Il veut faire secher de la neige au four et la vendre pour du sel blanc.
Khi chiếc Boreas rời bến để tiếp tục hành trình ngược dòng sông, gia đình Hawkins đã giàu thêm hai mươi tư giờ trải nghiệm về nỗi thống khổ của con người và học được qua lao động vất vả, chân chính cách xoa dịu nó. Họ cũng giàu có thêm theo một cách khác. Trong cảnh hỗn loạn ban đầu một tiếng sau vụ nổ, một cô bé năm tuổi có đôi mắt đen láy, hoảng sợ và khóc nức nở, đang chật vật len lỏi qua đám đông ở salon tàu Boreas để gọi bố mẹ, nhưng không ai đáp lại. Nét mặt của ông Hawkins có điều gì đó thu hút cô bé, nên con bé đã đến ngước nhìn ông; cảm thấy yên tâm, nó bèn nương náu bên ông. Ông vuốt ve con bé, lắng nghe những muộn phiền của nó, và hứa sẽ tìm lại người thân giúp nó. Sau đó, ông đưa con bé vào một phòng cabin với các con của mình và dặn chúng hãy đối xử tử tế với nó (các thành viên lớn tuổi trong nhóm của ông đều bận rộn chăm sóc người bị thương) rồi lập tức bắt tay vào việc tìm kiếm.
Cuộc tìm kiếm chẳng mang lại kết quả gì. Nhưng suốt cả ngày hôm đó, ông và vợ vẫn dò hỏi khắp nơi, ôm chút hy vọng mong manh dẫu biết là khó thành. Tất cả những gì họ có thể biết được là cô bé cùng bố mẹ đã lên tàu tại New Orleans, nơi họ vừa đến trên một con thuyền từ Cuba; trông họ giống những người đến từ các tiểu bang miền Đông; họ tên là Van Brunt và cô bé tên là Laura. Chỉ có vậy thôi. Bố mẹ cô bé vẫn bặt vô âm tín kể từ sau vụ nổ. Cử chỉ của đứa trẻ hệt như một tiểu thư đài các, và quần áo của con bé tinh tế, lộng lẫy hơn bất cứ thứ gì bà Hawkins từng thấy trước đây.
Khi thời gian trôi đi, cô bé dần nản lòng, khóc lóc thảm thiết đòi mẹ đến mức vợ chồng Hawkins cảm thấy những tiếng rên rỉ, khóc than của những người đàn ông và phụ nữ mang thương tích trong phòng salon dường như không cứa nát cõi lòng họ bằng nỗi đau đớn của sinh linh nhỏ bé bất hạnh này. Họ hết lòng dỗ dành con bé; và qua quá trình đó, họ đâm ra yêu thương nó; họ không tài nào ngăn được cảm xúc ấy, khi chứng kiến cách nó bám lấy họ, vòng tay ôm lấy cổ họ và chẳng tìm thấy niềm an ủi nào khác ngoài đôi mắt nhân hậu cùng những lời vỗ về của họ. Trong thâm tâm cả hai người đều nảy sinh một câu hỏi — một câu hỏi cứ dâng lên và khẳng định vị thế ngày một mạnh mẽ hơn theo thời gian — nhưng cả hai đều ngập ngừng chưa dám thốt lên — cả hai cùng giữ im lặng — và — chờ đợi.
Rồi cuối cùng cũng đến lúc sự việc không thể trì hoãn thêm được nữa. Con tàu đã cập bến, và những người chết cùng kẻ bị thương đang được chuyển lên bờ. Đứa trẻ mệt mỏi đã ngủ thiếp đi trong vòng tay bà Hawkins. Ông Hawkins bước đến trước mặt họ và đứng lặng thinh. Ánh mắt ông chạm vào ánh mắt vợ; rồi cả hai nhìn xuống đứa trẻ — và trong lúc họ ngắm nhìn, con bé cựa mình trong giấc ngủ và rúc sâu hơn vào lòng; một vẻ viên mãn và bình yên hiện lên trênKhuôn mặt thơ ngây chạm đến trái tim người mẹ; và khi ánh mắt vợ chồng họ gặp nhau lần nữa, câu hỏi đã được đặt ra và có lời đáp.
