Henry Brierly bước lên bục nhân chứng. Theo yêu cầu của Viện kiểm sát về việc kể lại cho bồi thẩm đoàn nghe toàn bộ những gì anh biết về vụ sát hại, anh thuật lại các tình tiết đại khái đúng như những gì bạn đọc đã biết.
Anh tháp tùng cô Hawkins đến New York theo yêu cầu của cô, vốn nghĩ rằng cô đến vì một dự luật đang chờ Quốc hội thông qua nhằm đảm bảo sự tham gia của các nghị sĩ vắng mặt. Bức thư tay cô gửi cho anh đã được đưa ra tại tòa. Cô có vẻ vô cùng kích động tại nhà ga Washington. Sau khi hỏi người soát vé vài câu, anh nghe thấy cô nói: "Hắn không thoát được đâu." Nhân chứng hỏi cô: "Ai cơ?" và cô đáp: "Không có ai." Không gặp cô suốt đêm hôm đó. Họ đi trên một toa xe nằm. Sáng hôm sau, trông cô có vẻ như không hề chợp mắt, kêu đau đầu. Lúc đi phà qua sông, cô hỏi anh về những chiếc tàu thủy đang đậu; anh chỉ cho cô vị trí thả neo của các tàu hãng Cunard khi cập cảng. Sáng hôm đó, họ uống một tách cà phê tại một nhà hàng. Cô nói mình rất nóng lòng muốn đến khách sạn Southern nơi ông Simons, một trong những nghị sĩ vắng mặt, đang lưu trú trước khi ông ấy ra ngoài. Cô hoàn toàn điềm tĩnh, và ngoài sự kích động bất thường ra thì không có hành vi nào khác thường cả.
Sau khi bắn Đại tá Selby hai phát, cô chĩa súng vào ngực mình và nhân chứng đã giật lấy nó. Cô đã ở bên Selby rất nhiều tại Washington, có vẻ như mê đắm ông ta.
(Bị luật sư Braham chất vấn.) "M-i-s-t-e-r...er Brierly!" (Luật sư Braham rất thành thạo cái chiêu trò làm khó nhân chứng này, ông kéo dài từ "Mister" ra như thể không tài nào nhớ nổi tên, cho đến khi nhân chứng nổi khùng lên, rồi đột nhiên, với giọng điệu cao vút, ông ném thẳng tên anh ta vào mặt với vẻ bất ngờ đến giật mình.) "M-i-s-t-e-r...er Brierly! Nghề nghiệp của anh là gì?"
"Thưa ngài, kỹ sư xây dựng."
"À, kỹ sư xây dựng, (liếc mắt nhìn bồi thẩm đoàn). Làm cái nghề đó với cô Hawkins phỏng?" (Bồi thẩm đoàn mỉm cười).
"Không, thưa ngài," Harry đỏ bừng mặt đáp.
"Anh quen bị cáo bao lâu rồi?"
"Thưa ngài, hai năm. Tôi quen cô ấy ở Hawkeye, Missouri."
"M.....m...m. M-i-s-t-e-r.....er Brierly! Chẳng lẽ anh không phải là người tình của cô Hawkins sao?"
Phía nguyên đơn phản đối. "Thưa tòa, tôi xin bảo lưu quyền được làm rõ mối quan hệ giữa người nhân chứng miễn cưỡng này với bị cáo." Tòa chấp thuận.
"Vâng, thưa ngài," Harry ngập ngừng nói, "chúng tôi là bạn."
"Anh cư xử ra dáng bạn bè thật đấy!" (giọng mỉa mai.) Bồi thẩm đoàn bắt đầu cảm thấy ghét gác thanh niên ăn vận chải chuốt này. "Mister......er....Brierly! Không phải cô Hawkins đã từ chối anh sao?"
Harry đỏ mặt, ấp úng nhìn vị thẩm phán. "Anh phải trả lời chứ, thưa anh," vị thẩm phán lên tiếng.
"Cô ấy—cô ấy—không chấp nhận tôi."
