Laura sớm nhận ra rằng ở Washington có ba tầng lớp quý tộc rõ rệt. Một trong số đó, được mệnh danh là Giới Cổ Điển, bao gồm những gia đình lâu đời, danh giá và học thức, những người luôn tự hào nhìn về một dòng dõi từ thuở khai sinh nước cộng hòa cho đến nay vẫn luôn giữ trọng trách trong các hội đồng và cuộc chiến của quốc gia. Thật khó để có thể bước chân vào vòng tròn lựa chọn khắt khe ấy. Tầng lớp thứ hai là tầng lớp trung gian — về họ, ta sẽ bàn sau. Tầng lớp thứ ba nằm ở phía bên kia; và chúng ta sẽ nói đôi điều về họ ngay tại đây. Ta có thể gọi họ là Giới Trọc Phú — quả thực, công chúng vẫn gọi họ như vậy. Địa vị chính quyền, bất kể đạt được bằng cách nào, cũng trao cho một người một chỗ đứng trong giới này, đồng thời kéo theo cả gia đình họ, không màng đến gốc gác xuất thân. Sự giàu có lớn lao mang lại cho một người một vị thế cao sang và quý phái hơn cả địa vị chính quyền. Nếu khối tài sản ấy được thu về nhờ sự mưu trí chói lọi, kèm theo chút gia vị bất hợp pháp đầy thú vị thì lại càng tuyệt vời hơn. Tầng lớp này sống “bạt mạng” và chẳng hề e ngại thói phô trương.
Giới Cổ Điển phớt lờ giới Trọc Phú; còn giới Trọc Phú thì cười nhạo giới Cổ Điển (và thầm ghen tị với họ).
Có những phong tục “xã giao” quan trọng mà một người ở vị thế như Laura cần phải hiểu rõ. Chẳng hạn, khi một phu nhân có đôi chút tên tuổi đến sinh sống tại một thành phố của chúng ta, tất cả các phu nhân cùng bậc sẽ lần lượt đến thăm xã giao lần đầu, trao thiệp cho người hầu ở cửa để làm thủ tục diện kiến. Họ đến một mình, đôi khi đi thành cặp, và luôn diện những bộ trang phục lộng lẫy nhất. Họ trò chuyện trong vòng hai phút mười lăm giây rồi cáo lui. Nếu vị phu nhân tiếp chuyện muốn duy trì mối quan hệ, cô ấy phải đáp lễ trong vòng hai tuần; lơ là việc đó quá thời hạn ấy đồng nghĩa với việc “bỏ qua sự việc”. Nhưng nếu cô ấy đáp lễ trong vòng hai tuần, thì khi đó quyền tiếp tục hay chấm dứt mối quan hệ lại thuộc về vị khách kia. Cô ấy sẽ bày tỏ thiện chí muốn tiếp tục bằng cách đến thăm lần nữa vào bất cứ lúc nào trong vòng mười hai tháng; sau đó, nếu hai bên vẫn tiếp tục đến thăm nhau mỗi năm một lần, tại các thành phố lớn của chúng ta, như vậy là đủ và mối quan hệ xã hội vẫn được duy trì tốt đẹp. Mọi chuyện cứ thế diễn ra suôn sẻ. Những chuyến thăm thường niên được thực hiện và đáp lại với sự đều đặn bình yên cùng sự hài lòng ôn hòa, dẫu cho hai vị phu nhân chẳng nhất thiết phải giáp mặt nhau thường xuyên hơn một lần trong vài năm. Những tấm thiệp của họ giữ cho sự thân mật và mối quan hệ được nguyên vẹn.
Chẳng hạn, phu nhân A. thực hiện chuyến thăm thường niên, ngồi trên xe ngựa và cho người gửi thiệp vào với góc dưới bên phải được gập xuống, ngụ ý rằng bà đã “tự thân đến thăm”; phu nhân B. nhắn bảo rằng mình đang “bận” hoặc “xin cáo lỗi” — hoặc nếu bà ta là kẻ trọc phú kém giáo dục, có lẽ bà ta sẽ nhắn là “không có nhà”. Rất tốt; phu nhân A. tiếp tục lên đường trong niềm vui và sự thỏa mãn. Nếu con gái phu nhân A. kết hôn, hoặc gia đình có thêm con cái, phu nhân B. liền đến thăm, gửi thiệp với góc trên bên trái được gập xuống, rồi tiếp tục lo việc của mình — bởi vì chiếc góc gập ấy có nghĩa là “Chúc mừng”. Nếu chồng phu nhân B. ngã cầu thang và gãy cổ, phu nhân A. sẽ đến, để lại tấm thiệp với góc trên bên phải được gập xuống, rồi ra về; góc này có nghĩa là “Chia buồn”. Việc nắm rõ các góc thiệp là vô cùng quan trọng, nếu không người ta có thể vô tình chia buồn với bạn mình trong một đám cưới hoặc chúc mừng cô ấy nhân dịp tang lễ. Nếu vị phu nhân nào sắp rời khỏi thành phố, cô ấy sẽ đến nhà người kia và để lại tấm thiệp có khắc chữ “P. P. C.” ngay dưới tên — ngụ ý là “Đến chào từ biệt”. Nhưng thế là đủ về phép xã giao. Laura đã sớm được một người thầy dìu dắt am tường những bí ẩn của đời sống thượng lưu, và nhờ đó tránh được những rắc rối do nhầm lẫn.
Cuối cùng, chuyến thăm xã giao đầu tiên mà cô nhận được từ một thành viên thuộc giới quý tộc lâu đời, tức giới Cổ Điển, cũng có khuôn mẫu y hệt như tất cả những chuyến thăm sau đó từ nhánh quý tộc ấy. Chuyến thăm này do phu nhân Thiếu tướng Fulke-Fulkerson cùng con gái thực hiện. Họ lái xe đến vào lúc một giờ chiều trên một chiếc xe ngựa khá cổ kính với huy hiệu đã phai màu trên cánh cửa xe, người đánh xe là một nô lệ da đen tóc đã điểm bạc ngồi trên ghế cao và một thanh niên da màu trẻ hơn ngồi bên cạnh — làm chân gác cửa. Cả hai người hầu này đều mặc bộ đồng phục màu nâu xỉn đã qua sử dụng khá nhiều.

