Thời Đại Mạ Vàng: Câu Chuyện Của Hôm Nay

Lượt đọc: 150 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

Đối với Washington Hawkins vốn quen sống ở miền quê, thủ đô của Đại Cộng hòa quả là một thế giới hoàn toàn mới. St. Louis dẫu là một đô thị lớn hơn, nhưng dân số lưu động ở đó không đến từ những vùng đất xa xôi, nên nó mang cái vẻ ngoài gia đình quen thuộc của cộng đồng cư dân lâu năm; ngược lại, Washington quy tụ con người từ khắp bốn phương trời, khiến cho phong thái, gương mặt và thời trang nơi đây mang một nét đa dạng vô tận. Washington chưa từng bước chân vào giới thượng lưu ở St. Louis, chẳng biết gì về lối sống của những công dân khá giả và chưa từng đặt chân vào tư dinh của bất kỳ ai trong số họ. Hết thảy những gì thuộc về thời trang và sự lộng lẫy hiện đại đối với anh vì thế mà trở thành một sự khám phá mới mẻ và đầy kỳ diệu.

Washington là một thành phố thú vị đối với bất kỳ ai trong chúng ta. Nơi đây dường như càng trở nên hấp dẫn hơn sau mỗi lần chúng ta ghé thăm. Có lẽ bạn chưa từng đến đó bao giờ? Không sao cả. Bạn sẽ đặt chân đến nơi hoặc là vào lúc đêm muộn, quá trễ để làm hay ngắm nghía bất cứ thứ gì cho đến tận sáng hôm sau, hoặc là vào một buổi sáng sớm tinh sương đến mức bạn thấy tốt nhất là cứ về khách sạn ngủ một hai tiếng trong lúc mặt trời lững thững vượt qua Đại Tây Dương. Bạn khó lòng mà đến vào một khoảng thời gian lửng lơ dễ chịu nào khác, bởi vì tập đoàn đường sắt nắm giữ chiếc chìa khóa duy nhất dẫn vào hay ra khỏi thị trấn đã lo liệu chu toàn việc đó rồi. Bạn đến nơi với tâm trạng khá phấn khởi, bởi vì khoảng cách từ Baltimore đến thủ đô chỉ có ba mươi tám dặm, và bạn mới chỉ bị xúc phạm có ba lần (trừ khi bạn đi toa nằm — tỷ lệ này ở đó còn cao hơn): lần thứ nhất khi bạn đổi vé sau khi ghé lại Baltimore; lần thứ hai khi bạn suýt bước vào “toa dành cho nữ” mà không hề hay biết; và lần thứ ba khi bạn hỏi người soát vé xem khi nào tàu đến Washington.

Bạn liền bị một hàng dài những kẻ đánh xe ngựa vây lấy, chúng vẫy vẫy chiếc roi ngay trước mặt bạn khi bạn bước chân lên vỉa hè; bạn bước vào thứ mà chúng coi là một “chiếc xe ngựa” ở chốn thủ đô này, để rồi phải tự hỏi tại sao người ta không cho nó ngừng hoạt động và đem vào bảo tàng: chúng ta vốn có quá ít đồ cổ, và việc chẳng mảy may cố gắng bảo tồn những món ít ỏi ấy chẳng lấy gì làm vẻ vang cho cam.

Chẳng mấy chốc bạn cũng tới được khách sạn — và ở đây, thiết tưởng chúng ta nên khép lại bức màn của sự bao dung — bởi vì đương nhiên là bạn đã vào nhầm khách sạn rồi. Là một kẻ tha hương lữ thứ, bạn còn có thể làm gì khác được cơ chứ? Có tới một trăm mười tám khách sạn tồi tệ, và chỉ có độc nhất một nơi đàng hoàng. Khách sạn nổi tiếng và được ưa chuộng nhất trong số đó có lẽ lại là cái tên tồi tệ nhất trong lịch sử.