"Không. Tôi đoán thế. Brierly, anh có dám khai trước bồi thẩm đoàn rằng anh không hề có chút lợi ích nào trong việc loại bỏ đối thủ của mình là Đại tá Selby không?" Ông Braham gầm lên với giọng vang như sấm.
"Không có chuyện đó đâu ngài, hoàn toàn không có," nhân chứng thanh minh.
"Thế là đủ rồi, thưa anh," ông Braham lạnh lùng nói.
"Xin một lời," Viện kiểm sát nói. "Anh có mảy may nghi ngờ ý định của bị cáo cho đến khoảnh khắc nổ súng không?"
"Hoàn toàn không," Harry kiên quyết đáp.
"Dĩ nhiên là không, dĩ nhiên là không rồi," ông Braham gật đầu ra hiệu với bồi thẩm đoàn.
Phía công tố tiếp tục gọi ra boc những nhân chứng khác chứng kiến vụ nổ súng tại khách sạn, cùng nhân viên tiếp tân và các bác sĩ điều trị. Sự thật về vụ án mạng đã được xác lập rõ ràng. Không có tình tiết mới nào được khai thác thêm, ngoại trừ lời khai của nhân viên tiếp tân khi trả lời câu hỏi của ông Braham, rằng lúc bị cáo hỏi tìm Đại tá Selby, cô có vẻ kích động và trong mắt ánh lên một vẻ hoang dại.
Bản cung hấp hối của Đại tá Selby sau đó được đưa ra. Trong đó nêu bật những lời đe dọa của Laura, nhưng có một chi tiết bổ sung rất quan trọng mà báo chí chưa từng đưa tin. Dường như sau khi lấy lời cung theo như báo cáo, các bác sĩ mới lần đầu tiên cho vị Đại tá biết rằng vết thương của ông là chí mạng. Ông tỏ ra vô cùng hoảng loạn và đau đớn về tinh thần; đồng thời nói rằng mình vẫn chưa khai xong lời khai. Ông khó nhọc thốt lên những từ này sau những khoảng lặng kéo dài. "Tôi—chưa—nói—hết. Tôi phải nói—hãy—ghi—lại—tôi—đã—lầm—với—cô ấy. Nhiều năm—trước—tôi—không—thấy—được—Ôi—Chúa—tôi—tôi—đáng—lẽ——"
Thế là hết. Ông ngất đi và không bao giờ tỉnh lại nữa.
Người nhân viên soát vé tàu tuyến Washington làm chứng rằng bị cáo từng hỏi ông xem có một gia đình quý ông nào đi chuyến tàu tối hôm đó hay không, đồng thời mô tả những người mà sau này ông nhận ra chính là Đại tá Selby và gia đình.
Susan Cullum, người hầu da màu tại nhà Thượng nghị sĩ Dilworthy, được triệu tập tuyên thệ. Từng biết Đại tá Selby. Đã thấy ông ta đến nhà đó nhiều lần, và ở một mình trong phòng khách với cô Hawkins. Ông ta đến trước ngày xảy ra vụ nổ súng đúng một ngày. Cô là người mở cửa cho ông ta. Trông ông ta có vẻ bấn loạn. Cô nghe thấy tiếng nói chuyện trong phòng khách, ngỡ là họ đang cãi nhau. Sợ có điều gì không ổn: Liền áp tai vào—ổ—khóa của cánh cửa phòng khách phía sau. Nghe thấy giọng đàn ông, "Tôi—không—thể—tôi—không—thể, lạy Chúa," nghe như đang van xin. Nghe thấy—giọng cô tiểu thư, "Vậy thì tùy anh lựa chọn. Nếu anh bỏ rơi tôi, anh biết điều gì sẽ chờ đợi anh rồi đấy." Đoạn ông ta hớt hãi lao ra khỏi nhà, tôi bước vào—và tôi hỏi, "Thưa bà, bà vừa gọi chuông ạ?" Bà ấy đứng sừng sững như một con hổ, đôi mắt lóe sáng. Tôi liền lui ra ngay.