Hai quý bà bước vào phòng khách với phong thái chuẩn mực; nghĩa là, bà góa phụ thì mang vẻ uy nghi thời Nữ hoàng Elizabeth, còn cô con gái thì sở hữu nét duyên dáng và đường bệ đầy tự nhiên, phảng phất một nét gì đó không tên gợi lên ý thức về sự bề trên. Trang phục của cả hai người vô cùng sang trọng về chất liệu, nhưng lại nhún nhường đến kinh ngạc về màu sắc và họa tiết trang trí. Sau khi tất cả đã an tọa, bà góa phụ cất lời với một câu nói có hình thức không có gì là lạ lùng, thế nhưng khi thốt ra từ đôi môi bà, nó lại mang sức nặng trĩu uy nghiêm như lời kinh thánh:
“Thời tiết dạo này thật bất lợi phải không cô Hawkins.”
“Quả thực là vậy,” Laura đáp. “Khí hậu dạo này có vẻ thất thường.”
“Từ xưa bản chất ở đây đã thế rồi,” cô con gái nói — thoạt nhìn chỉ như đang trần thuật một sự thật, và qua cung cách của cô, mọi trách nhiệm cá nhân đối với điều đó dường như đều được gạt bỏ. “Chẳng phải vậy sao thưa mẹ?”
“Đúng thế con yêu. Cô có thích mùa đông không, cô Hawkins?” Bà phát âm từ “thích” cứ như thể bà đinh ninh ý nghĩa trong từ điển của nó là “phê chuẩn”.
“Không thích bằng mùa hè — dẫu tôi nghĩ mùa nào cũng có nét cuốn hút riêng.”
“Đó là một nhận xét rất xác đáng. Thiếu tướng cũng có quan điểm tương tự. Ông cho rằng tuyết rơi vào mùa đông là đúng điệu; cái oi ả mùa hè là hợp lẽ; sương giá mùa thu cũng vậy, và mưa mùa xuân thì chẳng có gì đáng trách. Ông không phải là một người khó tính. Và giờ tôi chợt nhớ ra rằng ông luôn ngưỡng mộ sấm sét. Con có nhớ không con gái, cha con luôn ngưỡng mộ sấm sét cơ mà?”
“Cha tôn sùng nó.”
“Chắc hẳn nó gợi cho ông nhớ đến chiến trận,” Laura nói.
“Vâng, tôi nghĩ có lẽ là thế. Ông dành sự kính trọng lớn lao cho Tự nhiên. Ông thường nói đại dương có điều gì đó rất đỗi ấn tượng. Con có nhớ cha từng nói điều đó không, con gái?”
“Vâng, thưa mẹ, rất thường xuyên. Con nhớ rõ lắm.”
“Và những trận cuồng phong... Ông cực kỳ hứng thú với cuồng phong. Cả loài vật nữa. Nhất là loài chó — chó săn. Thêm cả sao chổi nữa chứ. Tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng có những sở thích riêng. Tôi cho rằng chính điều này mang lại sự đa dạng cho khẩu vị của chúng ta.”
Laura đồng tình với quan điểm này.
“Cô có thấy khó khăn và cô đơn khi ở quá xa quê hương và bạn bè không, cô Hawkins?”
“Đôi lúc tôi cũng thấy chán nản, nhưng bù lại xung quanh tôi ở đây có quá nhiều điều mới mẻ và thú vị khiến những ngày tháng của tôi ngập tràn ánh nắng hơn là bóng râm.”
“Washington không phải là một thành phố tẻ nhạt vào mùa cao điểm,” cô con gái nói. “Quả thực chúng tôi có một vài hội nhóm xã hội rất tốt, và người ta không phải loay hoay tìm cách tiêu khiển sao cho thú vị. Cô có thích những khu nghỉ dưỡng suối khoáng không, cô Hawkins?”
“Thú thực tôi chưa có kinh nghiệm gì về chúng, nhưng tôi vẫn luôn ấp ủ khao khát được một lần mục sở thị đời sống thượng lưu tại các khu nghỉ dưỡng.”
“Về mặt đó, chúng tôi những người ở Washington lại lâm vào hoàn cảnh không may,” bà góa phụ nói. “Đó là một khoảng cách đầy mệt mỏi để đến Newport. Nhưng chẳng còn cách nào khác.”
Laura tự nhủ, “Long Branch và Cape May còn gần hơn Newport; chắc hẳn những chốn đó thuộc loại hạ lưu; để tôi dò dẫm xem sao.” Rồi cô cất lời:
“Ơ hay tôi cứ ngỡ rằng Long Branch—”
Chẳng cần phải “dò dẫm” thêm nữa — biểu cảm hiện trên cả hai khuôn mặt trước mặt cô đã phơi bày rõ mười mươi sự thật đó. Bà góa phụ phán rằng:
“Chẳng ai đến đó cả, cô Hawkins — ít ra thì cũng chỉ có những kẻ vô gia cư trong xã hội. Cả Tổng thống nữa.” Bà điềm tĩnh bổ sung thêm câu nói ấy.
“Newport ẩm ướt, lạnh lẽo, lộng gió và vô cùng khó chịu,” cô con gái tiếp lời, “nhưng nơi đó rất lọc lựa. Người ta không thể cứ kén cá chọn canh về những tiểu tiết khi chẳng có sự lựa chọn nào khác.”
Lúc này cuộc viếng thăm đã kéo dài gần ba phút. Cả hai quý bà đứng dậy với vẻ trang nghiêm kính cẩn, đưa ra lời mời xã giao chính thức dành cho Laura, rồi cáo lui khỏi buổi gặp mặt. Laura ở lại phòng khách và để mặc họ tự tìm đường ra khỏi nhà — một hành động có vẻ thiếu hiếu khách đối với cô, nhưng dẫu sao cô đang tuân thủ đúng những gì được dạy. Cô đứng thừ người chìm đắm trong mộng tưởng một lúc, rồi lẩm bẩm:
“Tôi nghĩ mình có thể mãi mãi thưởng ngoạn những khối băng trôi — với tư cách là phong cảnh chứ tuyệt đối không phải để kết giao.”
