Thời niên thiếu Danh Nhân nước Việt

Lượt đọc: 227 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ân sư - Nhạc phụ
Ân sư - Nhạc phụ

❊ ❊ ❊

Bước qua tuổi mười, Hà Tông Huân giờ là một thiếu niên anh tuấn học rộng tài cao, sức học của cậu mãnh liệt như một dòng cuồng lưu bất tận, cuốn hút mọi tri thức vào trong, đến nỗi thầy đồ làng cạn kiệt cả chữ nghĩa chẳng còn gì để truyền thụ cho Huân, thầy khuyên cậu đi tìm người cao minh hơn mà thọ giáo.

Gia cảnh bố con Huân vốn chẳng khá giả gì, học với thầy đồ tại làng thì còn khả dĩ kham nổi, chứ đi xa trọ học là cả vấn đề khó khăn. Tuy vậy, được thầy khích lệ và bố hy sinh gói ghém tất cả những gì giá trị, làm hành trang cho mình theo đuổi sự học và tiến thân trên đường khoa cử, Huân rất cảm động, càng quyết tâm phải trau dồi đèn sách để không phụ lòng mong mỏi của cha, thầy… Cuối cùng, cậu cất bước ra đi, rời xa ngôi làng thân yêu đã ôm ấp bảo bọc mình suốt thời thơ ấu, với biết bao kỷ niệm cùng bạn bè, người thân… Huân lên đường tầm sư học đạo.

Bấy giờ có ông Nghè Bón nổi tiếng hay chữ mở trường dạy học. Sở dĩ gọi là Nghè Bón vì ông ở làng Châu Bôi mà tục gọi là làng Bón, thuộc xã Vĩnh Tường không xa Kim Vực quê Tông Huân là mấy… Và, trên đường đi, Huân gặp gỡ hai thiếu niên trạc tuổi mình là Trịnh Đồng Giai và Đỗ Huy Kỳ, họ cũng đang tìm đến thầy nhập học. Đồng tuổi đồng tài, đồng học và sắp sửa là bạn đồng môn nên chả mấy chốc mà ba bạn đã rất thân mật, chuyện trò rôm rả, bàn luận chuyện văn chương chữ nghĩa rất là tâm đắc, vui chuyện, mau chân quên cả mệt nhọc trên quãng đường xa, cuối cùng họ cũng đã đến làng Bón… Nhưng, chẳng cậu nào biết mặt thầy Bón cũng như trường học nằm ở đâu cả.

Cổng tam quan làng dưới bóng đa cổ thụ xum xuê đã hiện ra, nhưng một trận mưa rào bất chợt đổ ập xuống cản bước bọn họ. Cả ba lúng túng nhìn quanh, toàn là đồng nước trơ trụi, không có lấy một mái chòi lùm cây để trú mưa. Họ đành chịu trận, trùm vạt áo lên đầu che đỡ, xắn quần tháo guốc, ôm tay nải lúp xúp đội mưa đi… Oái oăm thay, đến cổng làng thì cơn mưa cũng đột ngột dứt hẳn, khiến cậu nào cậu nấy ướt như chuột lột, áo quần lấm tấm bùn đất…

— Ôi, mới đến trình diện thầy, mà y phục lôi thôi lếch thếch như vầy, thật là thất lễ đó!… Huy Kỳ than.

Đồng Giai nhếch cười an ủi bạn:

— Sự bất đắc dĩ mà… Chắc thầy không bắt lỗi đâu.

Tông Huân chẳng lý gì đến vẻ bề ngoài, cậu chỉ về phía cây đa, reo mừng bảo các bạn:

— Ha… Có lão nông ngồi kia kìa, mình đến hỏi thăm cho tiện, khỏi mất công dò tìm.

Cả ba bám lấy nhau, bấu chặt chân dò dẫm từng bước trên mặt đất vì vừa mưa xong, đường đất trở nên nhão nhoét, lơ mơ là ngã oạch đo đất chứ chẳng chơi. Đến dưới gốc cây, Huân lễ phép vái chào hỏi ông lão:

— Thưa cụ, cho chúng cháu hỏi thăm trường quan Nghè Bón làng ta, tọa lạc hướng nào ạ?

Lão nông tóc búi, đầu quấn khăn đầu rìu, râu bạc dài mà trông rất quắc thước, mình mặc bộ đồ nâu sồng chân quê, xắn ống. Bên cạnh đặt cần câu và rọ cá nhỏ, dường như vừa đi câu về, ngồi nghỉ. Lão vuốt chòm râu, cười hỏi:

— Á… à… nhìn điệu bộ mấy cậu, lão đây đoán chừng là học trò đến xin nhập môn quan Nghè phải không?… Được lắm…!