Đó là nội dung chính trong lời khai của Susan, không hề lung lay chút nào trước những màn tra hỏi hiểm hóc. Trả lời câu hỏi của ông Braham rằng trông bị cáo có vẻ mất trí hay không, Susan đáp: "Lạy Chúa; không thưa ngài, chỉ điên tiết như ong vò vẽ thôi."
Washington Hawkins được triệu tập tuyên thệ. Khẩu súng được viên cảnh sát xác nhận là hung khí trong vụ án mạng đã được đem ra. Washington thừa nhận đó là súng của mình. Cô ấy từng hỏi xin anh vào một buổi sáng, bảo rằng tưởng nghe có kẻ trộm đột nhập đêm hôm trước. Thừa nhận rằng anh chưa từng nghe thấy tiếng kẻ trộm nào trong nhà cả. Có điều gì bất thường xảy ra ngay trước lúc đó không? Không có gì mà anh nhớ được. Anh có tháp tùng cô ấy đến dự tiệc chiêu đãi nhà bà Shoonmaker trước đó một hoặc hai ngày không? Có. Đã có chuyện gì xảy ra? Hết gác điều này đến điều khác được moi ra từ nhân chứng rằng Laura đã cư xử kỳ lạ ở đó, có vẻ như đổ bệnh, và anh đã đưa cô về nhà. Khi bị gặng hỏi, anh thừa nhận rằng sau đó cô đã thú nhận là đã nhìn thấy Selby ở đó. Và Washington chủ động khai rằng Selby là một tên ác ôn máu lạnh.
Viện kiểm sát bực dọc lên tiếng: "Được—được rồi! Thế là đủ."
Bên biện hộ từ chối thẩm vấn anh Hawkins vào lúc này. Phần tranh tụng của bên công tố kết thúc. Về tội ác giết người thì không còn mảy may nghi ngờ gì nữa, cũng như việc bị cáo đã bám theo nạn nhân đến New York vớiý định giết người. Dựa trên các bằng chứng, bồi thẩm đoàn buộc phải kết tội, và có thể tuyên án ngay tại chỗ mà không cần phải đứng lên thảo luận. Đó là tình hình của vụ án hai ngày sau khi bồi thẩm đoàn được tuyển chọn. Một tuần đã trôi qua kể từ khi phiên tòa bắt đầu; và đã qua một ngày Chủ nhật.
Công chúng đọc các bản tin về bằng chứng đều thấy bị cáo không còn chút đường thoát nào. Đám đông khán giả theo dõi phiên tòa tràn ngập niềm đồng cảm sâu sắc dành cho Laura.
Ông Braham bắt đầu phần biện hộ. Thái độ của ông rất điềm đạm, và ông nói với âm lượng nhỏ đến mức chỉ nhờ vào sự im lặng tuyệt đối trong phòng xử án người ta mới có thể nghe thấy. Tuy nhiên, ông phát âm rất rõ ràng, và nếu có thể nhận ra quốc tịch của ông qua giọng nói thì đó chỉ là sự phong phú và vang vọng trong âm sắc.
Ông mở đầu bằng cách nói rằng bản thân vô cùng run sợ trước trách nhiệm đã gánh vác; và ông sẽ hoàn toàn tuyệt vọng nếu trước mặt mình không phải là một bồi thẩm đoàn gồm mười hai người có trí tuệ uyên bác, những bộ óc sắc sảo đủ sức tháo gỡ mọi ngụy biện của bên công tố, những con người có lòng tự trọng sẽ phẫn nộ trước cuộc đàn áp không thương tiếc của nhà nước đối với người phụ nữ bị săn đuổi này, những con người có trái tim biết đồng cảm với những bất công mà cô là nạn nhân. Còn lâu ông mới dám hoài nghi động thái của những vị luật sư tài năng, hùng biện và đầy mưu lược bên phía nhà nước; họ hành động theo công vụ; việc của họ là kết tội. Còn việc của chúng ta, thưa các vị, là đảm bảo công lý được thực thi.
