… “Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Câu ca dao này ai trong chúng ta cũng đã nằm lòng từ thuở bắt đầu cắp sách đến trường. Nhưng, ghi nhớ thì dễ, thực hành mới là điều khó, chỉ cần bị cha mẹ rầy la chút đỉnh, thì bạn đã vùng vằng giận dữ rồi, đúng không nào?!….
Vậy mà có những người, từ thơ ấu cho đến lão thành, vẫn một lòng cung cúc tận tụy phụng thờ cha mẹ, giữ tròn đạo hiếu, được ngợi khen là hiếu tử, chí hiếu…
Một trong số đó là danh nhân Nguyễn Quán Nho, tấm gương sáng đa diện về tính hiếu học vượt khó, về lòng nhân ái độ lượng và nhất là “Lòng hiếu thảo”, đức tính quan trọng nhất để hình thành nên tất cả. Vì như người xưa đã nói: “Khai nhân tam tất bổn ư đốc thân chi hiếu”. (Người không có hiếu với cha mẹ thì nhất định không có đạo đức, không dùng được).
• • •
Dưới thời nhà Lê, vào đời vua Lê Huyền Tông, ở làng Vân Hà huyện Thiệu Hóa - Thanh Hóa có gia đình bần nông nọ, mẹ góa con côi. Mẹ là Trịnh Thị Phúc và cậu con nhỏ là Nguyễn Quán Nho. Tuy góa bụa và còn xuân sắc, nhưng bà quyết thủ tiết thờ chồng, hết lòng nuôi dạy con nên người, vì dẫu gì bà cũng thuộc dòng gia phong lễ giáo, hơn thế nữa bà còn có người anh ruột là Trịnh Cao Đệ đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Tự Khanh.
Hoàn cảnh neo đơn, trong nhà thiếu mất sức lao động chủ lực của người đàn ông đương nhiên là sa sút rồi,vậy mà mọi sự giúp đỡ của người anh, và cả bên ngoại, bà đều khẳng khái khước từ, vì không muốn bị xem là gánh nặng, được ban phát lòng thương hại và nhất là để làm gương cho cậu con phải tự đứng trên đôi chân mình, tự lực cánh sinh, không lười biếng ỷ lại, không mơ tưởng của cải của người khác.
Mẹ hiền thục như thế, nên cậu con hiếu thuận cũng là hợp đạo lý. Mới lên năm tuổi, Quán Nho đã thấy được sự vất vả cật lực của mẹ để đánh đổi cái ăn: từ tinh mơ mẹ đã thức dậy xắt cây chuối, vớt bèo bằm nấu cám cho lợn ăn, rồi vác cuốc cào đi làm thuê, chiều về lại se dây bện thừng, tất bật cả ngày. Nên chi cậu cố gắng giúp mẹ đỡ gánh lo bằng cách luôn quét dọn nhà cửa sạch sẽ, đổ nước đầy chum, nhặt rơm mót củi rồi ra đồng mò cua bắt ốc về để mẹ làm thức ăn….
Tuy thanh bần nhưng cuộc sống của họ luôn đầm ấm yên vui. Có điều, người mẹ còn canh cánh bên lòng một nỗi lo toan khi thấy cậu ngày càng lớn, đã đến tuổi thọ giáo nhập môn để học chữ thánh hiền, mà tiền bạc thì nhà chẳng có.
Đau lòng hơn khi bà phát hiện ra con mình rất hiếu học, rảnh rỗi chẳng hề chơi bời lêu lổng mà chỉ thích đến lớp thầy đồ, nấp bên ngoài học lóm.
