Cậu bé có chỏm tóc trái đào, gương mặt tròn trịa mũm mĩm dễ thương, đặc biệt là đôi mắt đen láy lúc nào cũng mở to xoe tròn đầy nét tinh anh, nhìn cuốn hút như muốn thu tóm mọi sự việc vào khối óc còn non nớt lại thích quan sát học hỏi của mình. Cậu mới chỉ… lên năm, cái tuổi mà chạy còn chưa nhanh, bị đánh thì khóc nhè; ấy vậy mà chẳng giống bọn ti ấu cùng lứa còn tranh ăn giành ngủ, cậu rất thích mon men đến Quán học xem đám học trò tập văn, và nhất là nghe thầy giáo Thụ từ trên huyện về giảng sách, bình văn.
Quán học là ngôi nhà cột gỗ mái tranh đơn sơ, chung quanh gắn lan can gỗ, trong đặt bộ bàn ghế cho thầy, và những ghế dài xếp ngang dọc để học trò ngồi. Nơi đây, cứ vào ngày sóc, vọng hàng tháng (mùng một và ngày rằm), thầy lại về giảng dạy.
Hôm nay, Quán học đông đủ mọi người vì là kỳ tiểu tập[1] và đương nhiên cậu bé cũng có mặt. Thừa lúc thầy hăng say giảng, còn trò thì mải miết cắm cúi ghi chép, cậu bé len lén trèo lên cả lan can gỗ, ngồi vắt vẻo đu đưa ra chiều khoái chí lắm, cậu xoay đầu đảo mắt, hết nhìn người này đến người kia…
Chợt thầy trông thấy một trò có vẻ xao nhãng, liền bảo:
— Anh kia, đọc lại chương “Thần đồng thi”[2] ta nghe nào!
Anh ta đứng lên hoảng hốt, lúng túng lắp bắp:
— Ơ… Thiên tử trọng anh hào… hào… hào….?!
Chỉ được thế rồi sờ đầu nhăn mặt nhíu mày khổ sở, cố nhớ mà nhớ không ra. Bỗng có tiếng nhắc bài làm anh mừng quýnh, vội đọc theo ngay:
—…. Văn chương giáo nhĩ tào… ạ….
— Rồi sao nữa? Thầy ngạc nhiên vì anh này cứ ngắc ngứ câu một.
Cậu bé lại nhắc:
— Vạn ban…
Anh ta như sực nhớ ra, vội đọc thông suốt:
— Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao!… Hết ạ![3]
Thầy nghi ngờ lắm vì qua nhiều lần khảo hạch, anh chàng này bao giờ cũng ấm ớ, lúc thuộc bài, lúc không rất là khó hiểu… tựa như có kẻ nhắc tuồng vậy.
Thầy chồm người nhìn ra sau lưng anh học trò… A! Đây rồi, một cậu bé ngồi trên thành gỗ, vẫn đang đọc đi đọc lại các câu ban nãy, trông cậu thật hồn nhiên, chu mỏ tròn miệng phát âm, lại cười tít khi thấy thầy há hốc nhìn mình nữa chứ…
— Này cháu bé, cháu bao tuổi rồi? Thầy hỏi.
— Gần năm tuổi ạ… Cậu xòe bàn tay giơ lên, trả lời.
— Thế… cháu đã được học chữ chưa?
Cậu lắc đầu nguầy nguậy:
— Chưa ạ.
— Sao cháu lại thuộc được bài văn này?
— Cháu nghe ông đọc mấy lượt rồi.
Thầy ngạc nhiên lẩm bẩm:
— Lạ thật… Chưa biết chữ, mà có thể thuộc được những câu dài thế kia, thì chẳng phải thường…
Ông dẫn cậu bé đến bên án thư, lấy giấy bút, viết câu chữ, cậu nghiêng đầu theo dõi, rất chăm chú..
Rồi giơ cho cậu xem, chỉ từng chữ, giảng rành mạch:
— Đây là chữ THIẾU, chữ TIỂU… TU… CẦN… HỌC. Có nghĩa là trẻ phải siêng năng học tập. Cháu hiểu không? Nhớ không?
