Ở thôn quê, mùa hè tắm sông là cái thú vui không thể thiếu của trẻ nhỏ, được tung tăng bơi lội vẫy vùng thôn quê, mùa hè tắm sông là cái thú không thể trong làn nước mát, lại còn bày trò nghịch ngợm nô đùa cùng nhau.
Một ngày, Huân và các bạn tắm ở bến sông Cầu Chày, ở đầu cầu cho ghe thuyền neo đậu cũng là nơi chúng thường thi nhảy, chạy lấy đà rồi tung người phóng xuống nước, xem đứa nào nhảy được xa nhất… Hôm ấy, một chiếc thuyền lại neo ngang đầu cầu, khiến chúng không chơi trò được.
Thấy thuyền vắng chủ, Huân cùng chúng bạn bàn nhau kéo dời đi, cho cặp bên hông cầu tàu để lấy chỗ chơi nhảy sông; thế là chúng tháo dây buộc, rồi hè nhau kéo. Mặc cho chúng mím môi mím lợi lên gân, hò dô ta ra sức kéo nhưng chiếc thuyền nặng trịch không hề nhúc nhích…
Bất chợt khi ấy, chủ thuyền là một chú khách (người Hoa) vác bao hàng từ trên chợ xuống bến thấy chúng phá phách liền quát mắng:
— Lũ trẻ hư hỏng này, sao không lo học hành lại đi quậy phá như vậy?
Bọn bạn của Huân đều sợ sệt nấp sau lưng cậu, riêng Huân vẫn đứng hiên ngang, dõng dạc đáp:
— Học trò bọn tôi học xong rồi thì cũng có lúc nghỉ ngơi chơi đùa chứ!
Chú khách đặt bao hàng xuống lừ mắt nhìn Huân, vuốt râu cười khẩy:
— Á à… đã xưng là học trò, vậy thì ta ra đối cho, liệu hồn hễ không đối được là ta báo quan bắt chúng bay về tội xâm phạm tài sản người khác đấy!…
Rồi chỉ chiếc thuyền, chú khách xuất đối ngay:
— LỖI NGƯ ĐÃ TẤT NÊN BA THẠCH.
(Có nghĩa là: Thuyền kia đã chất nặng như ba khối đá, làm sao kéo nổi?)
Đây là câu đối Nôm pha Chữ (kết hợp cả chữ Việt và chữ Hán ngày xưa) ngoài nghĩa trên còn hay ở lối chơi chữ: chữ LỖI ở đầu câu gồm ba chữ THẠCH ghép lại và chính là chữ Thạch (Đá) ở cuối câu.
Bọn bạn còn ngơ ngác chưa hiểu ý câu đối là gì thì Huân đã chỉ chú khách, nhanh nhẩu đáp đối ngay:
— TƯ CHÚ XEM RA CHỈ NỬA ĐỒNG.
(Nghĩa là: Sự hiểu biết của chú xem ra chỉ đáng nửa đồng). Câu này Huân cũng chơi chữ TƯ viết như phân nửa của chữ ĐỒNG để đối lại, và còn dùng nghĩa bóng đa dạng của tiếng Việt mà bỡn chú khách, vì chữ Đồng nghĩa Hán là cùng (đồng bọn, đồng hành, v.v…) nhưng nghĩa Việt đọc lên cũng có nghĩa là đồng tiền.
Ngẫm nghĩ một hồi rồi chú khách lẳng lặng vác bao hàng lên thuyền, tháo dây buộc nhổ sào chống thuyền đi. Trong bụng chú vô cùng kinh ngạc về tài ứng đối nhanh nhạy, trí tuệ mẫn tiệp và sự đĩnh đạc của Tông Huân, chú lẩm bẩm:
— Không ngờ ở chốn quê mùa mà cũng có thần đồng kiệt xuất!… Xứ An Nam tuy nhỏ nhưng nhân tài đầy rẫy khắp nơi!… Thanh triều ta khó mà dòm dỏ lắm!…
Bọn trẻ ngạc nhiên thấy chú khách giong thuyền ra xa, rồi chúng lại vui mừng vì đã có cầu trống để thi nhảy. Chúng tung hô Huân như ca ngợi ông tướng thắng trận. Có đứa hỏi:
— Mày đối gì mà lão ta buồn bã bỏ đi vậy?