Dẫu vậy, cô thừa biết tiếng tăm của hai con người này, và ý thức được rằng họ không phải là những tảng băng trôi khi ở trong vùng biển của chính họ và giữa những bối cảnh thuộc về họ, trái lại họ là những con người đáng kính vì phẩm chất trong sạch, đáng trân trọng vì những đức tính xã hội cùng lòng trắc ẩn. Cô thấy thật tiếc nuối khi họ lại phải biến thành những sinh vật thay đổi đến ảm đạm như vậy trong các dịp trọng đại.
Cuộc viếng thăm đầu tiên mà Laura nhận được từ phía thái cực bên kia của tầng lớp quý tộc Washington nối tiếp ngay sát gót cuộc viếng thăm mà chúng ta vừa miêu tả. Những vị khách đến lần này là phu nhân Nghị sĩ Oliver Higgins, phu nhân Nghị sĩ Patrique Oreille (được phát âm là O-relay), tiểu thư Bridget (được phát âm là Breezhay) Oreille, phu nhân Peter Gashly, tiểu thư Gashly và tiểu thư Emmeline Gashly.
Ba chiếc xe ngựa cập cửa cùng một thời điểm từ những hướng khác nhau. Chúng đều là xe mới và sáng bóng đến kỳ lạ, những chi tiết bằng đồng trên bộ dây cương được đánh bóng lóa mắt và khắc những chữ lồng phức tạp. Cả những huy hiệu phô trương cùng châm ngôn bằng tiếng Latinh cũng hiện diện trên xe. Những kẻ đánh xe và gác cửa khoác lên mình bộ đồng phục mới tinh với những gam màu nổi bật, trên vành những chiếc mũ cao bồi của họ gắn những bông hoa thị màu đen với chiếc chổi cạo râu nhô lên phía trên.
Khi đám khách khứa ùa vào phòng khách, họ làm ngập tràn không gian bằng thứ mùi ngọt ngào đến ngạt thở mua từ tiệm nước hoa. Trang phục của họ, xét về mặt kiến trúc, chính là mốt thời trang mới nhất được đẩy lên đỉnh điểm; chúng rực rỡ sắc cầu vồng; chúng đính đầy ngọc ngọ — chủ yếu là kim cương. Bất kỳ ai nhìn vào cũng có thể nhận thấy đã tốn không ít tiền của để bọc lót cho những người phụ nữ này.
Phu nhân Nghị sĩ Oliver Higgins là vợ của một đại biểu đến từ một vùng lãnh thổ xa xôi — một quý ông từng làm chủ một “quán rượu” chính hiệu, chuyên bán loại rượu whisky ngon nhất tại ngôi làng trọng yếu chốn hoang vu của ông ta, và hiển nhiên, ông được công nhận là nhân vật số một của thịnh vượng chung ấy đồng thời là đại diện ưu tú nhất của vùng đất đó.
Ông là người có sức ảnh hưởng tối thượng tại quê nhà, bởi ông mang tinh thần vì cộng đồng, là đội trưởng đội cứu hỏa, sở hữu vốn từ ngữ thô tục siêu việt, và từng hạ sát vài “tên”. Phần ngực áo sơ mi của ông luôn trắng tinh không một vết bẩn; những đôi bốt được đánh bóng nuột nà, và chẳng ai có thể nhấc chân lên rồi dùng chiếc khăn tay trắng ngọc ngà lau sạch một hạt bụi lạc điệu với phong thái tao nhã hơn ông; sợi dây đồng hồ của ông nặng trọn một cân Anh; viên vàng trên nhẫn của ông trị giá bốn mươi lăm đô la; ông đeo một chiếc ghim cài áo đính cụm kim cương và chải tóc rẽ ngôi về phía sau. Ông vẫn luôn được nhìn nhận là quý ông hào hoa nhất tại vùng lãnh thổ của mình, và ai nấy đều thừa nhận rằng ở vùng đất đó chẳng có lấy một ai bén mẩn được tới sự ngang hàng với ông trong khoản kể chuyện đồi trụy, ngoại trừ chính ngài thống đốc tóc bạc phơ đáng kính. Nghị sĩ Higgins đến Washington để phụng sự Tổ quốc không phải để nhận về tay trắng. Khoản ngân sách mà ông đã xoay sở thông qua được Quốc hội để duy trì đời sống cho người da đỏ ở Lãnh thổ của ông đáng lẽ đã có thể biến tất cả những kẻ hoang dã đó thành triệu phú nếu như nó thực sự đến được tay họ.

Phu nhân Higgins là một phụ nữ có vẻ ngoài đậm chất hội họa, miệng lưỡi lưu loát, và giữ một vị thế tương đối cao trong giới trọc phú. Nhìn chung tiếng Anh của bà ta khá ổn — dẫu cho vì gốc gác New York, bà ta vướng phải thói quen đặc trưng của nhiều người sinh ra tại thành phố đó là phát âm từ saw (cưa) và law (luật) cứ như thể chúng được đánh vần thành sawr và lawr.
Dầu mỏ chính là tác nhân đã đột ngột biến gia đình Gashly từ những con người làng quê khiêm nhường chăm chỉ thành một tầng lớp quý tộc “huênh hoang” và là niềm tự hào của chốn thị thành.
Nghị sĩ Patrique Oreille là một người Pháp giàu có đến từ Cork. Không phải là ông giàu có khi mới từ Cork đặt chân đến, mà hoàn toàn ngược lại. Khi mới cập cảng New York cùng người vợ, ông ta chỉ dừng chân tại Castle Garden vài phút để nhận và trưng ra những giấy tờ chứng minh mình đã cư trú tại đất nước này hai năm — rồi sau đó ông ta bỏ phiếu cho đảng dân chủ và đi ngược lên khu phố trên để tìm nhà. Ông tìm được một căn và rồi bắt đầu công việc phụ tá cho một kiến trúc sư kiêm thầu xây dựng, mang vác hồ suốt cả ngày vàùi mài kinh sử học chính trị vào các buổi tối. Sự siêng năng và tằn tiện nhanh chóng giúp ông mở một tiệm bán rượu lậu tồi tàn ở một khu vực nhếch nhác, và chính điều này đã mang lại cho ông ảnh hưởng chính trị. Ở đất nước chúng ta, mối quan tâm hàng đầu của chúng ta luôn là bảo đảm người dân có cơ hội bầu chọn theo ý muốn những con người đại diện và cai quản họ — chúng ta không cho phép các quan chức cấp cao tự ý bổ nhiệm các quan chức cấp thấp. Chúng ta thích nắm giữ thứ quyền lực to lớn dường ấy trong chính đôi tay mình. Chúng ta cho rằng việc tự bầu ra các thẩm phán và tất cả những người khác là con đường an toàn nhất. Tại các thành phố của chúng ta, những cuộc họp phường sẽ bầu ra các đại biểu dự đại hội đề cử và chỉ thị họ đề cử ai. Những chủ quán rượu cùng vây cánh của họ thống trị các cuộc họp phường (bởi vì mọi người khác đều ngán ngẩm nỗi phiền toái của chính trị và trốn ở nhà); các đại biểu từ những cuộc họp phường tập hợp lại thành một đại hội đề cử và lập ra danh sách các ứng viên — đại hội này đưa ra danh sách những kẻ liêm khiết theo đường lối dân chủ còn đại hội kia theo đường lối cộng hòa; và rồi đông đảo công chúng hiền lành sẽ tiến bước vào thời điểm thích hợp để đưa ra sự lựa chọn không chút vướng bận và cảm tạ Thiên đường vì họ được sống trên mảnh đất tự do nơi không một hình thức độc tài nào có thể bén mảng tới.