— Vùng quê mình vốn nổi tiếng đất học, chí ít cũng có đến vài mươi ông Tiến sĩ dương danh thiên hạ rồi… bà Phúc thầm nghĩ - Thằng Nho nhà mình ham học như thế, biết đâu mai này chẳng nối gót tiền nhân, làm rạng rỡ tông môn…
Vậy là bà càng ra sức làm lụng để kiếm tiền nuôi con ăn học, quyết nuôi dưỡng cậu thành tài. Tội nghiệp, làm đến sức cùng lực kiệt, mà công cán có là bao, dành dụm mấy cũng chẳng đủ… May thay, vẫn còn xóm giềng tốt bụng, họ khuyên nhủ, xin góp sức cùng bà, kẻ ít người nhiều, cùng chung sức lo cho cậu Nho… Rồi cả thầy đồ cũng khuyến khích sự học, nên cuối cùng Quán Nho được thỏa nguyện cắp sách đến trường.
Vượt bao gian khổ thiếu thốn trong sự học, với ý chí quyết tâm và lòng say mê học tập, cuối cùng thành quả đã không phụ người gắng công: Quán Nho đỗ ông Cống (Cử nhân) rồi tiếp sau đỗ luôn ông Nghè (Tiến sĩ), đó là vào năm Đinh Mùi (1667)…
Ngày hôm ấy, vừa tảng sáng dân làng đã thức cả dậy, cười nói rộn ràng, đi lại vui như trẩy hội…Thì đúng là hội làng mà, hôm nay họ chuẩn bị đón ông Nghè Nguyễn Quán Nho vinh qui bái tổ đấy. Cổng làng, đình làng cắm cờ ngũ sắc rực rỡ, tường bao quanh đình giăng mắc đầy đèn hoa. Bên trong phương đình, các chức sắc đang cắt đặt cho cánh đàn ông ai vào việc nấy, từ chủ tế, bồi tế, hầu lễ, khiêng kiệu, vác cờ, lọng, lộ bộ cho đến chiêng trống mõ, v.v… Sau hậu đường, cánh phụ nữ chuẩn bị lễ vật dâng cúng thần Thành hoàng làng, từ hương đèn hoa quả cho đến chè rượu, mâm oản, xôi thịt, v.v… để ông Nghè làm lễ cáo yết với Thành hoàng và sau đó bái tổ tiên.
Theo điển lệ triều đình, Nghè Quán Nho được ban tặng mũ áo cân đai, ngựa cưỡi, lính hầu vác biển, truyền lô (loa) và cho lọng theo về làng cho xênh xang long trọng. Đặc biệt khoa thi này chỉ chấm đỗ… ba tiến sĩ, mà Nho lại đoạt Đình Nguyên (đứng đầu) nên chẳng khác gì quan Trạng, che đến bốn lọng xanh, vinh dự khôn tả (thường chỉ có hai lọng).
Nóng lòng về quê gặp mẹ già, lại thấy đi đường bộ gian nan trắc trở, trèo đèo vượt suối, khổ nhọc cho lính hầu nên Quán Nho chỉ xin đáp thuyền xuôi dòng sông Chu về bến Vân Hà quê nhà cho thuận tiện. Vậy mà cũng phải ghé qua Dương Xá, Thiệu Hóa đáp lễ các trạm nghinh đón quan tân khoa của cấp tỉnh, huyện…
Cuối cùng thì Vân Hà thân thuộc với lũy tre mái tranh êm đềm cũng hiện ra trước mắt, Quán Nho lòng rộn ràng, mong cho thuyền mau cập bến. Trên bờ hình như cũng thúc giục gọi thuyền khi đoàn người lố nhố hò reo, cờ xí phấp phới, pháo nổ râm ran xen với tiếng trống gióng chiêng khua ầm ĩ…
Tưởng đâu trong làng vắng ngắt vì mọi người đổ xô ra bến dự lễ cả… Nhưng lạ chưa kìa, một đoàn người phụ lão phụ nam, lớn thì áo dài khăn đóng chỉnh tề, đinh tráng thì chít khăn áo chẽn gọn ghẽ, vác theo cả võng lọng hớt hải từ phía nhà bà Phúc chạy ra dáo dác tìm… Họ tìm gì thế nhỉ?? Đích thị là tìm bà mẹ của quan Nghè chứ ai! Khổ thân, đã báo tin hẳn hoi, vậy mà đến giờ hành lễ, chẳng thấy bà đâu cả…
Họ xắn áo quần, băng đồng lội ruộng, tỏa ra tìm…
— Đây rồi các ông ơi… bà Phúc… ở dưới ao này…!