Đứa khác gạt phắt:
— Đối gì mặc kệ, miễn là lão ấy chịu thua, trả lại cầu tàu cho mình có chỗ chơi là tốt rồi…
Cả đám tán đồng:
— Phải đấy!… Nhảy cầu thôi bay ơi… Ưu tiên cho thằng Huân nhảy trước đi!…
Huân cười khoan khoái, hít một hơi dài rồi lấy đà chạy băng lên cầu rướn người phóng thật xa ra giữa dòng sông, cậu rơi ùm xuống dòng nước mát lạnh trong tiếng vỗ tay reo hò của chúng bạn…
— Nhảy hay lắm! - Xa lắm đấy! - Hoan hô…
Khi trồi lên, Huân lại vẫy vùng bơi lội thỏa thích, quẫy đạp sóng nước tung tóe. Trên bờ, bọn bạn không ngớt giằng co cãi cọ nhau: - Đến lượt tao - Tao chứ!… Cuối cùng, chẳng đứa nào chịu nhường, cả đám níu kéo nhau rơi tõm xuống sông, khiến Huân bật cười thích thú, tiếng cười trong trẻo vô tư của tuổi thơ…
Buổi tắm sông thật là vui, vậy mà chẳng biết đứa nào mau mồm mau miệng thuật chuyện khiến cho vừa thò đầu vào nhà, bố đã đợi sẵn với sợi dây thừng trong tay, lôi ngay cậu ra sân vườn trói vào gốc cây cau phạt tội.
Thấy Huân có vẻ ngơ ngác, bố nghiêm giọng bảo:
— Còn chưa biết tội à?… Thứ nhất, tắm sông không xin phép, thứ nhì, dám đối đáp khiếm nhã xấc xược với người lớn, lại là người ngoại quốc… nặng tội đấy con ạ, ở đấy mà hối lỗi đi…! Bố nói xong thì quay vào nhà uống trà đọc sách, bỏ mặc cậu ngoài vườn.
Ôi, thật là khổ sở… Bơi lội cả buổi, bụng đã đói cồn cào, mắt díu hết lại, những tưởng về nhà được đánh chén no căng rồi lăn ra ngủ thì còn gì bằng, ngờ đâu bị trói ngoài đất vườn hâm hấp nóng khiến mồ hôi túa khắp người, cái sự sảng khoái tự do lặn hụp trong làn nước mát ban nãy tiêu tan cả, thay vào đó là sự trói buộc bức bối hết sức khó chịu tù túng. Mặc cho Huân kêu gào van vỉ xin tha, xin chừa, bố vẫn làm ngơ, ngồi trơ như phỗng…
Hồi lâu, không nghe cậu nói năng gì nữa, bố biết là Huân đã thấm mệt, mới buông sách đứng dậy, từ tốn bước ra sân, thầm nghĩ:
— Hừ, thằng Huân nhà mình, tài học thì khá nhưng tính khí thì xốc nổi lắm!… Phải nghiêm khắc răn dạy như vậy mới mong có đức độ chính nhân quân tử được.
— Thế nào?… Ngựa non háu đá, thích trổ tài đối đáp lắm phải không?
Huân đang mệt mỏi gật gà, nghe tiếng bố thì giật mình ngước lên. Bố chỉ cây cau dính chặt cùng cậu, bảo tiếp:
—Vậy thì lấy cây cau ấy làm đề, đặt liên đối[1] ta nghe, hay thì tha tội cho, bằng không cứ ở đấy suốt buổi làm bạn với cau….
Huân ngước nhìn thân cau cao vút, tán lá xòe tròn che bên trên chợt nảy tứ, cậu cười tươi rồi ngoác miệng đọc ngay:
Lưng đeo đai bạc bao trăm nén
Đầu đội tàn xanh đến mấy tầng
Thiếu tí nữa thì ông bố ngã ngửa vì giật mình thảng thốt không ngờ cậu con lại làm được đôi câu đối “tuyệt cú” như vậy!… Không, phải gọi là “thần cú” mới đúng. Huân tả cây cau mà chẳng hề có từ ngữ nào nhắc đến thân lá hoa quả gì cả, đã vậy cậu còn mượn hình ảnh khôi hài mình bị cột vào cây cau để tỏ chí khí cao vời vợi khi miêu tả, ví với vị Trạng nguyên được che tàn lọng xanh,[2] đeo đai bạc (là buồng cau hàng trăm trái).
Ông bố mừng thầm khi thấy Huân biết ôm ấp chí lớn và quả có thực tài đối đáp giỏi giang nên thuận tình cởi trói cho. Lý ra thì phải khen nức nở rồi, nhưng để kiềm chế cậu tránh khỏi tánh tự mãn cao ngạo, nên ông chỉ buông một câu:
— Ừm!… Nghe cũng tạm được, thôi tha cho đấy! Từ rày phải gắng học và đừng có mà lêu lổng nghe chưa!