Patrick O’Riley (tên gọi của ông ta khi đó) nhanh chóng tạo dựng được bè bạn và thế lực, bởi ông ta luôn túc trực tại các tòa án cảnh sát để bảo lãnh trá hình cho các khách hàng của mình hoặc dựng lên bằng chứng ngoại phạm cho họ trong trường hợp họ đánh ai đó suýt chết ngay trong quán của ông ta. Hệ quả là chẳng mấy chốc ông trở thành một thủ lĩnh chính trị, và được bầu vào một chức vụ nhỏ nhặt trong bộ máy chính quyền thành phố. Từ đồng lương còm cõi, chẳng mấy chốc ông đã dành dụm đủ tiền để mở một quán rượu khá sang trọng ở khu phố trên cao hơn, kèm theo một sòng bạc faro và nguồn vốn dồi dào để vận hành nó. Điều này mang lại cho ông danh tiếng cùng sự nể trọng lớn lao. Chức vụ ủy viên hội đồng thành phố được áp đặt lên người ông, và nó chẳng khác nào dâng hiến cho ông một mỏ vàng. Bấy giờ ông đã sở hữu những cỗ xe ngựa kiều diễm và đóng cửa nhà máy rượu whisky của mình.
Chẳng bao lâu sau, ông trở thành một nhà thầu lớn cho các công trình thành phố, và là bạn tri kỷ của chính nhân vật vĩ đại kiêm hiền tài Wm. M. Weed — kẻ từng vơ vét 20.600.000 đô la từ ngân sách thành phố và là một con người được ghen tị, được kính trọng đến mức — phải, được tôn sùng đến độ khi viên cảnh sát trưởng đến văn phòng để bắt giữ hắn như một tên tội phạm, chính viên cảnh sát trưởng ấy lại đỏ mặt cất lời xin lỗi, còn một tờ báo có tranh minh họa đã vẽ lại khung cảnh đó và bàn luận về sự việc theo cách cho thấy vị chủ biên vô cùng tiếc nuối khi hành vi bắt giữ lại bị giáng xuống một nhân vật cao quý như ngài Weed.
Ông O’Riley cung cấp đinh đóng ván cho Tòa án mới với giá ba nghìn đô la một thùng, và mười tám tá nhiệt kế loại 60 xu với giá một nghìn rưỡi đô la một tá; bộ điều khiển cùng hội đồng kiểm toán đã phê chuẩn các hóa đơn ấy, và một vị thị trưởng, kẻ đơn thuần ngu dốt chứ không phạm tội, đã đặt bút ký vào đó. Khi tiền được thanh toán, những người hâm mộ ông O’Riley đã tặng ông một chiếc ghim cài áo đính viên kim cương đơn to bằng hạt phỉ, mô phỏng theo sự hào phóng của những bằng hữu bên phía ngài Weed, và rồi ông O’Riley rút khỏi vũ đài chính trị, tự tiêu khiển bằng cách mua lại bất động sản với mức giá trên trời và đứng tên hộ người khác. Chẳng bao lâu sau, các tờ báo phanh phui mọi chuyện và gọi Weed cùng O’Riley là những kẻ “trộm cắp,” — nhân đà đó, người dân đồng lòng vùng lên (bằng cách đi bầu cử nhiều lần) và đưa hai vị quý ông trở về đúng sân khấu hoạt động đích thực của họ, đó là cơ quan lập pháp New York. Các tờ báo hò hét réo gọi, và các tòa án tiến hành xét xử các nhà lập pháp mới nổi vì những sai phạm nhỏ nhặt của họ. Hệ thống bồi thẩm đoàn tuyệt vời của chúng ta đã giúp những cựu quan chức bị bức hại tuyển chọn được một bồi thẩm đoàn gồm chín quý ông đến từ một nhà thương điên gần đó cùng ba cựu học sinh trường Sing-Sing, và chẳng mấy chốc họ hiên ngang bước ra với thanh danh được rửa sạch. Cơ quan lập pháp được kêu gọi hãy khạc nhổ vào mặt họ — một việc mà cơ quan lập pháp từ chối làm. Nó chẳng khác nào việc sai lũ trẻ chối bỏ chính người cha ruột của chúng. Đó là một cơ quan lập pháp theo mẫu hình hiện đại.
Giờ đây khi đã giàu có và nổi danh, ông O’Riley, vẫn mang danh xưng lập pháp “Nghị sĩ” gắn liền với tên mình (bởi các tước hiệu ở Mỹ chẳng bao giờ chết đi, dẫu cho chúng ta mang niềm tự hào cộng hòa ra để nhạo báng những thứ vụn vặt ấy), đã cùng gia đình đáp tàu sang châu Âu. Họ chu du khắp chốn, hếch mũi lên với vạn vật, và việc đó chẳng có gì là khó khăn đối với họ cả, bởi tạo hóa vốn dĩ đã ban cho những chiếc mũi ấy một góc độ hướng thẳng lên trời; và cuối cùng họ định cư tại Paris, chốn Thiên đường của những người Mỹ đồng loại như họ. Họ lưu lại đó hai năm và học cách nói tiếng Anh với giọng nước ngoài — không phải vì tiếng Anh của họ vốn dĩ chưa từng mang âm hưởng ngoại quốc (thực tế đúng là vậy) mà giờ đây bản chất của nó đã thay đổi. Cuối cùng họ trở về quê hương và trở thành những kẻ cuồng tín thời trang. Họ cập bến nơi này với danh nghĩa Nghị sĩ Patrique Oreille cùng gia đình, và được người đời biết đến cho tận ngày nay.