Đang là mùa đông và trời về đêm. Khi bạn đến nơi, tuyết đang rơi. Khi bạn tới khách sạn, trời chuyển sang mưa đá. Lúc bạn lên giường đi ngủ, trờiổ mưa rào. Nửa đêm, trời rét đậm khiến gió quật ngã vài chiếc ống khói. Lúc bạn thức dậy vào buổi sáng, sương mù bao phủ. Khi bạn ăn xong bữa sáng lúc mười giờ và bước ra ngoài, ánh nắng chói chang, thời tiết dịu ngọt tuyệt vời, còn bùn nhão với tuyết tan thì ngập ngụa khắp nơi. Bạn sẽ sớm yêu cái khí hậu này thôi, khi đã quen với nó.

Dĩ nhiên là bạn muốn ngắm nghía thành phố; thế là bạn cầm theo một chiếc ô, một chiếc áo bành tô, một cái quạt, rồi bước ra ngoài. Bạn sẽ sớm nhận ra và quen thuộc với những thắng cảnh nổi bật; đầu tiên là bóng dáng thấp thoáng của phần kiến trúc trang trí thuộc một tòa lâu đài trắng xóa dài ngoẵng nhô lên trên một lùm cây, cùng với một mái vòm trắng cao vút, thanh thoát có bức tượng đặt trên đỉnh, nổi bật một cách đẹp đẽ trên nền trời xanh thẳm. Công trình đó chính là tòa nhà quốc hội; những kẻ hay hóng chuyện sẽ kể cho bạn nghe rằng theo dự toán ban đầu, nó chỉ tiêu tốn 12.000.000 đô-la, và chính phủ đã suýt soát vượt mức dự toán ấy tới 21.200.000 đô-la để xây dựng xong nó.

Bạn đứng ở phía sau tòa quốc hội để thưởng ngoạn cảnh quan, và đó thực là một khung cảnh vô cùng hùng vĩ. Bạn phải hiểu rằng, tòa quốc hội tọa lạc ngay rìa một cao nguyên rộng lớn, một vị trí vô cùng đắc địa, và mặt tiền của nó hướng ra toàn cảnh tuyệt mỹ này của thành phố — nhưng khốn nỗi nó chẳng nhìn thấy gì cả, bởi vì khi quyết định mở rộng tòa quốc hội, những chủ sở hữu đất đai liền đẩy giá nhà đất lên mức cắt cổ khiến người dân phải di chuyển xuống vùng đầm lầy trũng đầy bùn lầy ở phía sau đền thờ tự do để dựng lên thành phố; thế là giờ đây, mặt tiền uy nghi của tòa nhà với những hàng cột hoành tráng, những cánh gà vươn cao duyên dáng, những cụm tượng điêu khắc sinh động cùng những bậc thềm dài xếp thành từng tầng, tuôn chảy xuống mặt đất như những ngọn sóng cẩm thạch trắng, kỳ thực chỉ phóng tầm mắt nhìn ra một sa mạc nhỏ bé thê lương toàn những nhà trọ bình dân.

