Một buổi đi học về, tung tăng chân sáo trên đường làng, lòng Hưu rộn ràng vui tươi khi chợt nhận ra cảnh vật đang thay đổi, muôn hoa khoe sắc, chim ríu rít trên cành, cánh bướm dập dờn trong gió hây hây của tiết xuân êm đềm ấm áp… Nhưng, vui hơn hết là càng ngày sự hiểu biết của cậu càng rộng thêm, dung nạp biết bao là kinh sách thánh hiền. Giờ thì văn thơ phú lục gì cậu cũng thành thạo cả, xuất khẩu thành thi, ứng đối tài tình nên rất được thầy yêu bạn quý, và tâm trạng cậu đang rất phấn chấn yêu đời…
Chợt có tiếng búa nện đe vang lên chát chúa cắt đứt dòng suy nghĩ miên man, Hưu khựng bước, nhìn quanh…
A… là lò rèn của cha con bác phó đây mà, mình ghé vào xem, cũng hay đấy…! Với bản tính thích quan sát tìm hiểu, Hưu liền tách khỏi đường cái, men theo bờ đất tiến đến ngôi nhà tranh lụp xụp núp dưới bóng râm một cây cổ thụ, đó chính là xưởng rèn bác phó.
Bên trong, hơi nóng hừng hực tỏa ra, lò than đỏ rực hắt sáng lên khuôn mặt cha con bác thợ nhễ nhại mồ hôi. Anh con trai đang thụt bễ lò rèn (với động tác kéo lên xuống liên tục hai cần tre nối liền hai ống hình trụ bọc da kín, bằng cách này sẽ bơm gió và không khí theo ống thổi vào lò, phát ra tiếng kêu phì… phò và khiến than cháy phừng lên).
Bác phó thì chăm chú nhìn thanh sắt đang nung, vùi trong lò, khi thấy đã đủ độ liền dùng kìm gắp ra đặt lên đe, nhanh tay quai búa làm bắn xoẹt ra những bông lửa đỏ, là những tinh thể sắt bốc cháy, nhấp nháy trông thật vui mắt… Cứ thế, Hưu đứng mải mê xem cha con bác phó rèn, người kéo bễ phì phò, người đánh búa leng keng. Chợt, cậu nhìn thấy cái giá gỗ treo ở vách, trên gắn đầy những chiếc dùi… Ôi, thật là thích!
Đấy là những chiếc dùi thành phẩm đã trui rèn xong, một đầu được mài nhọn, đánh bóng sáng loáng, đầu kia gắn vào tay cầm bằng gỗ tiện, tròn tròn xinh xinh… Trên giá, cắm hàng loạt dùi to nhỏ dài ngắn đủ kích cỡ.
— Phải chi… mình có một chiếc để dùi giấy đóng tập thì thích biết mấy![1]
Hưu thèm thuồng, cứ tròn mắt nhìn dán vào giá cắm dùi, thầm nghĩ….
Bác thợ rèn đang nghỉ tay uống nước, thấy điệu bộ của Hưu thì hiểu ngay cơ sự, cười bảo:
— Này cậu trò nhỏ, thích lắm phải không?
Hưu xấu hổ đỏ mặt, ấp úng ậm ừ…
— Được, cậu là học trò, vậy ta ra đối, hễ đối được ta tặng ngay cho chiếc dùi…
— Thật thế hở bác…? Ôi, cháu thích lắm, bác… ra đối đi.
Hưu vui sướng nhảy cỡn, mừng rỡ reo.
— Cha à,… người ta học sâu hiểu rộng, phong phú ý tứ mới đối đáp, chứ cha con mình chỉ biết… sắt với lửa, thì đối nỗi gì…. Hi hi….! Anh con trai góp chuyện, có vẻ chế giễu, cười tít.
— Há há, sâu với chả rộng, cần quái gì, cha chỉ cần lấy ngay sự vật quanh đây, cũng đủ ra đối rồi…
Người cha, áng chừng hiểu biết chữ nghĩa và có tính trào lộng, nên cũng cười to sảng khoái đáp lời cậu con. Xong, ông làm bộ lập nghiêm, tay chỉ từng thứ, từ tốn bảo Hưu:
— Nghe đối đây:…. THAN TRONG LÒ, SẮT TRONG LÒ, LỬA TRONG LÒ, THỔI PHÌ PHÒ ĐÚC NÊN DÙI VỞ.
Ô… Bác thợ rèn đã ra câu đối rất hay; bác dùng lối điệp đối (chữ trong câu được lặp đi lặp lại) để chỉ các vật dụng nghề rèn của mìn (lò, than, sắt, lửa) và mô tả công việc lao động vất vả mới có được thành quả là chiếc dùi vở nhỏ xíu, phải nhẫn nại như mài sắt thành kim vậy.
Cậu Hưu, không hổ danh là thần đồng trí tuệ, chẳng cần suy nghĩ lâu, đáp đối tức thì:
“GIẤY TRONG TÚI, BÚT TRONG TÚI, MỰC TRONG TÚI, VIẾT LÚI HÚI MÀ ĐỖ KHÔI NGUYÊN”
Hưu chỉ ngay các đồ dùng học tập đang mang trên người là giấy, bút, mực, túi làm vật đối để chọi lại câu của bác thợ rèn; ý đối còn chất chứa một sự tự tin mãnh liệt, một chí khí mạnh mẽ về hoài bão lớn lao khi cậu cho rằng với sức học của mình, chỉ cần lúi húi viết chơi cũng đỗ đầu khoa giáp.
Bác phó hết sức khâm phục, tấm tắc ngợi khen mãi, chọn ngay cây dùi đẹp nhất tặng cậu, còn thưởng thêm ba tiền cho cậu mua giấy đóng tập…
❀ ❀ ❀
[1] Bạn biết không, ngày xưa chẳng có tập vở đóng sẵn đâu, học trò có giấy để viết đã là quí lắm vì rất mắc, muốn đóng thành tập để lưu giữ thì phải dùi lỗ ở một cạnh, xâu chỉ xỏ qua các tờ rồi cột gút lại làm gáy tập.