Laura sắp xếp chỗ ngồi cho những vị khách và họ lập tức lao vào một cuộc trò chuyện lộng gió, lấp lánh với sự tự tin đầy thoải mái chỉ có thể tìm thấy ở những con người quen thuộc với đời sống thượng lưu.
“Tôi vẫn hằng định ghé thăm sớm hơn, cô Hawkins,” phu nhân Oreille nói, “nhưng thời tiết tệ hại quá. Cô thấy Washington thế nào?”
Laura thấy nơi này thực sự rất tuyệt.
Phu nhân Gashly — “Đây là chuyến thăm đầu tiên của cô phải không?”
Vâng, đây là lần đầu tiên.
Tất cả — “Thật thế sao?”
Phu nhân Oreille — “Tôi e rằng cô sẽ khinh miệt thời tiết ở đây thôi, cô Hawkins. Nó kinh khủng lắm. Lúc nào cũng vậy. Tôi hay bảo ông Oreille rằng tôi không thể và sẽ không thèm chịu được một thứ khí hậu như thế. Nếu bắt buộc phải chịu đựng thì tôi chẳng nói làm gì; đằng này chúng ta có bị bắt buộc đâu, thế nên tôi chẳng hiểu nổi mục đích của nó là gì. Đôi lúc ngắm nhìn lũ trẻ khát khao hướng về Paris mà thấy thật đáng thương — đừng buồn thế chứ Bridget, ‘ma chere’ — con bé tội nghiệp, nó không tài nào nghe nhắc đến Paris mà không thấy chán nản.”
Phu nhân Gashly — “Vâng tôi cũng nghĩ vậy, thưa phu nhân Oreille. Người ta chỉ gọi là tồn tại ở đây, chứ sống thì phải ở Paris. Tôi đắm chìm vào Paris; thà tôi chịu cảnh tằn tiện với mười nghìn đô la một năm ở trển, còn hơn là phải chịu đựng và lo âu ở đây với một nguồn thu nhập tươm tất thực sự.”
Tiểu thư Gashly — “Vậy thì, con mong mẹ hãy đưa chúng con trở lại đó; con chắc chắn rằng mình căm ghét cái xứ sở ngu ngốc này lắm rồi, dẫu nó có là quê hương thân yêu đi chăng nữa.”
Tiểu thư Emmeline Gashly — “Sao cơ, thế còn để mặc tội nghiệp Johnny Peterson ở lại à?” [Một tràng cười thoáng đãng, hào sảng hưởng ứng câu nói đùa này].
Tiểu thư Gashly — “Chị kì lắm nhé, em phải thấy xấu hổ về bản thân mới đúng!”
Tiểu thư Emmeline — “Ôi, việc gì mà phải xù lông lên thế: Chị chỉ đùa thôi mà. Cậu ta đến nhà mình mỗi tối có ý nghĩa gì đâu — chỉ đến để thăm mẹ thôi chứ gì. Dĩ nhiên là thế rồi!” [Cười rộ lên chung].
Tiểu thư G. bối rối ra chiều đáng yêu — “Emmeline, sao em cứ thích trêu thế!”
Phu nhân G. — “Thôi đừng trêu em nó nữa Emmeline. Mẹ chưa từng thấy ai hay trêu chọc như con!”
Phu nhân Oreille — “Những chuỗi san hô của cô đẹp quá, cô Hawkins! Nhìn chúng kìa, Bridget cưng. Tôi có niềm đam mê mãnh liệt với san hô — chỉ tiếc là dạo này chúng hơi bị phổ biến quá mức. Tôi cũng có vài chuỗi sang trọng — dẫu không sang bằng của cô đâu — nhưng ngài đương nhiên là tôi không đeo chúng bây giờ rồi.”
Laura — “Tôi đoán chúng cũng khá tầm thường, nhưng dẫu sao tôi vẫn dành tình cảm lớn cho những món này, bởi vì chúng được trao tặng bởi một người bạn già đáng quý của gia đình chúng tôi tên là Murphy. Ông ấy là một người vô cùng cuốn hút, nhưng cũng rất kỳ cục. Chúng tôi luôn đinh ninh ông là người Ai-len, nhưng sau khi giàu lên, ông đi nước ngoài một hai năm, và khi trở về, cô sẽ thấy thú vị biết bao khi chứng kiến ông ta tỏ ra vô cùng hứng thú với một củ khoai tây.

Ông ấy hỏi đó là cái gì! Giờ thì cô biết đấy, khi Tạo hóa nhào nặn ra một cái miệng sinh ra là để dành riêng cho việc dung thân của một củ khoai tây, cô có thể nhận ra điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên khi cái miệng ấy ở trạng thái nghỉ ngơi — những chuyến du ngoạn nước ngoài chẳng bao giờ có thể xóa nhòa dấu vết ấy. Nhưng ông ấy là một quý ông rất đỗi tuyệt vời, và tật xấu nhỏ nhoi ấy chẳng tổn hại gì đến ông cả. Ai trong chúng ta cũng có những lớp mặt nạ — tôi cho rằng đâu đó trong mỗi con người đều tồn tại một sự giả dối, nếu chúng ta xoay sở moi móc nó ra được. Tôi rất rất muốn đến Pháp. Tôi đoán hội nhóm của chúng ta ở đây sánh ngang khá tốt với xã hội Pháp phải không thưa phu nhân Oreille?”
Phu nhân O. — “Không đời nào đâu, cô Hawkins! Xã hội Pháp thanh lịch hơn nhiều — vượt trội hơn hẳn.”
Laura — “Tôi lấy làm tiếc khi nghe điều đó. Tôi đoán giới thượng lưu của chúng ta gần đây đã sa sút.”
Phu nhân O. — “Sa sút lắm chứ lỵ. Có những kẻ bước chân vào giới thượng lưu ở đây mà thực chất tiền để sống chẳng hơn gì số tiền một vài người trong chúng ta trả cho tiền thuê người hầu. Dẫu vậy tôi không dám chắc có vài người trong số họ là những con người vô cùng tốt đẹp — lại còn đáng kính nữa chứ.”