Lão khoát tay một vòng, tiếp:

— Nhờ ở làng này mà lão cũng võ vẽ được dăm ba chữ, vậy xin ra đối, các cậu mà đối được, lão sẽ dẫn đến tận trường quan Nghè, khỏi phải mất công tìm kiếm!

Ái chà, đúng là “đất học” có khác, một lão nông phu mà cũng thách đố chữ nghĩa sao?… Huân đang thầm nghĩ thì nghe ông lão hắng giọng, bảo:

— Nghe đối đây…

ĐI ĐƯỜNG ĐẤT THỊT, TRƠN NHƯ MỠ!… Khà khà, đối xem nào?!

— Trời!… Vế đối hay tuyệt! Huân giật mình thốt lên, quay sang Giai, Kỳ bảo:

— Ông ấy lấy ngay cái cảnh trời vừa mưa xong khiến đường đất lầy lội trơn trợt để xuất đối, mà khéo ở chỗ trong câu, chữ THỊT và MỠ đã tự đối nhau…

Cả ba nhíu mày suy nghĩ, cố tìm tứ đối… Chợt, Huân hoảng hốt la lên:

— Úi!… Chưa hết độ khó đâu nhé!… Ba chữ cuối “Trơn như mỡ” chính là tục ngữ, vậy đây còn là câu đối tức cảnh + tục ngữ… mình mà hấp tấp là mắc bẫy, đối sai ngay.

Giai, Kỳ càng thất vọng, giơ tay than:

— Trời đất!… Khó thế, làm sao đối nổi!

Lão nông vẫn ngồi ở gốc cây, chỉ im lặng vuốt râu nghe họ bàn tán… Huân nhìn lão, rồi nhoẻn cười vì đã có ý, liền chắp tay thưa:

— Cháu xin đối là: “NGỒI TỰA GỐC DA, MÁT THẤU XƯƠNG” ạ…!

Mọi người nghe Huân đọc đối xong, thì đều im lặng… Lát sau, lão nông vụt đứng dậy, cười sảng khoái rồi khen:

— Ha ha… Giỏi… giỏi lắm! Chữ chọi chữ, ý chọi ý thật chỉnh vô cùng. Dùng chữ DA (cây đa cũng gọi là DA) và XƯƠNG chọi lại chữ THỊT mà MỠ, thành ngữ “MÁT THẤU XƯƠNG”, đối với “TRƠN NHƯ MỠ” quả là tài tình… Ha ha!

Giai, Kỳ cười bảo nhau:

— Bạn ấy còn tức cảnh ông cụ ngồi tựa gốc đa, mới là hay chứ.

Vớ lấy cần câu, rọ cá, lão nông vui vẻ bảo:

— Đi nào!… Theo ta vào trường quan Nghè nhá…!

Lão dẫn đường, đi vững chãi như bước trên nền đất nện, còn ba cậu thư sinh thì bám víu nhau mà còn nghiêng qua ngả lại như bọn say rượu, thật là đường đất thịt trơn như mỡ mà…

Vào làng, đi quanh co một đỗi thì đến trước ngôi nhà ngói ba gian hai chái, tiền đình (sân trước) rộng rãi lát gạch, chưng nhiều chậu cảnh và hòn non bộ, chung quanh rào giậu hẳn hoi. Lão nông đẩy cửa cổng bảo:

— Đến rồi đấy, vào đi…

Nói xong, lão cứ tự nhiên bước thẳng như vào… nhà quen, còn bọn Huân, Giai, Kỳ thì rụt rè sợ sệt đùn đẩy nhau vào trước. Chợt thấy vài ba cậu thiếu niên vận áo dài khăn đóng chỉnh tề từ trong nhà chạy ra, kính cẩn lạy chào, đỡ lấy rọ cá, cần câu từ tay lão nông.

— Bẩm thầy mới về ạ…

Bọn Huân sửng sốt run rẩy muốn té sụm, thì ra lão nông chính là quan Nghè Bón! Cả ba vội chạy đến chắp tay quì thưa:

— Xin quan Nghè xá tội vô lễ cho chúng con ạ…

Lão nông cười ha hả, đỡ họ đứng dậy:

— Miễn lễ… không biết thì không có tội mà, ha ha… Nào, vào nhà ta hỏi chuyện.