Thế nên bạn mới nhận ra rằng, bạn chỉ có thể ngắm cảnh từ phía sau tòa quốc hội. Mà ngặt nỗi cũng chẳng thể ngắm từ những khung cảnh lộng gió trên đỉnh mái vòm đâu, bởi vì muốn lên đó thì bạn phải đi qua tòa sảnh tròn vĩ đại: và nếu làm vậy, bạn sẽ phải ngắm nhìn những bức tranh lịch sử kỳ vĩ treo ở đó cùng các phù điêu — mà bạn đã gây nên tội tình gì để phải chịu đựng cực hình ấy cơ chứ? Hơn thế nữa, bạn có thể phải đi qua phần kiến trúc cổ của tòa nhà, và khi ấy bạn không sao tránh khỏi việc nhìn thấy ngài Lincoln, kẻ đã bị hóa đá dưới bàn tay của một nữ nghệ sĩ trẻ với giá 10.000 đô-la — và bạn rất dễ lầm tưởng tấm bản tuyên ngôn giải phóng bằng cẩm thạch mà ngài đang cầm trên tay và đăm đăm nhìn ngắm là một chiếc khăn ăn được gấp lại; rồi từ biểu cảm lẫn dáng vẻ của ngài, bạn có thể đâm ra nghĩ ngợi rằng ngài đang chê bai việc giặt giũ. Thực ra thì không phải vậy. Chẳng ai biết ngài đang vướng bận điều gì; nhưng ai nấy đều thấy thương cảm cho ngài. Thôi thì tốt nhất là bạn đừng có bén mảng lên mái vòm làm gì, bởi vì lên đến đó thì thể nào bạn cũng phải ngắm nghía những bích họa ở trển — mà hà cớ gì bạn phải bận tâm đến chứng sảng rượu của nghệ thuật cơ chứ?

Tòa quốc hội quả là một công trình vô cùng uy nghi và xinh đẹp, cả trong lẫn ngoài, nhưng bây giờ bạn chưa cần phải ngắm kỹ làm gì. Dẫu sao, nếu bạn thích trèo lên mái vòm đến thế, cứ việc lên đi. Lúc này, cái nhìn tổng quát sẽ thu vào tầm mắt bạn những dải nước lấp lánh nên thơ ở phía bên trái, thấp thoáng bóng buồm xa xa cùng một nhà thương điên bên bờ; tít phía bên kia làn nước, trên một gò cao xa xôi, bạn trông thấy một ngôi đền vàng lùn tịt mà đôi mắt bạn đắm đuối ngắm nhìn qua làn hơi ẩm ủy mị, bởi nó gợi lại cho bạn tuổi thơ đã mất cùng những ngôi đền Parthenon làm bằng kẹo mạch nha từng một thời khiến bạn hạnh phúc và xuyến xao. Vẫn ở chốn xa xa ấy, nhưng nằm ở phía bờ này và sát mép nước, Đài tưởng niệm Vua cha của Đất nước sừng sững vươn lên giữa vũng bùn — “mảnh đất linh thiêng” mới là cách gọi quen thuộc. Trông nó chẳng khác nào cái ống khói nhà máy bị gãy cụt đỉnh. Bộ khung của chiếc giàn giáo đang mục rữa vẫn vương vãi quanh chót đỉnh công trình, và truyền thuyết kể rằng linh hồn của Washington thường hay giáng thế, ngự trên những thanh xà đó để tận hưởng lòng kính trọng mà quốc gia đã dựng lên làm biểu tượng cho lòng biết ơn vô hạn của mình.

Đài tưởng niệm ấy rồi cũng sẽ được hoàn thành vào một ngày nào đó, và khi ấy, Washington của chúng ta sẽ càng được cả nước tôn kính hơn nữa, và sẽ được ca tụng là Cụ Tổ Đời Đời của Đất nước. Cái Ống khói tưởng niệm ấy đứng sừng sững giữa một chốn đồng quê thanh bình đầy vẻ tĩnh lặng. Dùng ống nhòm, bạn có thể nhìn thấy những dãy chuồng bò quanh chân tháp, những con cừu ngoan ngoãn đang gặm mấy viên sỏi giữa vùng hoang mạc cô tịch vây quanh, cùng những chú lợn mệt mỏi đang ngủ gật trong sự tĩnh lặng thánh thiện dưới bóng râm che chở của tòa tháp.