Khi con tàu Boreas đã đi được khoảng bốn trăm dặm tính từ lúc gia đình Hawkins bước lên tàu, một hàng dài những chiếc tàu thủy hiện ra trước mắt, đậu sát cạnh nhau bên cầu cảng giống như những con cá mòi trong hộp, và phía trên cũng như phía sau chúng là những mái vòm, tháp chuông cùng khung cảnh hỗn độn mang đậm kiến trúc của một thành phố — một thành phố được phủ lên trên một chiếc ô khói đen khổng lồ. Đó chính là St. Louis. Các con của gia đình Hawkins đang đùa nghịch trên boong thượng, còn người cha và người mẹ ngồi dưới bóng râm của buồng hoa tiêu, cố gắng duy trì trật tự mà lòng không mấy buồn phiền vì việc đó bất thành.
Chúng đáng giá từng ấy công sức đấy chứ, Nancy.
Vâng, thậm chí còn hơn thế nữa, Si.
Anh tin chắc thế! Em có chịu bán một đứa với cái giá hời không?
Không đổi lấy toàn bộ số tiền trong ngân hàng đâu, Si.
Anh cũng nghĩ vậy. Đúng là chúng ta chưa giàu — nhưng em có hối hận không — em có chút băn khoăn nào về những thành viên mới này không?
Không. Chúa sẽ che chở.
Amen. Thế nghĩa là em thậm chí không muốn rời xa Clay ư? Hay bé Laura?
Không đời nào. Em yêu thương chúng hệt như con đẻ của mình vậy: Bọn trẻ cưng chiều và quấn quýt lấy em thậm chí còn hơn cả mấy đứa ruột thịt nữa cơ, anh nghĩ thế đấy. Em đoán là chúng ta sẽ sống ổn thôi, Si.
Ồ chắc chắn rồi, mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa cả thôi, người vợ hiền của anh ạ. Anh chẳng ngại nhận nuôi cả ngàn đứa trẻ nếu anh muốn đâu, vì chúng ta còn Khu đất Tennessee đó thôi — dư dả để làm cho cả một quân đoàn giàu có ấy chứ. Cả một quân đoàn đấy, Nancy ạ! Vợ chồng mình sẽ chẳng sống đến ngày đó đâu, nhưng mấy đứa nhỏ này thì có. Chắc chắn chúng sẽ được tận hưởng điều đó. Sẽ có ngày kia, tiểu thư Emily Hawkins giàu có — và tiểu thư triệu phú Laura Van Brunt Hawkins — và ngài nghị sĩ George Washington Hawkins, triệu phú — rồi Thống đốc Henry Clay Hawkins, triệu phú! Thế giới này sẽ gọi tên chúng như vậy đấy! Đừng bao giờ bận lòng về bọn trẻ nữa nhé Nancy — không bao giờ phải nghĩ ngợi điều đó trên đời này. Chúng đều ổn cả. Nancy, có cả đại dương tiền bạc ở mảnh đất đó — hãy nhớ lấy lời anh!
Bọn trẻ đã ngừng chơi đùa một lát để đến gần lắng nghe. Ông Hawkins cất lời:
Washington, con trai của bố, con sẽ làm gì khi trở thành một trong những người giàu nhất thế giới?
Con không biết thưa bố. Thỉnh thoảng con nghĩ mình sẽ có một quả khinh khí cầu để bay lên trời; và đôi khi con nghĩ mình sẽ có thật nhiều sách; rồi có lúc con nghĩ mình sẽ có vô số cái chong chóng gió và bánh xe nước; hoặc có một cỗ máy giống như cỗ máy mà bố và Đại tá Sellers đã mua; và thỉnh thoảng con nghĩ mình sẽ — chà, con cũng chẳng rõ nữa — con không chắc lắm; có lẽ con sẽ mua một chiếc tàu thủy trước đã.
Vẫn cái nết cũ! — lúc nào cũng hơi đứng núi này trông núi nọ về mọi thứ. — Còn con thì sao, Clay, con sẽ làm gì khi trở thành một trong những người giàu nhất thế giới?