"Bổn phận của tôi, thưa các vị, là phơi bày cho các vị thấy một trong những vở kịch bi thương nhất trong toàn bộ lịch sử của những bất hạnh. Tôi sẽ phải cho các vị thấy một cuộc đời là trò đùa của số phận và hoàn cảnh, bị cuốn đi giữa giông bão và nắng vàng đổi thay, lúc rực rỡ bởi sự ngây thơ tin tưởng, lúc lại đen tối bởi sự độc ác nhẫn tâm, một cuộc đời diễn ra trong tình yêu, sự ruồng bỏ và nỗi thống khổ, luôn bị bao trùm bởi bóng ma đen tối của BỆNH TÂM THẦN—một căn bệnh di truyền và do sự hành hạ tinh thần gây ra—cho đến khi kết thúc, nếu bắt buộc phải kết thúc bằng phán quyết của các vị, thì đó là một trong những tai nạn kinh hoàng mà con người không thể thấu hiểu và chỉ có một mình Chúa mới biết được bí mật ấy.
"Thưa các vị, tôi muốn mời các vị rời khỏi phòng xử án này cùng với những kẻ sai nha của luật pháp, rời khỏi hiện trường của thảm kịch này, để trở về một thời điểm xa xôi nào đó, ước gì tôi có thể gọi đó là một ngày hạnh phúc hơn. Câu chuyện tôi sắp kể là về một bé gái đáng yêu, với mái tóc vàng óng và đôi mắt biết cười, đang đi cùng cha mẹ—rõ ràng là những người giàu có và tao nhã—trên một chiếc tàu hơi nước trên sông Mississippi. Một vụ nổ xảy ra, một trong những thảm họa khủng khiếp để lại vết hằn tâm thần bất ổn cho những kẻ sống sót. Hàng trăm thi thể không còn nguyên vẹn bị vùi dập vào cõi vĩnh hằng. Khi đống đổ nát được dọn sạch, người ta tìm thấy cô bé ngọt ngào này giữa những kẻ sống sót đang hoảng loạn kinh hoàng, giữa một khung cảnh đủ sức làm suy sụp cả những bộ óc vững vàng nhất. Cha mẹ cô bé đã biến mất. Mọi nỗ lực tìm kiếm thi thể của họ đều vô ích. Đứa trẻ bàng hoàng, đau khổ—ai mà biết được sự kiện kinh hoàng ấy đã gây ra những thay đổi gì trong bộ óc non nớt của con bé—đã bám chặt lấy người đầu tiên thể hiện lòng trắc ẩn với mình. Đó chính là bà Hawkins, người phụ nữ tốt bụng hiện vẫn là ân nhân đầy yêu thương của cô. Laura được gia đình Hawkins nhận nuôi. Có lẽ theo thời gian, cô quên mất rằng mình không phải là con ruột của họ. Cô là một đứa trẻ mồ côi. Không, thưa các vị, tôi sẽ không lừa dối các vị đâu, cô ấy không phải trẻ mồ côi. Còn tồi tệ hơn thế nữa. Lại một ngày đau khổ nữa kéo dài. Cô biết rằng cha mình vẫn còn sống. Ông ấy là ai, đang ở đâu? Hỡi ôi, tôi không thể nói cho các vị biết. Suốt dọc những khúc quanh đau đớn của lịch sử này, ông ta vất vưởng khắp nơi như một kẻ mất trí! Nếu ông đi tìm con gái mình, đó chỉ là cuộc tìm kiếm vô mục đích của một tâm hồn cuồng loạn, như một kẻ lang thang mất hết lý trí, cứ gào thét con ta đâu rồi? Laura đi tìm cha. Hoàn toàn vô ích, cứ ngay lúc cô sắp tìm thấy ông, hết lần này đến lần khác—ông lại biến mất, đi mất, tan biến vào hư vô.
