tôi chợt thấy một bếp lửa yên bình ấm cúng và qua cánh cửa hé mở thoáng thấy những ông chồng mãn nguyện, những bà vợ đáng yêu, những đứa con xinh đẹp. Những đêm như vậy chiếc tàu khi tôi quay về trở nên buồn thảm, cảnh cô đơn càng trĩu nặng, và mặc dù bản thân không muốn thế, tôi cứ ước cho những kẻ trải đầy hạnh phúc kia gặp phải chuyện không may. Người ta là một con vật xấu xa hay đố kị, chỉ muốn lấy cái khổ của người khác làm thú vui của mình, và ngược lại.

Một sự bịa đặt được nhắc đi nhắc lại ngàn lần là cái truyền thuyết đặc vẻ thơ mộng về anh chàng thủy thủ lang thang, lưu đày khắp quả đất, và âm thầm ấp ủ một niềm luyến nhớ không nguôi về tình âu yếm và về bếp lửa; một sự bịa đặt tuy nhiên lại từng đánh lừa bao đợt tất thảy các đàn bà, bởi vì tất thảy, dưới lớp sơn hào nhoáng khác nhau của nền giáo dục, thị hiếu đương thời và dáng điệu, đều giấu một bản chất đồng nhất về cái kiểu khờ khạo đa cảm. Ông de Fierce mồ côi, ông de Fierce không có nhà, hầu như không quê hương. Hai người phụ nữ lắng nghe anh đầy thiện cảm, cố tìm cách xoa dịu nỗi cô đơn nghiệt ngã này một cách tế nhị. Bà Sylva nói:

- Thưa ông, tôi e rằng sau tất cả mọi chuyến đi xa, ông vẫn chưa bao giờ khám phá ra cái mà sự sống khiến người ta vững lòng nhất – nơi góc bếp! Nếu ông muốn, ông sẽ làm quen với bếp lửa của chúng tôi. Ông hầu như con ông bạn cũ của chúng tôi, ông d’ Orvillivers, vốn là bạn thân thiết nhất của ông nhà tôi. Ngôi nhà tôi cũng là nhà ông đấy…

Bà chìa bàn tay già nua nhưng vẫn mềm mại trắng trẻo, và Fierce đặt một nụ hôn trầm lặng. Cô Sélysette vui vẻ tán đồng:

- Coi như chúng tôi kết nạp ông! Ồ, chúng tôi chỉ là một nhóm rất nhỏ, nhưng hết sức chọn lọc; ở nhà chúng tôi không có chuyện tán tỉnh, không có chuyện điệu đàng, không có chuyện ngồi lê đôi mách – ba ngoại lệ giữa đất Sài Gòn này. Chúng tôi chơi quần vợt – một quần vợt thật sự, nghiêm chỉnh; chúng tôi đọc sách, trò chuyện, đi dạo - chơi cuộc dạo lớn; và chúng tôi đóng sập cửa với những kẻ khó chịu. Một nhóm rất, rất nhỏ: ông toàn quyền, ông bà Abel, bà Malais.

- Bà Malais hả?

- Ông quen bà ta phỏng?

- Rất ít, nhưng quen ông chồng nhiều hơn, mà lại đúng hôm nay ông mời tôi đến chơi đấy.

- Thế thì tuyệt vời. Ông sẽ gặp mà Malais tại nhà chúng tôi, và sẽ gặp chúng tôi ở nhà bà. Bà là một bà bạn vô cùng tốt.

Cô Sélysette kể rành rọt các đức tính của bà Malais. Fierce nghĩ bụng, sự tình cờ đôi lúc hầu như có tầm cỡ như ý trời vậy. Hôm qua mọi sự liên kết lại để khiến anh chán chường; lộn mửa với cái đời sống cũ; hôm nay tất cả lại góp phần kéo anh tới một cuộc sống mới. Hôm qua, những người anh giao du đã đỏng đảnh phơi bày tất cả các tật xấu và các tì vết của nó; hôm nay một thế giới mới và hấp dẫn mở toang cánh cửa lớn mời anh. Anh sẽ bước vào…

Chiếc xe dừng. Đây là chặng cuối cuộc đi dạo, con đường dẫn ra bờ sông, nơi này không có cầu, không có bến cảng. Một chiếc phà đưa qua sông và bên kia bờ, đường Tự Đức giấu mình dưới rặng cau, chỉ nom thấy ba túp nhà mái tranh vách đất.

Bị con sông cắt ngang qua như một ngả đường lớn đồ sộ, khu rừng dồn về hai bờ thành những rừng cây to rậm rạp. Cây cối ngâm chùm rễ ra tận dòng nước và sông Đồng Nai nom như nằm giữa hai hàng rào mờ tối, hai bức dậu cây chen chúc mang trên chỏm những tán lá lua tua xòe rộng. Ánh mặt trời, bị rừng ngăn đuổi, gỡ lại bằng cách luôn qua bức dậu này rọi xuống con đường lõng bõng, và mặt nước sáng rực lên.

Đàn ngựa thở hồng hộc. Bác xà ích, dửng dưng, buộc lại dây roi.