Con không biết ạ, thưa ngài. Mẹ con — người mẹ khác đã đi xa của con — bà vẫn luôn bảo con phải chăm chỉ làm việc và đừng mong mỏi gì chuyện làm giàu, nhờ thế con sẽ không phải thất vọng nếu mình không giàu lên. Cho nên con nghĩ tốt hơn hết là con cứ chờ đến khi mình giàu, và đến lúc đó có lẽ con sẽ biết mình muốn gì — nhưng bây giờ thì con chưa biết đâu ạ, thưa ngài.
Đúng là một cái đầu cẩn trọng! — Thống đốc Henry Clay Hawkins! — con sẽ trở thành người như vậy đấy, Clay, một ngày nào đó. Cái đầu khôn ngoan! Cái đầu uy tín! Giờ thì đi chơi đi — tất cả các con. Thật là một đám nhóc tuyệt vời, Nancy; đúng như cách người dân Obedstown hay nói về đàn lợn của họ vậy.
Một chiếc tàu thủy nhỏ hơn đã tiếp nhận gia đình Hawkins cùng số phận của họ, đưa họ ngược dòng Mississippi thêm một trăm ba mươi dặm nữa, và thả họ xuống một ngôi làng xập xệ bên bờ sông thuộc bang Missouri vào chạng vạng của một ngày tháng Mười dịu ngọt.
Sáng hôm sau, họ đánh xe lên đường và suốt hai ngày ròng rã tiến sâu vào vùng nội địa qua những chốn thâm sơn cùng cốc gần như không có đường đi và không một bóng người. Và khi họ dựng lều lần cuối cùng, theo nghĩa bóng, đó chính là đích đến của những hy vọng, là ngôi nhà mới của họ.
Bên vệ đường lầy lội sừng sững một căn nhà gỗ mới cất, cao một tầng — đồng thời là cửa hàng; quần tụ xung quanh đó là chừng mười hay mười hai căn lơ thơ khác, cái mới cái cũ.
Trong ánh chiều tàn ảm đạm, nơi này trông có vẻ hoang vắng làm sao. Hai ba thanh niên áo xống xộc xệch ngồi trước cửa hàng trên một chiếc thùng đựng hàng khô, dùng dao gọt đập, lấy những chiếc ủng to thô kệch đá vào nó, và nhổ nước bọt sang các hướng. Vài tên nô lệ rách rưới thoải mái dựa lưng vào những cột hiên, lười biếng nhìn ngắm sự xuất hiện của những lữ khách với vẻ tò mò. Chẳng mấy chốc, tất cả những con người ấy đều lê la đến gần chiếc xe ngựa của nhà Hawkins, rồi chễm chệ chiếm lấy những vị trí cố định, tay đút túi quần và trụ trên một chân; cứ thế họ neo người lại để ngắm nghía và thưởng ngoạn. Những con chó hoang vẫy đuôi kéo đến hếch mũi hít ngửi con chó nhà Hawkins, nhưng không vừa mắt nên chúng liền hợp sức tấn công nó. Cảnh này đáng lẽ đã làm người dân thích thú nếu như không phải là lấy nhiều hiếp ít, chẳng bõ làm một trận chiến ra trò, thế là họ hô hào giữ trật tự, con chó lạ cụp đuôi chuồn thẳng xuống gầm xe trốn. Những cô gái và phụ nữ nô lệ luộm thuộm bước đi uể oải trên đầu thăng bằng những chiếc thùng nước, gia nhập đám đông và đứng trố mắt nhìn. Những cậu bé da trắng ăn mặc hở hang và những cậu bé nô lệ chẳng mảnh vải che thân ngoài chiếc áo sơ mi vải thô hở hang kiểu miền Nam, từ khắp nơi túa ra đứng chắp tay sau mông phụ vào việc ngắm nghía. Phần dân chúng còn lại đang buông dở công việc để chuẩn bị kéo đến, thì bỗng một người đàn ông rẽ phách đám đông lao tới nắm chặt lấy tay những vị khách mới đến với vẻ phấn khích chào mừng cuồng nhiệt, miệng reo lên — suýt nữa là hét to:
Cha mẹ ơi, ai mà tin nổi chứ! Thế ra đúng là anh chị rồi phỏng — quay lại nào! Ngẩng đầu lên xem nào! Tôi muốn ngắm cho kỹ anh chị xem nào! Chao ôi, cứ như là mơ ấy, tôi thề đấy! Chúa ơi, tôi mừng quá khi thấy anh chị! Gặp lại anh chị mà mát cả ruột gan! Bắt tay cái nữa xem nào! Cứ bắt tay nữa đi chứ! Trời đất quỷ thần ơi. Vợ tôi sẽ nói gì nhỉ? — Ồ phải rồi, chuyện là thế đấy! — mới cưới tuần trước thôi — một sinh linh tuyệt vời, hoàn hảo hết chỗ nói, người phụ nữ cao quý nhất từ trước tới nay... anh chị sẽ mến cô ấy thôi, Nancy! Mến á? Chúa phù hộ tôi, anh chị sẽ yêu quý cô ấy — sẽ cưng chiều cô ấy — hai người sẽ thân nhau như hình với bóng cho mà xem! Nào nào nào, để tôi ngắm anh chị kỹ hơn lần nữa nào! Vẫn cái dáng vẻ ngày nào — chà ơn Chúa, mới sáng nay thôi vợ tôi còn bảo rằng, "Đại tá" — cô ấy cứ nằng nặc gọi tôi là Đại tá bất chấp tôi có làm gì đi nữa — cô ấy bảo "Đại tá ạ, có linh tính bảo tôi rằng có ai đó sắp tới đấy!", và quả nhiên là anh chị ở đây rồi, những vị khách khứa mà chẳng ai trên đời này thèm mong đợi nổi. Chắc phen này cô ấy tự cho mình là nhà tiên tri mất thôi — mà thề có Chúa tôi cũng nghĩ thế — và anh chị biết đấy, chẳng có đất nước nào mà nhà tiên tri lại không đem lại vinh dự cho xứ sở đó cả, đúng như tục ngữ vẫn nói. Chúa phù hộ tôi, cả mấy đứa nhỏ đây nữa ư! Washington, Emily, các con không nhận ra bác nữa à? Lại đây, cho bác hôn cái nào. Bác sẽ lo cho các con chu đáo hết ý! — ngựa, bò, chó, bất cứ thứ gì trên đời làm trẻ con thích mê — và — Ơ kìa, thế nào đây? Những vị khách nhỏ tuổi ư? Chà, các cháu sẽ chẳng thấy lạ lẫm gì ở đây đâu, bác cam đoan đấy. Cầu Chúa phù hộ, chúng ta sẽ làm cho các cháu thấy chưa từng có cảm giác nào như ở nhà trước đây — thật đấy, thật lòng đấy, bác nói thật mà! Nào, bây giờ thì mau chóng tề tựu với tôi. Các cháu không được phép sưởi ấm bất kỳ lò sưởi nào khác ngoài lò sưởi của tôi ở cái chốn này đâu nhé — không được ăn miếng bánh của ai ngoài bánh của tôi — chẳng phải làm gì sất ngoài việc cứ tự nhiên thoải mái như ở nhà, thả lỏng người ra và nghỉ ngơi! Nghe tôi này! Này — Jim, Tom, Pete, Jake, bay ra đây mau! Đưa chiếc xe này về nhà tôi — cất xe vào bãi của tôi — dắt ngựa vào chuồng, lấy cỏ khô và yến mạch cho chúng ăn ngập mặt đi! Không có cỏ khô và yến mạch á? Thế thì đi kiếm đi — cứ ghi sổ vào tài khoản của tôi — mau xoay xở đi nào! Nào Hawkins, đoàn rễ đã sẵn sàng; bước đều bước, giậm chân theo sườn trái, đằng trước — bước!

Và Đại tá đi đầu, với bé Laura ngồi vắt vẻo trên cổ, còn những vị di dân vừa được tiếp thêm sinh lực cùng niềm biết ơn sâu sắc liền xốc lại đôi chân mệt mỏi với một dáng đi phơi phới rồi rảo bước theo sau ông.

Chẳng mấy chốc họ đã quây quần bên chiếc lò sưởi cổ kính với những khúc gỗ cháy phừng phừng tỏa ra một lượng nhiệt hơi thừa thãi, nhưng điều đó chẳng hề gì — họ cần bữa tối, và muốn có nó thì phải nấu nướng. Căn phòng này kiêm luôn chức năng là phòng ngủ của gia đình, phòng khách, thư viện và nhà bếp, tất cả gộp làm một. Người vợ ra dáng hiền thê của Đại tá lăng xăng bận rộn xoay chuyển bên nọ bên kia với xoong chảo trên tay, lòng tràn ngập hạnh phúc và trong mắt ánh lên niềm ngưỡng mộ vô bờ bến dành cho chồng.