"Nhưng đây mới chỉ là khúc dạo đầu cho thảm kịch. Xin hãy kiên nhẫn lắng nghe tôi kể tiếp. (Ông Braham lấy ra một chiếc khăn tay, từ từ mở ra; vo tròn nó trong bàn tay đầy căng thẳng, rồi ném lên bàn). Laura lớn lên trong ngôi nhà miền Nam khiêm nhường, là một sinh linh xinh đẹp, niềm vui của cả nhà, niềm tự hào của vùng quê, bông hoa xinh tươi nhất ở miền Nam đầy nắng gió. Lẽ ra cô ấy đã có thể hạnh phúc; cô ấy đã từng hạnh phúc. Nhưng kẻ hủy diệt đã bước vào thiên đường ấy. Hắn đã ngắt đi nụ hoa ngọt ngào nhất nở rộ nơi đó, và sau khi tận hưởng hương thơm, lại giày xéo nó dưới bùn nhơ chân hắn. George Selby, kẻ đã khuất, một Đại tá phe Miền Nam điển trai, tài hoa, chính là con quỷ mang lốt người này. Hắn lừa dối cô bằng một đám cưới giả; vài tháng sau, hắn nhẫn tâm ruồng bỏ cô và khinh miệt cô như một món đồ bỏ đi; trong khi suốt thời gian đó hắn đã có vợ ở New Orleans. Laura suy sụp hoàn toàn. Suốt nhiều tuần liền, như tôi sẽ chứng minh cho các vị thấy qua lời khai của người mẹ nuôi và người anh trai, cô đã cận kề cái chết trong những cơn mê sảng. Thưa các vị, liệu cô ấy có bao giờ thoát khỏi cơn mê sảng ấy không? Tôi sẽ chứng minh cho các vị thấy rằng khi sức khỏe hồi phục, tâm trí cô đã thay đổi, cô không còn là con người ngày trước nữa. Các vị có thể tự phán xem liệu lý trí lụi tàn ấy có bao giờ tìm lại được ngai vàng của nó hay không.
"Năm tháng trôi qua. Cô đang ở Washington, bề ngoài là một tiểu thư được ái mộ trong một xã hội hào nhoáng. Gia đình cô bỗng trở nên giàu có sụm sọ nhờ một trong những bước ngoặt bất ngờ của vận mệnh mà người dân châu Mĩ đã quá quen thuộc—việc phát hiện ra tài sản khoáng sản khổng lồ ở một vùng đất hoang do họ sở hữu. Cô tham gia vào một kế hoạch nhân đạo quy mô lớn nhằm giúp đỡ người nghèo bằng nguồn tài sản đó. Nhưng hỡi ôi, ngay lúc đó và ở nơi đó, cái số phận nghiệt ngã ấy vẫn tiếp tục đeo bám cô. Tên ác nhân Selby lại xuất hiện như thể cố tình hoàn tất việc hủy hoại cuộc đời cô. Hắn xuất hiện để nhạo báng sự nhục nhã của cô, đe dọa sẽ phơi bày mọi chuyện nếu cô không chịu trở thành nô lệ cho dục vọng của hắn một lần nữa. Thưa các vị, các vị có ngạc nhiên không khi người phụ nữ này, bị dồn ép đến đường cùng như thế, đã mất đi lý trí, hoảng loạn tột độ vì sợ hãi, và những bất công cứ gặm nhấm tâm can cho đến khi cô không còn làm chủ được hành vi của mình nữa? Tôi quay mặt đi như một kẻ không đành lòng chứng kiến ngay cả sự báo ứng công minh từ Thiên đàng. (Ông Braham dừng lại như thể không kìm nén được cảm xúc. Bà Hawkins và Washington đều bật khóc, và rất nhiều khán giả cũng vậy. Bồi thẩm đoàn trông có vẻ hoảng sợ.)
"Thưa các vị, trong tình thế ấy, chỉ cần thêm một tia lửa—tôi không nói là một sự xúi giục, tôi không nói là một gợi ý—từ gã bướm hoa Brierly này; từ cái tên tình địch bị hắt hủi này, là đủ để gây ra vụ nổ. Tôi không buộc tội ai cả, nhưng nếu người phụ nữ này hoàn toàn minh mẫn khi bỏ trốn khỏi Washington và đến được thành phố này cùng với—Brierly, thì tôi thực sự không biết thế nào mới là điên loạn nữa."