Nghe gọi, mọi người đổ xô đến thì thấy bà Phúc đang bình thản… vớt bèo!
— Lạy cụ, mời cụ lên ngay cho ạ…!
— Quan Nghè đã về đến bến sông rồi đấy ạ…!
— Vâng ạ… không khéo thì nghênh đón trễ mất…
Các vị quan viên, ông Lý, ông Hương thi nhau vái chào, thúc giục bà.
— Hứ!… Quan Nghè à?… Nó đã làm được gì cho dân chưa mà bắt dân phải rước xách nhiêu khê thế hử?
Nghe vậy, các vị chức sắc chưng hửng, bà lại tiếp:
— Dễ chừng nó đã quên cái cảnh mẹ vớt bèo bện thừng, con mò cua bắt ốc ngày trước rồi chăng?
Mọi người cố van nài, nhưng bà Phúc cứ thản nhiên như không, họ đành bàn nhau:
— Thôi thì cứ phải ra bến mà không có cụ, chứ vắng mặt cả đám thì càng đắc tội… Rồi kéo nhau vội vàng chạy.
Thuyền cập bến, Quán Nho lên bờ, vui vẻ cung tay chào dân làng xếp hàng hai bên tung hoa đón mừng. Phía trước, đặt hương án đỉnh trầm, chức sắc tề tựu đông đủ, võng lọng chờ sẵn, nhạc bát âm trỗi lên…
— Ô hay… Mẹ tôi đâu nhỉ?! Quán Nho chợt sững lại, nhìn quanh tìm kiếm…
Nghe các quan viên lúng túng thuật lại lời mẹ, Quán Nho giật mão khỏi đầu, sợ hãi than:
— Thôi chết… ta bị tội bất kính rồi…
Lột cả cân đai áo mão vua ban để lại, Quán Nho lật đật phóng về ao bèo ngoài mương ruộng… Mọi người chạy theo.
— Thưa mẹ, con về rồi đây ạ… Con đã đắc tội bất kính, xin mẹ tha thứ ạ…
Quán Nho quì sụp trên bờ, vái chào mẹ. Bấy giờ bà Phúc vẫn lội dưới ao, nước lấp xấp đến thắt lưng, bèo chung quanh đã vớt cả mà vẫn chưa đầy rổ nách bên hông, bà ngoái bảo Nho:
— Con lấy cây sào gạt nốt đám bèo ở góc kia vào đây, để mẹ vơ cho đầy rổ rồi hãy về… làm lễ.
Quán Nho xăng xái làm ngay, cầm sào đẩy cho dạt bèo về phía mẹ, nhưng mà đám bèo đan nhau dày đặc quá, ông liền nhảy ùm xuống, nhổ giật từng vốc to, ôm bỏ vào rổ cho đầy. Dìu mẹ lên bờ trước rồi Quán Nho mới tự mình bưng rổ bèo theo sau, mặc cho bùn nước thấm bẩn cả… Các đinh tráng xin vác hộ, Nho vui vẻ xua tay bảo:
— Đây là mẹ muốn giáo huấn tôi: Chớ có quên đi cái gốc tích cơ hàn mà đánh mất phần hiếu… Lẽ ra, Nho này phải hầu rước mẹ chứ không phải bắt mẹ đi rước đó! Và còn dạy cả đức cung kính khiêm nhường, đừng bày vẽ rình rang, mà làm nhọc sức dân…
Hiểu ra, ai nấy đều vô cùng kính phục mẹ con quan Nghè, tấm gương “Mẹ hiền con hiếu” này mãi mãi sáng ngời sử son, dù đã qua ba trăm năm vẫn là bài học quí giá để chúng ta noi theo. Và câu “Vinh qui bái tổ sau rổ bèo đầy” được truyền tụng chính là kể về danh nhân Nguyễn Quán Nho chí hiếu đấy bạn ạ….