Mặt sáng bừng, cậu cười toe, gật lia lịa:
— Hiểu ạ, nhớ ạ!
Thầy cất giấy ấy đi, lấy một tờ khác viết hệt như cũ rồi đưa cậu xem.
— Đây là câu chữ gì? Có ý gì cháu biết không?
Cậu rành rọt chỉ từng chữ, giảng giải:
— Chữ THIẾU này… chữ TIỂU này… TU, CẦN, HỌC này… có nghĩa là lúc trẻ phải siêng năng học tập!… Hi hi…
Cậu cười hớn hở hệt như học trò giỏi vừa trả bài xong, đợi thầy ban khen. Còn ông giáo Thụ già thì ngạc nhiên hết mức. Ông lấy giấy khác viết chữ mới, cắt nghĩa cho hiểu rồi lại cất đi. Lát sau, xấp giấy đã dày chứa đầy câu chữ, ông giáo rút từng tờ chẳng theo thứ tự nào, hỏi thì cậu đều nhớ, đáp đúng cả. Day sang đám học trò, thầy bảo:
— Ôi… cậu bé này chưa học chữ mà đã thông tuệ phi thường, có trí nhớ thần kỳ, đúng là… thần đồng đó. Các anh rồi sẽ chẳng theo kịp đâu.
Cậu bé đó chính là Lê Văn Hưu, quê ở làng Phủ Lý (còn gọi nôm là Kẻ Rị) thuộc châu Ái, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hưu mồ côi cha từ lúc chưa chào đời nên chỉ được sự giáo dưỡng của mẹ là bà góa phụ Đỗ Thị Hòa.
Họ Lê này, thuở xa xưa vào thời nhà Đinh, Lê; tổ bảy đời của Hưu là ông Lê Lương, một hào trưởng giàu có nhất vùng, vì có nhiều công trạng với nước với dân, nên đã từng được phong làm Trấn quốc bộc xạ, được ban phẩm hàm và nhiều ân tứ khác, nhưng về sau thì sa sút dần, đến đời Hưu thì chỉ còn thừa hưởng cái tiếng thơm là xuất thân từ danh gia vọng tộc mà thôi.
Riêng về họ ngoại, ông ngoại của Hưu là Đỗ Tất Bình, vốn là một nhà Nho tinh thông phong thủy địa lý. Cái tên “Hưu” là do chính ngoại đặt khi cậu mới lọt lòng mẹ với hàm ý hãy thôi đi những điều xui rủi xấu xa (sớm mất cha) và Hưu cũng có nghĩa là điều tốt lành.[4]
Từ lúc dân làng kháo nhau về chuyện cậu Hưu thần đồng, đọc đâu nhớ đấy rộ lên, ông ngoại biết rằng cái tinh anh tinh túy của cậu đã phát tiết ra ngoài, cần phải uốn nắn dạy dỗ ngay, nên liền truyền thụ chữ nghĩa bước đầu… Chỉ vài năm sau, khi mà bọn trẻ đồng lứa vẫn mãi ê a câu ba chữ của sách giáo đầu Tam tự kinh, thì Hưu đã làu thông cả chương sơ học, đọc cả kinh sử thi thơ… Ông ngoại liền gởi Hưu sang Kẻ Bôn (tức làng Phúc Triều kế bên) để tiếp tục thụ giáo thầy đồ Nguyễn, vì kiến thức của mình đã trút sạch cho cậu cả rồi…
❀ ❀ ❀
[1] Tiểu tập, đại tập: các kỳ kiểm tra ôn luyện như thi học kỳ ngày nay vậy.
[2] Thần đồng thi: do Uông Chu thời Bắc Tống biên soạn, thơ ca ngợi sự học và khoa cử.
[3] Bốn câu này có nghĩa là: Hoàng đế coi trọng anh hùng hào kiệt, lấy tri thức văn hóa để giáo dục mọi người. Tất cả các ngành nghề đều xếp dưới, chỉ có đọc sách là cao quí nhất.
[4] Hưu là thôi; Hưu là lành.