Laura — “Những gia đình lâu đời hình như đang tự cô lập mình, theo những gì tôi nghe được. Tôi đoán dạo này hiếm khi cô gặp lại trong xã hội những con người mà cô từng thân thiết mười hai hay mười lăm năm trước nhỉ?”
Phu nhân O. — “Ồ, không — hầu như không bao giờ.”
Thời đó ông O’Riley từng mở tiệm rượu lậu đầu tiên và che chở cho khách hàng trước pháp luật, và cú bẻ lái trong câu chuyện này khiến phu nhân cảm thấy không mấy dễ chịu cho lắm.
Phu nhân Nghị sĩ Higgins — “Dạo này sức khỏe của Francois thế nào rồi, phu nhân Oreille?”
Phu nhân O. — (Thầm tạ ơn vì có người cứu nguy) — “Không được khỏe cho lắm. Người ta chẳng thể mong đợi gì hơn. Nó vốn dĩ ốm yếu từ bé — nhất là phần phổi — và thứ khí hậu gớm ghiếc này tác động mạnh mẽ lên nó lúc này, nhất là sau khi sống ở Paris, nơi có khí hậu ôn hòa biết bao.”
Phu nhân H. — “Tôi cũng nghĩ thế. Chồng tôi bảo Percy sẽ chết mất nếu không chịu đổi gió; thế nên tôi sắp sửa đi vòng quanh xem xét xem có thể làm gì được đây. Tuần trước tôi gặp một quý bà đến từ Florida, và bà ấy gợi ý Key West. Tôi bảo bà ấy Percy không tài nào chịu được gió, vì nó đang có nguy cơ mắc bệnh phổi, và rồi bà ấy bảo hãy thử St. Augustine. Khoảng cách xa kinh khủng — mười hoặc mười hai trăm dặm, họ nói thế — nhưng ngặt nỗi trong trường hợp như thế này — người ta không thể chùn bước vì phiền toái được, cô biết đấy.”
Phu nhân O. — “Không, dĩ nhiên là gạt đi rồi. Nếu Francois không khá hơn sớm, chúng tôi buộc phải tìm kiếm nơi nào khác, hoặc không thì sang châu Âu. Chúng tôi từng nghĩ đến suối khoáng nóng, nhưng tôi không biết nữa. Đó là một trách nhiệm lớn lao và người ta cần phải cẩn trọng. Hildebrand đã đi lại được chưa, phu nhân Gashly?”
Phu nhân G. — “Vâng, nhưng chỉ được thế thôi. Đó là chứng khó tiêu, cô biết đấy, và có vẻ như nó đã thành mãn tính. Và cô biết đấy tôi cực kỳ khiếp sợ chứng khó tiêu. Tất cả chúng tôi đều vô cùng lo lắng cho nó. Bác sĩ khuyên dùng táo nướng và thịt hỏng, và tôi nghĩ nó đã giúp ích cho con bé. Đó gần như là thứ duy nhất có thể lưu lại trong dạ dày nó dạo gần đây. Giờ chúng tôi đang khám bác sĩ Shovel. Bác sĩ của cô là ai thế, phu nhân Higgins?”
Phu nhân H. — “À, chúng tôi từng theo bác sĩ Spooner một thời gian dài, nhưng ông ta quá lạm dụng thuốc gây nôn, thứ mà tôi nghĩ làm cơ thể suy nhược, thế nên chúng tôi đổi sang bác sĩ Leathers. Chúng tôi rất ưng ý ông ấy. Ông ấy cũng có tiếng tăm lừng lẫy khắp châu Âu đấy. Điều đầu tiên ông ấy gợi ý cho Percy là đưa nó ra sân sau hóng mát vào mỗi buổi chiều, với cơ thể hoàn toàn trần trụi không mảnh vải che thân.”
Phu nhân O. và phu nhân G. — “Cái gì!”
Phu nhân H. — “Thật như Chúa đang ngự trị ở đây này. Và thực sự nó đã giúp ích cho con bé trong hai hoặc ba ngày; đúng là thế đấy. Nhưng sau đó bác sĩ bảo phương pháp này có vẻ quá khắc nghiệt nên ông ấy quay lại với bài thuốc ngâm chân nước nóng vào ban đêm và tắm vòi sen lạnh vào buổi sáng. Nhưng tôi không tin có thể tìm được phương thuốc chữa trị lành lặn nào cho nó trong một thứ khí hậu thế này đâu. Tôi tin rằng chúng ta sắp sửa mất nó nếu không chịu thay đổi chỗ ở.”
Phu nhân O. — “Chắc cô có nghe về vụ hoảng loạn mà chúng tôi trải qua hai tuần trước vào ngày thứ Bảy chứ? Không á? Ơ hay lạ thật — nhưng ngẫm lại, tất cả các cô đều đi Richmond cả mà. Francois ngã từ trên cửa sổ trời — ở hành lang tầng hai rơi thẳng xuống tầng trệt—”
Tất cả — “Chúa ơi!”
Phu nhân O. — “Thật đấy — và gãy hai cái xương sườn—”
Tất cả — “Cái gì!”
Phu nhân O. — “Thật như cô đang sống vậy. Thoạt đầu chúng tôi nghĩ nội tạng nó chắc chắn bị tổn thương nặng. Khi ấy là 8 giờ 15 phút tối. Dĩ nhiên là tất cả chúng tôi hoảng loạn trong chốc lát — ai nấy chạy toán loạn khắp nơi, mà chẳng ai làm được việc gì nên hồn cả. Chẳng mấy chốc tôi phóng sang nhà bên cạnh và lôi cổ bác sĩ Sprague vào — Viện trưởng Đại học Y khoa — dĩ nhiên là chẳng có thời gian đi tìm bác sĩ riêng của nhà mình — và ngay phút nhìn thấy Francois, ông ấy phán, ‘Hãy gọi bác sĩ của nhà bà đi, thưa phu nhân;’ lại còn quát tháo cáu kỉnh như gấu cục cằn, rồi quay ngoắt gót chân, chuồn thẳng mà chẳng làm quái gì cả!”
Tất cả — “Tên khốn kiếp ti tiện đê tiện!”