Giờ thì bạn dứt ánh mắt ra, nhìn thẳng về phía trước và thấy Đại lộ Pennsylvania rộng lớn trải dài thẳng tắp suốt một dặm hoặc hơn thế nữa, cho đến khi chạm trán hàng rào sắt trước một tòa nhà bằng đá hoa cương có hàng cột chống — đó là tòa nhà Bộ Tài chính — một kiến trúc đủ sức thu phục sự kính trọng ở bất kỳ thủ đô nào. Những cửa hàng và khách sạn vây quanh đại lộ rộng lớn này thì thật tầm thường, rẻ tiền, nhếch nhác, và tốt hơn hết là cứ để mặc chúng khỏi cần bình phẩm. Phía bên kia Bộ Tài chính là một cái kho thóc màu trắng to đẹp, với những khoảng sân rộng thênh thang nhưng chẳng mấy đẹp mắt xung quanh. Tổng thống sống ở đó. Vẻ bề ngoài thì đủ xấu xí rồi, nhưng điều đó vẫn chẳng thấm tháp gì so với bên trong. Sự tẻ nhạt, ọp ẹp, và gu thẩm mỹ tồi tệ bị đẩy đến mức độ chuẩn xác như toán học chính là những gì đập vào mắt người xem ở phần nội thất, nếu như nó vẫn y nguyên như trước giờ vẫn thế.

Cảnh quan phía trước và bên phải mang lại cho bạn cái nhìn toàn cảnh về thành phố. Đó là một vùng trải dài ngập những ngôi nhà gạch nhỏ bé rẻ tiền, thỉnh thoảng lại có một công trình kiến trúc nguy nga vươn lên giữa muôn trùng — đó là các tòa nhà chính phủ. Nếu lúc bạn đi dạo quanh thành phố mà băng tuyết vẫn đang tan, bạn sẽ phải ngạc nhiên trước sự ngắn tầm nhìn của các bậc bô lão thành phố khi quan sát đường phố, bởi họ đã không pha loãng đống bùn ấy thêm chút nữa để biến chúng thành những con kênh đào.

Nếu bạn chịu khó dò hỏi đôi chút, bạn sẽ thấy rằng ở Washington, mật độ nhà trọ tính trên mỗi sào đất có lẽ cao hơn bất kỳ thành phố nào khác trên cả nước. Nếu bạn đến xin thuê trọ tại một nơi như thế, bạn sẽ cảm thấy thật lạ lùng khi bà chủ nhà săm soi bạn bằng ánh mắt nghiêm nghị rồi hỏi thẳng xem bạn có phải là nghị sĩ Quốc hội hay không. Biết đâu, chỉ để nói đùa cho vui, bạn lại đáp là phải. Và thế là bà ta sẽ bảo rằng nhà mình đã “hết phòng”. Ngay lúc đó, bạn đưa ra cho bà ta xem mẩu quảng cáo chính tay bà đăng trên tờ báo buổi sáng, và thế là bà ta đứng chôn chân ở đó, tâm phục khẩu phục trong nỗi thẹn thùng. Bà ta sẽ cố tỏ ra đỏ mặt, và phép lịch sự đòi hỏi bạn nên xem cái cố gắng ấy cũng giá trị như thành quả thực tế. Lúc này thì bà ta dẫn bạn đi xem phòng và cho bạn thuê — nhưng bắt bạn phải trả tiền phòng trước. Đó là cái giá bạn phải trả cho cái thói mạo nhận là nghị sĩ Quốc hội. Giả sử bạn chỉ bằng lòng làm một công dân bình thường, chiếc va-li của bạn đã đủ làm vật thế chấp cho tiền phòng rồi. Nếu bạn là kẻ tò mò và gặng hỏi về chuyện này, khả năng cao là bà chủ nhà sẽ chẳng tiếc lời cay đắng mà bảo rằng thân thể lẫn tài sản của một vị dân cử đều được miễn trừ khỏi việc bị bắt giữ hay giam giữ, và rằng đã không ít lần bà đẫm lệ ngắm nhìn các vị đại biểu của nhân dân xách va-li về lại các tiểu bang và vùng lãnh thổ của họ, mang theo những hóa đơn tiền phòng chưa thanh toán như những món quà lưu niệm. Và chỉ sau vài tuần sống ở Washington, bạn cũng sẽ ngớ ngẩn đến mức tin sái cổ lời bà ta.