Và khi cuối cùng bà đã dọn bàn ăn với đầy ắp bánh ngô nóng hổi, gà rán, thịt xông khói, bơ sữa, cà phê cùng đủ loại đặc sản thôn quê, Đại tá Sellers liền điều chỉnh lại bài diễn văn của mình và ngưng lại một lát với âm lượng chuẩn mực để đọc lời cầu nguyện, rồi lập tức tuôn ra như trút từ trong ngoặc đơn và huyên thuyên không ngớt cho đến khi chiếc dạ dày của mọi người trong nhóm đều căng phồng không thể nhét thêm được nữa. Và khi những vị khách mới bước lên chiếc gác xép để đến với những chiếc giường nệm lông vũ thoải mái trên tầng hai — tức là cái gác mái — bà Hawkins đành phải thốt lên:
Ôi cái gã này, tôi tin chắc là ông ấy lại nổi cơn điên rồ hơn trước rồi, thế nhưng người ta vẫn cứ không tài nào ghét nổi ông ấy dù có muốn đi chăng nữa — và hơn thế nữa, chẳng ai buồn cố gắng làm điều đó khi nhìn thấy ánh mắt và nghe tiếng ông ấy nói cả.
Chỉ trong vòng một hai tuần, gia đình Hawkins đã an cư lạc nghiệp trong ngôi nhà gỗ mới và bắt đầu cảm thấy quen thuộc như ở nhà. Bọn trẻ được gửi đến trường; ít nhất thì đó cũng là nơi được coi là trường học vào những thời điểm bấy giờ: một nơi mà tuổi trẻ non nớt cống hiến tám đến mười tiếng mỗi ngày để học thuộc lòng những thứ rác rưởi khó hiểu từ sách vở và đọc tụng như những con vẹt; sao cho một nền tảng giáo dục hoàn chỉnh chỉ đơn thuần bao gồm chứng đau đầu kinh niên và khả năng đọc mà không phải dừng lại đánh vần hay lấy hơi. Hawkins mua lại cửa hàng tạp hóa của làng với giá rẻ mạt và bắt tay vào thu lợi nhuận, mà số lời thu về cũng chẳng hơn gì một cái giá rẻ mạt là bao.
Thương vụ kỳ diệu mà Đại tá Sellers úp mở trong bức thư hóa ra lại là việc nuôi la hướng tới thị trường miền Nam; và thực tế thì nó hứa hẹn rất nhiều điều khả quan. Đàn gia súc non tốn chẳng đáng bao nhiêu, chi phí nuôi dưỡng cũng chỉ như không, thế nên Hawkins dễ dàng bị thuyết phục đem số vốn ít ỏi của mình đầu tư vào canh bạc này và giao phó toàn bộ việc chăm sóc, nuôi nấng bầy vật nuôi cho Sellers cùng chú Dan’l.