Phu nhân O. — “Vâng cô nói không ngoa đâu. Lúc đó tôi suýt phát điên. Nhưng chúng tôi hối hả sai người hầu đi tìm bác sĩ riêng và đánh điện cho mẹ tôi — bà đang ở New York và lao xuống bằng chuyến tàu đầu tiên; và khi bác sĩ đến nơi, ôi chao ngài ta phát hiện ra Francois còn bị gãy cả một chân nữa!”
Tất cả — “Trời ạ!”
Phu nhân O. — “Vâng. Thế là ông ấy nắn chân băng bó lại, sửa lại xương sườn cho nó và cho uống một liều thuốc gì đó để làm dịu cơn chấn động rồi dỗ nó ngủ — tội nghiệp con vật run lẩy bẩy và sợ chết khiếp, nhìn thương lắm. Chúng tôi đặt nó nằm trên giường tôi — ông Oreille ngủ ở phòng khách còn tôi ngả lưng bên cạnh Francois — nhưng ngài đừng hòng mà ngủ được nhé, không đời nào. Bridget và tôi thức trắng đêm, và bác sĩ ở lại tận hai giờ sáng, phúc đức cho trái tim già nua của ông ấy. — Khi mẹ tôi đến nơi, bà kiệt quệ vì lo lắng đến nỗi phải lên giường nằm và gọi bác sĩ; nhưng khi phát hiện ra Francois không gặp nguy hiểm trước mắt, bà hồi sức, và đến tối đã có thể tự mình túc trực canh chừng. Thế đấy, trong suốt ba ngày ba đêm ba chúng tôi không hề rời khỏi bên giường bệnh ngoại trừ lúc chợp mắt đúng một tiếng đồng hồ. Và rồi bác sĩ tuyên bố Francois đã qua cơn nguy kịch và nếu trên thế giới này có tập thể nào cảm thấy biết ơn sâu sắc nhất, thì đó chính là chúng tôi.”
Lòng kính trọng của Laura dành cho những người phụ nữ này đã tăng lên trong suốt cuộc trò chuyện, điều đó hoàn toàn dễ hiểu; tình yêu thương và sự tận tụy là những phẩm chất có khả năng tô điểm và làm cho một nhân vật vốn dĩ kém hấp dẫn, thậm chí phản cảm, trở nên tươi đẹp.
Phu nhân Gashly — “Tôi thực sự tin rằng mình đã chết quách đi rồi nếu ở vào hoàn cảnh của cô, phu nhân Oreille. Khoảng thời gian Hildebrand mắc bệnh viêm phổi nặng, Emmeline và tôi thui thủi chăm nom nó một mình hầu hết thời gian và chẳng chợp mắt lấy một phút tròn suốt hai ngày hai đêm. Lúc đó chúng tôi đang ở Newport và nhất quyết không tin tưởng y tá thuê. Có buổi chiều nọ nó phát cơn động kinh, chồm dậy chạy vụt ra hiên khách sạn trên người không một mảnh vải che thân trong khi gió thổi lạnh buốt như băng còn chúng tôi thì đuổi theo sau sợ mất mật; và khi các quý ông quý bà chứng kiến nó phát bệnh, mỗi mụ đàn bà tháo thân chạy về phòng mình còn chẳng một gã đàn ông nào thò tay ra giúp đỡ, lũ khốn kiếp! Ồ sau đó mạng sống của nó treo lơ lửng trên sợi tóc suốt mười ngày trời, và ngay giây phút nó qua cơn nguy kịch là Emmeline với tôi lăn ra ốm o kiệt sức. Tôi chẳng bao giờ muốn trải qua quãng thời gian như thế thêm lần nào nữa. Francois thân yêu tội nghiệp — nó gãy chân nào thế, phu nhân Oreille!”
Phu nhân O. — “Đó là chân sau bên phải của nó. Nhảy xuống nào Francois cưng, và cho các quý bà thấy vết khập khiễng đáng thương của con vẫn còn đi nào.”

Francois chần chừ, nhưng sau khi được nựng nịu và đặt nhẹ nhàng xuống sàn, nó biểu diễn rất ngoan ngoãn, với chiếc “chân sau bên phải” giơ lơ lửng trên không trung. Tất cả đều xúc động — thậm chí cả Laura — nhưng sự xáo trộn trong lòng cô lại diễn ra ở dạ dày. Cô gái vốn lớn lên ở vùng quê này đã không mờ mờ phỏng đoán được rằng cái sinh vật bò sát màu đen rám nắng kêu rên rỉ nặng tầm mười ounce, khoác trên mình chiếc áo choàng tý hon thêu đỏ và ngự trị trong lòng phu nhân Oreille suốt buổi ghé thăm lại chính là nhân vật đã khơi gợi những dòng cảm xúc hào phóng đang ngủ quên trong bản tính của cô. Cô thốt lên:
“Sinh vật nhỏ tội nghiệp! Cô suýt mất nó rồi đấy!”
Phu nhân O. — “Ôi xin lạy cô đừng nhắc đến nữa, cô Hawkins — nghe xong tôi thấy lộn cả ruột gan!”
Laura — “Thế còn Hildebrand và Percy — chúng có — có giống con này không?”
Phu nhân G. — “Không, Hilly mang trong mình kha khá máu chó săn Skye đấy tôi tin thế.”
Phu nhân H. — “Percy cũng thế, chỉ có điều nó lớn hơn hai tháng mười ngày và đã được cắt tai. Cha nó, Martin Farquhar Tupper, ốm yếu và mất sớm, nhưng sở hữu bản tính vô cùng ngọt ngào. — Mẹ nó mắc bệnh tim nhưng rất hiền lành, nhẫn nhịn và là một sát thủ săn chuột cừ khôi.”
Dù cuộc trò chuyện này có vẻ vô lý và chướng tai gai mắt đến nhường nào đối với một người không phải kẻ ngốc, thì nó hầu như chẳng hề phóng đại chút nào so với những gì một người trong chúng ta từng thực sự lắng nghe tại một phòng khách kiểu Mỹ — nếu không chúng tôi đã chẳng dám đưa một chương sách như thế vào tác phẩm tự nhận là phản ánh những khả năng xã hội ấy. — CÁC TÁC GIẢ.]