Dĩ nhiên là bạn sẽ xoay sở để thấy hết thảy và nắm bắt mọi chuyện. Và một trong những điều đầu tiên khiến bạn phải kinh ngạc chính là: hầu như mọi cá nhân mà bạn chạm mặt tại Thành phố Washington — và chắc chắn là từng cá nhân riêng biệt làm việc trong bộ máy nhà nước, từ vị vụ trưởng cao cấp nhất cho đến người phụ nữ quét dọn hành lang các bộ, những bác bảo vệ ca đêm của các công viên công sở cho đến cậu nhóc da màu chuyên đi chùi ống nhổ cho các bộ — tất cả đều đại diện cho Thế lực Chính trị. Trừ khi bạn bắt được mối quan hệ với một Thượng nghị sĩ, một Dân biểu, hoặc một Vụ trưởng hay Bộ trưởng nào đó và thuyết phục họ dùng “thế lực” của mình để nâng đỡ, bằng không bạn chẳng thể nào kiếm được dù chỉ là một công việc vặt vãnh nhất tại Washington. Năng lực, sự phù hợp và tài cán đơn thuần chỉ là thứ hành lý vô tích sự nếu bạn không có “thế lực” hậu thuẫn. Dân số Washington hầu như toàn là công chức nhà nước và những người mở quán trọ cho họ. Có hàng ngàn con người như thế, họ tụ hội về đây từ mọi ngóc ngách của Liên bang và kiếm được vị trí nhờ sự can thiệp (dùng từ “ra lệnh” thì đúng hơn) của các Thượng nghị sĩ và Dân biểu thuộc tiểu bang tương ứng của họ. Thật là một cảnh tượng hiếm hoi nếu thấy một cô gái kiếm được chân làm việc với mức lương ba bốn đô-la một tuần tại một trong những cái máng ăn công cộng khổng lồ ấy mà chẳng cần đến một ông lớn chính trị nào chống lưng, mà chỉ đơn thuần vì cô ấy xứng đáng, có năng lực và là một công dân tốt của một đất nước tự do “đối xử công bằng với mọi người”. Washington chắc chắn sẽ chết trân trước một chuyện chướng tai gai mắt nhường ấy. Nếu bạn là một thành viên Quốc hội (xin lỗi trước nhé), và một cử tri trong khu vực của bạn — kẻ chẳng biết tí gì, cũng chẳng buồn nhọc công học hỏi thêm điều chi, không tiền bạc, không nghề nghiệp và chẳng thể tự kiếm sống — cứ bám riết lấy bạn để van xin sự giúp đỡ, liệu bạn có nói: “Này bạn tôi ơi, nếu dịch vụ của anh có giá trị thì anh đã có thể kiếm việc ở nơi khác rồi — ở đây chúng tôi không cần anh?” Ồ, không đâu: Bạn sẽ dẫn hắn đến một cơ quan nhà nước và bảo: “Này, hãy giao cho người này một việc gì đó để giết thời gian đi — kèm theo một mức lương nữa” — thế là xong chuyện. Bạn phủi tay đẩy hắn cho đất nước lo. Hắn là đứa con của đất nước kia mà, cứ để đất nước nuôi nấng hắn đi. Có một điều gì đó thật nhân hậu và mang đậm bản chất người mẹ ở Washington, cái Viện dưỡng lão quốc gia vĩ đại và nhân từ dành cho những kẻ bất lực.