Mọi chuyện đều suôn sẻ: Công việc kinh doanh phất lên từng chút một. Hawkins thậm chí còn cất một ngôi nhà mới, xây hẳn hai tầng lầu và lắp cả cột thu lôi lên đó. Người ta lặn lội đi hai ba dặm đường chỉ để đến ngắm nghía nó. Nhưng vì biết cột thu lôi có khả năng hút sét, họ bấy giờ giữ khoảng cách an toàn với ngôi nhà mỗi khi trời giông bão, bởi họ quá quen với việc ngắm bắn và hoài nghi rằng liệu sét có thể đánh trúng cái que nhỏ xíu ấy từ cự ly một dặm rưỡi quá một lần trong tổng số một trăm năm mươi lần hay không. Hawkins sắm sửa cho ngôi nhà của mình những món đồ nội thất "ngoại nhập" từ St. Louis, và tiếng tăm về sự lộng lẫy của nó vang dội khắp vùng. Ngay cả tấm thảm trải phòng khách cũng được mang từ St. Louis về — dẫu rằng những căn phòng khác chỉ dùng thảm "vải vụn" thông thường của vùng quê. Hawkins cho dựng hàng rào "chấn song" đầu tiên từng làm tô điểm cho ngôi làng; và ông vẫn chưa dừng lại ở đó, mà còn quét vôi trắng phau cho nó. Rèm cửa bằng vải sơn dầu của ông in những bức tranh tuyệt mỹ về các lâu đài mà chẳng nơi nào trên đời có được ngoại trừ trên những chiếc rèm cửa. Hawkins tận hưởng niềm thán phục mà những kỳ quan ấy buộc người ta phải thốt lên, nhưng ông vẫn luôn mỉm cười khi nghĩ xem chúng mới nghèo nàn và rẻ mạt làm sao, so với những gì dinh thự nhà Hawkins sẽ trưng bày trong tương lai sau khi Khu đất Tennessee đơm hoa kết trái thành tiền vàng. Thậm chí Washington đã từng có lần thốt lên rằng khi nào Khu đất Tennessee được bán, cậu sẽ sắm một chiếc thảm "cửa hàng" cho phòng của cậu và Clay giống hệt tấm thảm trong phòng khách. Điều này làm Hawkins rất đỗi hài lòng, nhưng lại khiến vợ ông lo lắng. Bà thấy việc đặt trọn niềm tin trần thế của mình vào Khu đất Tennessee mà không màng đến chuyện làm lụng gì là một điều không khôn ngoan chút nào.
Hawkins đặt mua một tờ báo tuần ở Philadelphia và một tờ báo bán tuần ở St. Louis — hầu như đó là những tờ báo duy nhất đến được ngôi làng, dẫu cho cuốn Godey’s Lady’s Book vẫn tìm được thị trường tiêu thụ khá tốt ở đây và được một số nhà phê bình tài năng nhất trong vùng coi là đỉnh cao của văn hóa tao nhã. Có lẽ cũng nên giải thích cho công bằng rằng chúng ta đang viết về một thời đại đã qua — chừng hai mươi hoặc baX mươi năm trước. Nằm ẩn trong hai tờ báo được nhắc đến chính là bí quyết cho sự thịnh vượng ngày càng gia tăng của Hawkins. Chúng giúp ông cập nhật tình hình mùa màng ở miền Nam và miền Đông, nhờ đó ông biết trước được mặt hàng nào sẽ có nhu cầu và mặt hàng nào sẽ ế ẩm, sớm hơn cả tuần thậm chí cả tháng so với những người dân chất phác xung quanh. Khi những tháng ngày trôi qua, ông dần được nhìn nhận như một con người may mắn một cách kỳ lạ. Người dân chẳng mảy quan tâm đến chuyện trí tuệ mới là cội nguồn đem lại may mắn cho ông.
Tước hiệu "Squire" (Quý ông/Quan tòa) của ông lại một lần nữa được dùng đến, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn; bởi vì, khi sự giàu có và độ nổi tiếng của ông tăng lên, danh hiệu ấy qua những bước tiến vô hình đã vươn lên thành "Judge" (Quan tòa); quả thực nó có xu hướng phình to thành "General" (Tướng quân) nay mai thôi. Tất cả những vị khách lạ có thế giá khi ghé thăm ngôi làng đều đổ dồn về Dinh thự Hawkins và trở thành khách quý của ngài "Quan tòa".
Hawkins đã học được cách yêu mến những con người ở vùng đất này rất nhiều. Họ thô kệch, thiếu tinh tế và không hẳn là chăm chỉ; nhưng họ lại thật thà, ngay thẳng, và lối sống đạo đức của họ gợi lên sự tôn trọng. Lòng yêu nước của họ vô cùng mãnh liệt, niềm tự hào về lá cờ mang dáng dấp truyền thống, và tình yêu quê hương đất nước của họ đạt đến mức độ sùng bái. Bất cứ kẻ nào đem danh dự quốc gia ra bêu riếu đều chuốc lấy sự căm thù khắc cốt ghi tâm của họ. Họ vẫn nguyền rủa Benedict Arnold hệt như thể ông ta là một người quen vừa mới bội ước — dẫu chuyện ấy đã qua từ một tuần trước.