Quan Nghè Bón tên thật là Trần Ân Chiêm, đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715) rồi ra làm quan. Nhưng chẳng bao lâu, thì xin cáo quan về quê nhà mở trường dạy học, vui thú điền viên. Thầy vốn sống bình dị hòa đồng với dân làng, ngoài những lúc bảo ban học trò thì cũng mặc áo nâu, vác cuốc cào ra đồng cày xới, nhàn nhã hơn thì đi câu cá bắt chim. Hôm nay gặp bọn Huân, chính là lúc thầy vừa đi câu về, ra đối thử thách các cậu, và vì Huân đối giỏi nên thầy mới dẫn về và nhận làm môn sinh. Từ đó, Huân, Giai, Kỳ được ở lại trọ học.

Với con mắt tinh đời của quan Nghè Bón, sau một thời gian đào tạo, ông đã nhận ra cả Tông Huân, Huy Kỳ và Đồng Giai đều là những văn tài kiệt xuất, rồi đây sẽ làm rạng danh khoa cử.[1] Những lần khảo hạch, tập văn, làm thơ phú, đối ngẫu… tài năng của họ bao giờ cũng đứng đầu lớp khiến ông rất mực hài lòng, càng ưu ái truyền thụ cho mọi sở học. Ông vẫn thường tấm tắc ngợi khen và kể về họ cho bà Nghè nghe. Một hôm, ông bảo vợ:

— Bà nọ ạ, bấy lâu nay mình nuôi dạy chúng nó như con cái trong nhà. Tôi tin rằng rồi chúng sẽ thành tài cả… Vậy, mình có ba đứa con gái, sao không gả luôn cho yên phận?!

Bà Nghè đáp:

— Cứ nghe ông khen mãi về tài học của ba đứa nó, thì tôi chỉ biết tin theo vậy. Nhưng mà tư cách đức độ từng đứa ra sao vẫn chưa biết được. Việc này phải để tôi tìm hiểu đã, vì gả chồng cho con quan trọng lắm đấy!…

Ông Nghè lặng thinh, để mặc vợ toàn quyền định đoạt. Ngày nọ, bà đánh tiếng mời ba cậu Huân, Giai, Kỳ qua nhà dùng cơm…

Ba trò cưng này được thầy Ân Chiêm (Nghè Bón) cho ăn ở trong một chái nhà riêng để tiện học hành, hôm đó được lời mời thì hí hửng kháo nhau:

— Chắc là nhà thầy có giỗ kỵ tiệc tùng chi đây…

— Há há, lâu ngày ăn uống thanh đạm, nay có dịp đánh chén thỏa thuê rồi…

— Này này, có mâm cao cỗ đầy, thì phải có lời chúc tụng chứ, mình đoán thử xem là tiệc gì để soạn sẵn cho văn vẻ đi!….

Người nhà mời từ sáng, khiến các cậu ta để dành bụng; vậy mà đến trưa, rồi xế chiều vẫn chẳng thấy ai sang gọi… khiến bụng người nào cũng sôi ùng ục… Mãi sập tối mới thấy người hầu cầm đèn soi gõ cửa, thưa:

— Mời các cậu qua dùng cơm.

Nói rồi quay mình đi ngay, dẫn Huân, Giai, Kỳ qua tiền sảnh nhà lớn, xuống hậu đường vào thực phòng, đặt đĩa đèn dầu lên bàn ăn rồi lủi mất. Ba cậu ngơ ngác vì nhà ăn trơ trọi mỗi bọn họ, chẳng có thực khách, chẳng có mâm cỗ thịnh soạn chi cả… Thầy cô và người nhà cũng biệt tăm…

Trên bàn có nồi cơm và mâm thức ăn đậy lồng bàn nan tre, Huân tiến đến mở lồng đậy, bảo:

— Chắc là khách về cả rồi, còn phần dành cho bọn mình đây…

Giai, Kỳ trợn mắt há hốc cúi nhìn sát mâm ăn khi Huân mở ra… Trong mâm vỏn vẹn chiếc đĩa đựng ba quả trứng luộc bóc vỏ sẵn, ba chén nước chấm và bát đũa…

— Ưm… tưởng là cỗ bàn hậu hĩnh lắm, sao chỉ mỗi món trứng luộc như vầy?!

Giai, Kỳ ngạc nhiên cùng thốt lên, Huân chỉ đĩa trứng bảo:

— Ha ha… ba quả trứng thì đích thị là của bọn mình chứ ai, ngồi vào ăn thôi các bạn ạ, đói lắm rồi…!

Xới cơm vào bát, cả bọn bắt đầu ăn… không có ai, không phải khách sáo, ba cậu ăn một cách tự nhiên ngon lành theo bản tính tự nhiên của mình.

