Nhìn cậu con gò người trên chiếc án thấp, dúi mặt tận trang sách, mở to mắt cố đọc chữ bên dưới ngọn đèn cầy tù mù leo lét mà bà Hòa xót xa trong dạ.
Nhà neo đơn chỉ có hai mẹ con, chồng mất sớm khi bà còn mang thai cậu, nên khi chào đời, Hưu đã mồ côi cha.
Bà quyết ở vậy, làm lụng nuôi con ăn học cho đến khi khôn lớn thành tài. Như để bù đắp tình thương bao la và sự hy sinh cao cả đó, cậu Hưu lớn lên rất mực hiếu thuận chăm chỉ ngoan ngoãn… và còn mừng hơn khi cậu cực thông minh đĩnh ngộ, được người dân khắp vùng tôn là “thần đồng”.
Tài năng ấy, từ tư chất bẩm sinh chỉ là phần nhỏ, mà do sự khổ công rèn luyện của Hưu mới thật đáng nể. Bất kể đêm hè nóng nực hay tháng đông rét giá, cậu đều học đến tận khuya, rồi mới đầu canh năm (từ 3 đến 4 giờ sáng) lại trở dậy học tiếp, chẳng hề biết mệt mỏi, chẳng bao giờ nói “học đủ rồi”…
Đêm nay, bà Hòa thao thức không ngủ được, ngồi nhìn cậu cặm cụi bên nguồn sáng bé xíu mà chạnh lòng, chợt nghĩ:
— Không được rồi… học hành trong tăm tối thế kia, chưa đến đâu thì mắt đã lòa mất ấy chứ!…
Rồi, tay bà lần tìm lấy chiếc tráp đạt ở đầu chõng (giường tre), trong đó cất giữ xâu tiền, tuy chẳng nhiều nhặn gì nhưng là của tích cóp phòng khi trái gió trở trời…
— Mình sẽ sang bên Kẻ Chè[1] đặt làm cho con một chiếc đèn đồng (với số tiền này…) và dùng mua dầu thắp….
Bà định bụng như thế nên cảm thấy vui hơn, mân mê xâu tiền rồi đặt lại chỗ cũ. Bỗng, tay bà đụng phải chiếc túi gấm trong tráp, bà cầm lên, chợt bồi hồi nhớ lại chuyện xưa…
Khi mới về làm dâu nhà họ Lê, ông Minh chồng bà[2] đã trao cho bà chiếc túi gấm này, ân cần dặn dò:
— Đây là bảo vật truyền đời của dòng họ nhà ta, mình phải cất giữ cẩn thận…
Rồi ông mở túi, nhẹ nhàng trút vào lòng bàn tay bà… ồ, là bốn viên ngọc nhỏ tròn xinh xắn, điều đặc biệt là chúng tỏa sáng ngời ngời, một màu xanh dịu mát. Ông kể:
— Bảo ngọc này, chính là một trong số những báu vật của nhà vua ân hưởng mà ông tổ ta rất quí, chọn làm gia bảo truyền đời. Tiếc rằng con cháu đời sau không nối được chí ông, và đến ta thì nàng biết đấy… chỉ còn có nó xem như là di vật của tổ tiên để lại, minh chứng rằng họ Lê đã từng oanh liệt xưa kia…
— Dùng ngọc này làm việc hữu ích cho sự học của nó, còn hơn…
Gà đã gáy sáng, bà Hòa đứng dậy, cẩn thận cài túi ngọc vào thắt lưng, nhẹ nhàng đi ra cửa…
— Hưu ơi… mẹ có quà cho con này…!
Hưu đang học, nghe mẹ gọi vội buông sách chạy ra đón. Mẹ đi chợ về, mặt lấm tấm mồ hôi nhưng sao tươi tỉnh lạ, còn cười đầy vẻ… bí mật. Hưu đón lấy thúng hàng đầy ắp mẹ cắp bên hông, bưng vào nhà phụ mẹ, cậu hớn hở:
— Mẹ kiếm được sách quí cho con, phải không mẹ?
Bà Hòa cười từ tốn mở khăn đậy thúng, lôi ra một chiếc đèn đồng sáng chóe:
— Đây, mẹ cho con này…!
Hưu tròn xoe mắt, há hốc cả miệng, ngẩn người ngắm chiếc đèn. Ôi, nó đẹp làm sao…!
Ôm chiếc đèn vào lòng nâng niu, Hưu sung sướng cảm động, thốt không nên lời…
Mẹ vuốt tóc cậu, bảo:
— Mẹ mong rằng với chiếc đèn này,sẽ giúp con học tập tốt hơn, trí tuệ con luôn sáng láng như ngọn đèn chiếu soi vậy…
Hưu rưng rưng nước mắt:
— Vâng ạ… Con xin hứa, sẽ luôn cố gắng ạ…
— Và một điều nữa, mẹ muốn con phải tự biết xét soi trước việc tốt xấu, điều thiện ác, để giữ mình luôn trong sạch như viên minh châu không tì vết kia!
Bà mẹ lại ân cần khuyên dạy, chỉ cho cậu xem viên ngọc sáng ngời, Hưu rất cảm động, cậu hùng hồn hứa:
— Vâng, con xin nhất nhất nghe lời mẹ dạy… mãi mãi!
Từ đó, đêm đêm cây đèn đồng luôn được thắp sáng, ngọc minh châu từ mắt rồng như hút lấy nguồn sáng, rồi phản chiếu trở lại làm cho đèn càng tỏ rạng hơn, giúp cậu Hưu thêm hăng say học tập. Ánh đèn lan tỏa trong căn nhà còn làm ấm lòng người mẹ hiền, vì bà tin chắc một nguồn sáng khác còn mãnh liệt hơn, sẽ bừng lên trong tương lai. Đó chính là cậu Hưu, một nhân tài cho mai sau vậy…
Cây đèn của mẹ trở thành người bạn thân thiết nhất của Hưu trong suốt cuộc đời. Thời học trò, đèn đồng hành cùng cậu dùi mài kinh sử thì khi làm quan, đèn luôn theo ông để xét soi công việc án từ chiếu sớ hầu giữ mình được công minh liêm chính như lời mẹ dạy. Đèn còn là người bạn tâm giao, nhắc nhở, khích lệ, giúp Hưu vượt qua thử thách những lúc nản chí ngã lòng. Nhờ thế, suốt mấy mươi năm trường với hàng ngàn đêm thức trắng cùng đèn, rốt cuộc ông đã hoàn thành một tác phẩm đồ sộ, đó là bộ Đại Việt Sử ký, bộ sử đầu tiên của nước nhà, và ông cũng là nhà sử gia đầu tiên được công nhận.
Cây đèn còn là vật bất ly thân: trong những lần chạy loạn giặc Nguyên, khi mà triều đình phải đưa ông cùng những sử sách ở Quốc sử viện đến nơi an toàn để ông tiếp tục viết sử… ông luôn ôm chặt đèn theo.
❀ ❀ ❀
[1] Gần Kẻ Rị, quê của Lê Văn Hưu, nổi tiếng với làng nghề đúc đồng. Nay là huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.
[2] Tức ông Lê Văn Minh, cha của Lê Văn Hưu.