Mức lương mà cái tổ ong công chức khổng lồ này nhận được được định ở con số hào phóng, vừa vặn và thích đáng dành cho lao động lành nghề và có năng lực. Những người làm việc trực tiếp tại lưỡng viện Quốc hội không chỉ hậu hĩnh về tiền lương, mà còn được nhớ đến trong đạo luật Bổ sung Trợ cấp quen thuộc vẫn được lặng lẽ thông qua hàng năm cùng với chiến dịch vơ vét chung diễn ra vào đêm bế mạc kỳ họp, nhờ đó mà có thêm hai mươi phần trăm tiền lương được bỏ túi — chắc là để cho vui thôi.

Cuộc sống mới của Washington Hawkins là một niềm vui sướng không dứt đối với anh. Thượng nghị sĩ Dilworthy sống trong cảnh xa hoa lộng lẫy, và chỗ ở của Washington thì vô cùng tuyệt vời — có lò sưởi ga, nước chảy hai vòi nóng lạnh, phòng tắm, củi lửa bập bùng, thảm trải sàn sang trọng, những bức tranh đẹp treo trên tường; sách viết về tôn giáo, phong trào cai rượu, từ thiện xã hội và các kế hoạch tài chính; những người hầu da màu gọn gàng lịch sự, những món ăn tinh tế — mọi thứ mà một con người có thể ước ao. Còn về văn phòng phẩm thì nhiều vô kể; chính phủ cung cấp hoàn toàn; tem thư chẳng cần đến — con dấu của Thượng nghị sĩ đủ sức chuyển cả một con ngựa qua đường bưu điện nếu cần thiết.

Rồi anh lại được diện kiến những vị khách khứa lóa mắt. Những vị tướng quân và đô đốc lừng danh từng chỉ như những huyền thoại khổng lồ thuở anh còn ở miền viễn tây nay đi lại trước mặt anh hoặc ngồi ngay bên bàn tiệc của Thượng nghị sĩ, hiện thực hóa thành da thịt bằng xương bằng thịt; những chính trị gia nổi tiếng lướt qua đời anh mỗi ngày; cái sinh thể từng hiếm hoi và gây kính sợ một thời là ngài Dân biểu giờ đây đã trở nên quen thuộc — quen thuộc đến mức anh có thể điềm nhiên ngắm nhìn mà không chút phấn khích, thậm chí chẳng mảy a bối rối; các vị đại sứ nước ngoài xuất hiện trước mắt anh vào những khoảng thời gian đầy diễm phúc; anh thậm chí đã được tận mắt chiêm ngưỡng ngài Tổng thống bằng xương bằng thịt mà vẫn bình an vô sự. Hơn thế nữa; thế giới đầy mê hoặc này ngập tràn những cơ hội đầu cơ — bầu không khí đặc quánh mùi làm ăn — và đó thực sự là bầu không khí quê hương của Washington Hawkins; chẳng luồng không khí nào khác có thể làm mát mẻ lồng ngực anh một cách sảng khoái đến thế. Cuối cùng thì anh đã tìm thấy chốn thiên đàng.

Càng tiếp xúc với vị thủ lĩnh đồng thời là ân nhân của mình là Thượng nghị sĩ, anh càng thêm phần kính trọng, và vẻ đẹp đạo đức cao cả trong con người ngài càng tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Được kết giao thân thiết và nhận sự quan tâm ân cần từ một con người như thế, Washington đã viết trong bức thư gửi Louise rằng, đó là một vận may lớn lao đối với một thanh niên có con đường sự nghiệp từng gặp nhiều trắc trở và tăm tối như anh.

Những tuần lễ trôi qua; Harry Brierly mải miết tán tỉnh, khiêu vũ, làm rạng danh những buổi tiệc chiêu đãi rực rỡ của Thượng nghị sĩ, và miệt mài “vận động”, “gạ gẫm” các vị Dân biểu vì lợi ích của đề án Sông Columbus; trong khi đó Thượng nghị sĩ Dilworthy cũng cật lực làm việc vì mục đích tương tự — và vì những lợi ích quốc gia quan trọng không kém khác. Harry thường xuyên viết thư cho Sellers, và lúc nào cũng mang giọng điệu đầy khích lệ; qua những bức thư ấy, dễ dàng nhận thấy Harry là cái gai được cưng chiều của cả Washington và rất có khả năng sẽ chèo lái thành công thương vụ này; rằng sự trợ giúp mà “lão già Dilworthy” dành cho anh ta là khá ổn — khá ổn; “và cậu biết đấy, góp gió thành bão mà,” Harry nói.