Thật ra, trong phòng còn có một người nữa đứng sau tấm mành ở góc tối lén quan sát họ. Đó là bà Nghè, cố tình mời rồi để họ thật đói, dọn cơm sơ sài đạm bạc để xem xét thái độ phản ứng của các cậu như thế nào, cung cách ăn uống từng người ra sao mà đoán định phong thái tính cách của họ…

Đồng Giai cho trứng vào chén nước chấm của mình, giầm nát cả ra rồi rưới, trộn đều từng bát cơm mà ăn, cứ thế ăn được ba bát không phải lo thiếu thức ăn.

Bà Nghè nhìn trộm thấy thế gật gù ưng ý lắm, lẩm bẩm:

— Tốt tốt… anh này rất điều độ, có trước có sau không để thiếu hụt, cuộc đời rồi sẽ ấm no hạnh phúc…

Lại thấy Huy Kỳ dùng đũa xắn trứng làm tư, mỗi bát cơm cậu gắp một miếng trứng ăn cùng nước chấm. Ăn hết ba bát vẫn còn thừa một miếng… thì nhai không chơi.

Bà Nghè đắc chí, suýt tí nữa thì thốt lên khen ngợi. Bà nghĩ:

— Anh này rất căn cơ, biết tính toán dành dụm, về sau cũng sung túc dư dật lắm đây…!

Còn Tông Huân thò tay bốc ngay quả trứng cho vào mồm cắn nhai ngon lành, loáng mắt đã nuốt sạch, xong rồi và tới tấp, lua lia lịa ba bát cơm không với nước chấm thật nhanh, buông bát đũa đứng dậy trước nhất.

Bà Nghè nhăn mặt nhủ thầm:

— Gớm ghiếc cái anh này ăn uống bỉ lậu quá mức, chẳng biết dè sẻn là gì… Ngữ này thì có mà ăn xài cho khuynh gia bại sản, vợ con còn mong nhờ gì…?

Sau đó bà Nghè thuật chuyện cho chồng nghe, có ý chê bai Hà Tông Huân và chỉ chấm được Giai, Kỳ mà thôi. Thầy Ân Chiêm bật cười, rung đùi vuốt râu đắc ý bảo:

— Ha ha… Riêng phần khóa Huân[2] bà đoán sai rồi. Người phi thường, thì cung cách cũng khác thường. Kẻ “ăn to thì lo lớn”, rồi đây nó sẽ đỗ cao, làm quan to hơn cả cho mà xem….!

Đỗ Huy Kỳ quê ở làng Thử Cốc, chữ Cốc là lúa; Tông Huân ở làng Kim Vực, chữ Kim là vàng và Trịnh Đồng Giai thì ở Ngọc Hoạch.

Nhân vui chuyện, quan Nghè muốn thử lòng ba cô con gái mới cho gọi ra, nửa thật nửa đùa hỏi rằng:

— Nay bố có ba thứ quí giá là vàng, ngọc và lúa, mỗi người trong các con chỉ được chọn một thứ, vậy ai chọn thứ gì nói cho bố nghe xem nào.

Các cô đã được mẹ rỉ tai chuyện gả cưới cũng như kể cho nghe về lai lịch và tính cách ba cậu học trò cưng nên cũng phần nào đoán ra ý định của bố. Cô cả mau mắn bảo:

— Con chọn lúa ạ, vì có lúa thì luôn có cái ăn, không phải lo lắng cuộc sống.

Cô hai tiếp theo:

— Con xin chọn ngọc, vì ngọc trong sáng quí giá, đời sẽ không buồn khổ.

Cô ba thưa:

— Hai chị chọn cả rồi, phần còn lại con xin nhận vậy.

Không lâu sau, thầy Ân Chiêm tuyên bố gả cô con đầu cho Đỗ Huy Kỳ, tức cậu khóa Thử Cốc, sau này đỗ Thám hoa, gả cô hai cho Trịnh Đồng Giai, bấy giờ là khóa Ngọc Hoạch, về sau đỗ Tiến sĩ gọi là ông Nghè Vạc (tên nôm của làng), và cô ba thì lấy khóa Kim Vực là Hà Tông Huân, sau đỗ Bảng nhãn gọi là ông Bảng Vàng (Bảng nhãn làng Vàng, tên gọi nôm của Kim Vực).

❀ ❀ ❀

[1] Về sau, Tông Huân đỗ Bảng nhãn, Huy Kỳ đỗ Thám Hoa và Đồng Giai đỗ Tiến sĩ.

[2] Đã qua kỳ thi sát hạch ở địa phương mới được ghi danh và chờ đợi các khoa thi tiếp theo, và được gọi là khóa sinh.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.