Quá đỗi say sưa chìm đắm trong sự hứng thú gắn liền với cuộc bàn thảo về các vấn đề gia đình này, đám khách khứa đã kéo dài thời gian lưu lại vượt quá giới hạn lịch sự và bất hợp thời trang; nhưng giờ đây họ sực tỉnh và cáo từ.
Sự khinh miệt của Laura là vô hạn. Càng nghĩ về những con người này và màn trò chuyện kỳ quặc của họ, cô càng thấy họ phản cảm; thế nhưng cô vẫn phải thừa nhận rằng nếu buộc phải lựa chọn giữa hai thái cực quý tộc thì có lẽ tốt nhất, nhìn nhận mọi thứ từ góc độ hoàn toàn thực tế, là cứ hòa mình vào giới trọc phú; cô đến Washington duy nhất vì mục tiêu hoàn thành một việc trọng đại và bất chấp mọi giá, và những con người này có lẽ sẽ hữu dụng đối với cô, trong khi hiển nhiên những dự định và mưu đồ lôi kéo họ của cô sẽ chẳng bao giờ lọt vào mắt xanh của giới Cổ Điển. Nếu phải đưa ra lựa chọn — và sớm muộn gì điều đó cũng xảy ra — cô tin rằng mình có thể hạ quyết tâm mà chẳng gặp mấy khó khăn hay dằn vặt.
Thế nhưng tầng lớp quý tộc tuyệt vời nhất trong ba bộ tộc Washington, và thực sự là thế lực hùng mạnh nhất, vượt trội hơn hẳn, chính là tầng lớp Trung gian: Nó được cấu thành từ gia đình của các chính khách đến từ hầu như mọi tiểu bang trong Liên bang — những con người nắm giữ trọng trách trong cả hai nhánh hành pháp và lập pháp của chính phủ, và có lý lịch trong sạch suốt nhiều năm liền, cả ở quê nhà lẫn tại thủ đô. Những quý ông này cùng gia đình họ là những con người không màng phô trương; họ có học thức và vô cùng lịch lãm; họ bận tâm rất ít đến hai tầng lớp quý tộc kia, mà bình thản di chuyển trong quỹ đạo rộng lớn của chính họ, tự tin vào sức mạnh nội tại và tường tận sức ảnh hưởng của mình. Họ chẳng có vẻ bề ngoài rườm rà nào cần phải duy trì, chẳng có sự kình địch nào khiến họ phải bận tâm đau đầu, chẳng có sự đố kỵ nào phải bứt rứt. Họ đủ khả năng để lo chuyện nhà mình và mặc kệ những phe phái khác muốn làm gì thì làm, tùy ý họ chọn lựa. Họ là những con người không tì vết, và chừng đó là quá đủ.
Thượng nghị sĩ Dilworthy chưa từng va chạm với bất kỳ phe phái nào trong số này. Ông lao động vì tất cả và sát cánh cùng tất cả mọi người. Ông tuyên bố rằng tất cả nhân loại đều là anh em và ai nấy đều xứng đáng nhận được sự giúp đỡ chân thành, vị tha cùng sự ủng hộ từ một người thợ Cơ Đốc miệt mài trong vườn nho của công chúng.
Sau khi ngẫm nghĩ, Laura quyết định để dòng sự kiện định đoạt con đường tốt nhất mà cô nên theo đuổi đối với các tầng lớp quý tộc khác nhau.
Giờ đây, độc giả có thể sẽ nghĩ rằng có lẽ Laura đã có những lời lẽ mang tính gợi ý có phần thô lỗ khi đáp lời phu nhân Oreille lúc chủ đề san hô đang được bàn tán, thế nhưng bản thân Laura lại không hề nghĩ vậy. Cô không phải là một người sở hữu sự tinh tế thái quá; thực ra, xã hội và những ảnh hưởng đã nhào nặn nên tính cách của cô chưa từng mang bản chất khiến cô trở thành một người như thế; cô cho rằng “ăn miếng trả miếng là cuộc chơi sòng phẳng,” và việc dùng châm ngôn cay độc để gạt bỏ một đòn tấn công khiêu khích là một hành động vừa khéo léo vừa hợp pháp. Đôi lúc cô trò chuyện với người khác bằng giọng điệu mà một số phu nhân sẽ cho là thực sự shock óc; nhưng Laura lại khá tự hào về vài chiến tích mang phong cách đó của mình. Chúng tôi lấy làm tiếc vì không thể biến cô thành một nữ anh hùng hoàn hảo không tì vết; nhưng chúng tôi không thể làm thế, đơn giản bởi vì cô ấy chỉ là một con người bằng xương bằng thịt.
Cô tự coi mình là một bậc thầy trò chuyện. Từ lâu, khi khả năng rằng có một ngày cô sẽ bước chân vào giới thượng lưu Washington lần đầu nảy mầm trong tâm trí, cô đã nhận thức rõ thực tế rằng kỹ năng đàm đạo thuần thục sẽ là thứ vũ khí không thể thiếu trên chiến trường đó; cô cũng nhận ra rằng vì các mối giao thiệp của mình ở đó chủ yếu phải đối đầu với đàn ông, và là những người đàn ông mà cô mặc định là có học thức và năng lực xuất chúng, cô sẽ cần trong kho tàng của mình những thứ đạn dược nặng đô hơn là dăm ba câu chuyện phiếm “xã giao” sáo rỗng vô nghĩa; nhờ thế cô lập tức dấn thân vào hành trình đọc sách không biết mệt mỏi với sự chuẩn bị công phu, và kể từ đó chưa bao giờ ngừng nghỉ dành mọi khoảnh khắc rảnh rỗi cho kiểu trau dồi này. Giờ đây, khi đã thu nhặt được vốn kiến thức lận lưng đủ dùng về đủ mọi lĩnh vực, cô sử dụng nó một cách vô cùng hiệu quả — cô nổi danh là một phụ nữ có học thức uyên bác đến kỳ lạ ở Washington. Chất lượng gu thẩm mỹ văn chương của cô tất yếu đã trải qua sự cải thiện không ngừng dưới chế độ rèn luyện này, và hệ quả tất yếu là ngôn từ của cô cũng trở nên tao nhã hơn, dẫu cho không thể chối cãi rằng thỉnh thoảng điều kiện sống trong quá khứ của cô vẫn vô tình lộ diện qua những sơ suất nhỏ nhặt có thể nhận thấy rõ trong cách biểu đạt và lỗi ngữ pháp.