- Những tầu lá nhấp nhô kia, Sélysette thầm thì, là những lá cờ cắm trên mái rừng…

Chiếc phà bị trôi dạt lúc ra giữa dòng; trên mặt nước cháy hừng, bóng mảnh khảnh các tay chèo cựa quậy in màu sẫm; một cô gái ngồi trước mui, chân dầm trong nước, eo éo ca một bài không ăn nhịp và rền rĩ. Mặt trời xế nghiêng. Phải quay về. Dưới rặng cau, đêm bắt đầu buông xuống. Và vì sương chiều lúc sáu giờ tỏa giọt khắp nơi, Sélysette khoác lên bà mẹ mù chiếc măng tô mang sẵn, với những cử chỉ ân cần của người mẹ trẻ.

Dưới rặng cau, đêm bắt đầu buông xuống.

“Hồi tôi còn bé, Sélysette nói giọng mơ màng, tôi thấy cây cối trong vườn dường như rất lớn và khu vườn thật mênh mông. Những cây cau này và cả khu rừng này thật nhỏ bé so với trí nhớ của tôi”.

Móng ngựa chẳng gây tiếng động gì trong làn đất ấm. Vẻ tĩnh mạc buổi hoàng hôn thích hợp cho chuyện tâm sự.

… Chúng tôi sống trong một ngôi nhà cũ giống như trang trại, người ta gọi là lâu dài do vì mái có cái tháp con nhọn. Ấy là vùng Férigord. Có nhiều hoa, và một đàn dê trên đồi, với một chú chăn dê đội mũ nồi đỏ. Mọi bức tường đều kín những dây đậu tía, và các bác nông dân mắc lên đó những chiếc đèn xếp và những băng chào, khi cha tôi từ Phi châu trở về mỗi năm vào dịp gặt hái… Ngôi nhà mới vui làm sao, khi ông có mặt! Chiếc áo choàng xanh của ông như gieo ánh mặt trời khắp cả… Mùa màng rất tươi tốt! Khi ông lại ra đi, chỗ ông ngồi vẫn giữ nguyên, và đến bộ bát đĩa vẫn đặt trên bànnhư thể ông vẫn ngồi đó… Thế rồi ông không trở về nữa…

Fierce rất khẽ, hỏi:

- Chính là vào lúc ấy mẹ con cô đã rời nước Pháp phải không?

Giọng đều đều của bà Sylva đáp:

- Năm sau. Tôi lâm cảnh góa bụa và con gái tôi đã lớn; ông giám hộ của cháu được bổ nhiệm ở Sài Gòn; chúng tôi đi theo ông.

Tôi đã làm đúng vì tháng sau, mắt tôi vốn đau sẵn đã khép lại hoàn toàn. Một bà mẹ mù lòa, một ông giám hộ vắng mặt – con bé Sélysette đáng thương của tôi dễ sẽ chết rũ vì buồn chán bên ấy.

Fierce nhìn mái tóc bạc và gương mặt không nếp nhăn. Thế vậy, chỉ vài ba năm, tất thảy mọi hạnh phúc của người đàn bà này đã sụp đổ, phạt ngang như một bông lúa chín; bà đã mất chồng, mất nhà cửa, quê hương, và ánh dịu của mặt trời. Thế nhưng bà vẫn mỉm cười; ngần ấy chua xót đã không đánh đổ tính can trường của bà, biến nó thành bực tức cau có; và với tình yêu thương con gái, bà đã biết kìm nén nước mắt một cách kiên cường…

… Hồi tôi còn bé…

Cô Sylva kể những kỉ niệm ấu thơ đẹp đẽ. Fierce nhìn thấy lại, từ đáy sâu ký ức, tuổi thơ tự bản thân anh khô khan buồn bã. Niềm âu yếm tăng lên đối với cô gái đầy tin cậy đang tâm tình thổ lộ cùng anh với biết bao duyên dáng…

… Những cây mộc lan, càng thơm ngát trong sương chiều; con kênh và chiếc cầu nhỏ với những viên gạch hồng lúc này chuyển màu xám; khu vườn, nơi những con voi gầm trong cũi…; mọi người trở về phố.

- Hẹn gặp lại sớm, phải không, rất sớm?

- Xin hẹn ngày mai, nếu bà và cô cho phép…

Anh đi bộ trở về, trong đêm lấp lánh. Không khí ấm áp khiến con người khỏe khoắn lạ lùng.

Đường Catinat, Torral gọi anh từ xa.

- Tối nay ở chợ Lớn nhé!

Ở Chợ Lớn, uống rượu, la hét, tốc váy đàn bà ư?

- Không, chịu thôi - anh chợt nói dối, không hề nghĩ – chịu thôi: mình cuốc bộ suốt chiều nay, mệt bã, mình phải trở về tàu đây.

❀ ❀ ❀

[1] Chơi chữ: pot de vin, đồ đút lót, hối lộ, trong đó có từ vin (rượu nho).

[2] Cô gái trẻ.

[3] Skébé: Mọi cái tục tĩu.

ỮNG KẺ VĂN MINH Nguyên tác: Les Civilisés ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Văn học 1999
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Claude Farrère

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.