Thỉnh thoảng Washington lại viết thư cho Sellers mang tính chất công vụ. Trong một bức thư, có đoạn cho hay dẫu ban đầu chẳng có thành viên nào trong ủy ban Hạ viện ủng hộ đề án, thì giờ đây chỉ cần thêm đúng một lá phiếu nữa là đủ để đạt được đa số phiếu thông qua báo cáo. Câu kết:

“Chúa tể dường như đang phò trợ cho những nỗ lực của chúng ta.”

(Đã ký,) “ABNER DILWORTHY, U. S. S.,

thông qua WASHINGTON HAWKINS, P. S.”

Vào cuối tuần đó, Washington đã có thể gửi đi tin vui một cách chính thức như thường lệ — rằng lá phiếu còn lại đã được bổ sung và dự luật đã được Ủy ban bỏ phiếu thuận trình lên. Những bức thư tiếp theo ghi lại những hiểm nguy mà dự luật phải đối mặt tại Ủy ban toàn thể, rồi chẳng mấy chốc là chiến thắng ngoạn mục sát nút trong lần đọc thứ ba và qua cửa ải thông qua cuối cùng. Sau đó là những bức thư kể về cuộc chiến đấu của ông Dilworthy với một phe đa số cứng đầu ngay trong chính ủy ban của ông tại Thượng viện; về việc những vị quý ông đó lần lượt khuất phục ra sao, cho đến khi giành được đa số phiếu.

Rồi có một khoảng lặng. Washington theo dõi từng nước đi trên bàn cờ, và anh đang ở một vị thế vô cùng thuận lợi để làm điều đó, bởi vì anh chính là thư ký của ủy ban này, đồng thời kiêm luôn một ủy ban khác nữa. Anh không nhận đồng lương nào với tư cách là thư ký riêng, nhưng hai chức vụ thư ký này, do người ân nhân của anh sắp xếp, mang lại cho anh tổng cộng mười hai đô-la một ngày, chưa kể khoản phụ cấp bồi dưỡng thêm hai mươi phần trăm chắc chắn sẽ được biểu quyết thông qua cho anh vào đêm cuối cùng của kỳ họp.

Anh chứng kiến dự luật bước vào Ủy ban toàn thể, một lần nữa trầy trật đấu tranh cho sinh mạng của mình, và cuối cùng cũng lê lết vượt qua được. Đến thời điểm thích hợp, anh ghi nhận lần đọc thứ hai của nó, rồi ngày trọng đại cũng đến khi thử thách lớn cuối cùng diễn ra và dự luật được đưa ra bỏ phiếu quyết định số phận. Washington nín thở lắng nghe những tiếng “Thuận!”, “Phản đối!”, “Phản đối!”, “Thuận!” của các nghị sĩ trong vài phút đồng hồ đầy khiếp sợ, rồi không thể nào chịu đựng thêm sự hồi hộp ấy nữa. Anh chạy tung tăng khỏi khán đài rồi hối hả trở về nhà chờ đợi.

Hai hoặc ba tiếng đồng hồ sau, Thượng nghị sĩ trở về trong vòng tay ấm áp của gia đình khi bữa tối đã dọn sẵn. Washington chồm tới với câu hỏi háo hức chực chờ trên môi, và Thượng nghị sĩ điềm đạm đáp lời:

“Giờ thì chúng ta có thể hoan hỷ ăn mừng được rồi, con trai ạ — Chúa đã ban vương miệng chiến thắng cho những nỗ lực của chúng ta.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.