Khi ông Braham ngồi xuống, ông cảm thấy bồi thẩm đoàn đã đứng về phía mình. Một tràng pháo tay vang lên, nhưng viên cảnh sát đã nhanh chóng dập tắt nó. Laura ngước nhìn luật sư của mình với đôi mắt đẫm lệ đầy biết ơn. Tất cả những phụ nữ có mặt trong đám đông khán giả đều nhìn thấy những giọt nước mắt ấy và cũng khóc theo. Khi nhìn sang ông Braham, họ thầm nghĩ, ông ấy thật bảnh bao làm sao!
Bà Hawkins bước lên bục nhân chứng. Bà có chút bối rối khi trở thành tâm điểm chú ý của quá nhiều ánh mắt, nhưng khuôn mặt hiền hậu và chân chất của bà lập tức tạo thiện cảm cho Laura.
"Thưa bà Hawkins," ông Braham nói, "bà có phiền không khi thuật lại những tình tiết khi bà tìm thấy Laura?"
"Tôi phản đối," ông McFlinn đứng phắt dậy nói. "Chuyện này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến vụ án cả, thưa tòa. Tôi thấy ngạc nhiên khôn cùng, ngay cả sau bài phát biểu kỳ quặc của người đồng nghiệp kính mến."
"Ông định làm cách nào để liên kết nó vào đây, thưa ông Braham?" vị thẩm phán hỏi.
"Nếu tòa cho phép," ông Braham đứng dậy với vẻ đầy uy nghiêm, "tòa đã cho phép bên công tố, và tôi đã nhẫn nhịn không nói nửa lời, được đi sâu vào những lời khai kỳ lạ nhất nhằm thiết lập động thái. Lẽ nào chúng tôi lại bị gạt ra ngoài, không được phép chứng minh rằng động thái mà họ quy chụp cho chúng tôi thực chất không thể tồn tại do những điều kiện tâm thần nhất định hay sao? Kính thưa tòa, tôi dự định sẽ chỉ ra nguyên nhân và nguồn gốc của sự tha hóa tâm thần, tiếp tục theo đuổi nó bằng những bằng chứng tương tự khác, kết nối nó với chính khoảnh khắc xảy ra vụ án mạng, qua đó cho thấy một trạng thái trí tuệ của bị cáo vốn tước đi mọi trách nhiệm hình sự."
Viện kiểm sát lên tiếng: "Nhà nước buộc phải giữ vững quan điểm phản đối. Mục đích ở đây hiển nhiên là dọn đường cho hàng loạt bằng chứng lạc đề, mà mục đích tạo ảnh hưởng lên bồi thẩm đoàn thì ai cũng rõ."
Vị thẩm phán gợi ý: "Có lẽ, tòa nên nghe lời khai trước, rồi hãy loại bỏ sau nếu thấy nó không liên quan."
"Xin tòa cho tranh luận về vấn đề đó!"
"Dĩ nhiên."
Và tòa đã nghe tranh luận thật, hoặc giả vờ nghe, suốt ròng rã hai ngày trời từ tất cả các luật sư lần lượt phát biểu, trong đó họ đọc ra hàng tá phán quyết mâu thuẫn nhau đến mức đủ để củng cố hoàn toàn cho cả hai phía, hết tập sách này đến tập sách khác, thực chất là cả một thư viện đồ sộ, cho đến khi chẳng một người phàm nào có thể phân biệt nổi các quy tắc rốt cuộc là gì nữa. Vấn đề bệnh tâm thần dưới mọi khía cạnh pháp lý dĩ nhiên đã bị lôi vào cuộc tranh luận, với các lập luận khẳng định rồi lại bác bỏ đan xen. Người ta cảm thấy số phận của vụ án phụ thuộc vào việc chấp nhận hay bác bỏ những bằng chứng này. Đây có thể coi là một bài kiểm tra thực chiến về sức mạnh giữa các luật sư. Cuối cùng, vị thẩm phán quyết định chấp nhận lời khai, giống như cách các thẩm phán thường làm trong những trường hợp thế này, sau khi đã lãng phí kha khá thời gian vào những thứ được gọi là tranh luận.
Bà Hawkins được phép tiếp tục lời khai.