Miệng vâng dạ mà chân cậu đã thoắt ngay xuống bếp, Huân xơi luôn một tô cơm đầy rồi lăn ra ngủ khoèo, sung sướng vô tư lự…
Nhưng không phải chỉ có trẻ nhỏ mới thích tắm sông thôi đâu nha, ngay cả người lớn và thậm chí đến bậc đạo mạo như thầy đồ còn tham gia cơ mà… Hôm ấy, trời oi bức đến độ ngạt thở, không gian lắng đọng chẳng có nổi một làn gió lung lay, cái nóng hầm hập như nung cả đất trời khiến ai nấy mồ hôi đổ dầm dề; thật không thể dạy và học nổi trong cái thời tiết khắc nghiệt này, thầy liền dẫn cả lớp ra sông cho chúng vui đùa tắm mát, còn thầy ngồi nghỉ dưới gốc cây cổ thụ bên bờ, đón làn gió sông đưa lên…
Được buổi học ngoại khóa như vậy, thật chẳng còn gì thích thú hơn, bọn nhóc cởi ngay áo quần, giăng mắc lên cây rồi thi nhau phóng mình xuống nước…
Thầy ngồi tựa gốc, nhìn lên các cành treo đầy áo quần trông chẳng khác gì cái giá phơi đồ khổng lồ, rồi thấy Huân vẫn còn loay hoay sắp xếp lại tập quyển các bạn vứt bừa bãi mà chưa vội xuống tắm. Biết cậu là đứa thông tuệ nhất lớp, thầy chỉ các cành cây, ra đối thử tài:
— Trò Huân xem kìa… “BÁCH NIÊN CỔ THỤ VI Y GIÁ”
Câu của thầy có nghĩa là: Cây cổ thụ trăm năm dùng làm giá treo áo. Đây là lối đối “tức cảnh”, ngẫu hứng lấy ngay sự vật trước mắt làm đề tài đối.
Huân rất nhanh trí, cậu nhìn các bạn đang tắm dưới sông, liền nảy tứ, đáp đối ngay:
— Vạn lý trường giang tác dục bồn.
(Nghĩa là: Con sông dài muôn dặm làm thành cái chậu tắm)
— Ui chao!… Câu đối thật là hay tuyệt!
Thầy đồ phải thốt lên như vậy, vì vế đối của Huân thật chỉnh luật, cân chữ và đối chọi lắm! Về nghĩa thì thầy ví người già như cái cây cổ thụ cao cả, giang tay đón nhận che chở cho đám trẻ thơ, còn Huân lại đối tuổi trẻ phải cần vẫy vùng tắm gội trong dòng trí tuệ, để tiến xa muôn dặm… Ôi, cái chí cao cả của Huân, rồi sẽ còn vươn mãi không thôi. Một làn gió mát rượi đưa đến như để tưởng thưởng câu đối hay của hai thầy trò, họ nhìn nhau sung sướng mỉm cười, đón nhận…
Năm đó Tông Huân lên 9 tuổi, vẫn học ở thầy đồ trường làng, sống hạnh phúc với gia đình và trải qua tuổi hoa niên hết sức tươi đẹp cùng chúng bạn ở làng quê thanh bình…
Một ngày, có đến ba bằng hữu của bố từ xa đến thăm. Lâu lắm mới gặp lại bạn thâm giao, bố mừng lắm tiếp đón nồng hậu và lưu họ ở lại để hàn huyên tâm sự. Vùng sông Cầu Chày này vốn có giống ba ba thịt rất thơm ngon, là đặc sản quê nhà nên bố mua về nấu làm món nhắm với rượu, cùng các bạn chén tạc chén thù…
Trong lúc người lớn nhâm nhi trò chuyện, thì Huân lo hầu trà và quạt bếp lò nấu nồi ba ba đặt cạnh đấy cho mau chín… Lát sau, thức ăn đã sôi ùng ục, bốc hơi thơm lựng.
Một cụ ngẫu hứng sinh đối, cất giọng đọc:
BA CỤ NẤU BA BA, BA BA ĐÀ CHÍN
Chính là cái cảnh ba cụ chờ nấu ba ba chín, và chơi chữ ba lần ba là chín (chữ đà: hiểu như đã, là).
Rồi cụ ngồi vuốt râu rung đùi đắc ý, không ngờ mình xuất được vế đối hay và khó đến vậy, làm cho bố Huân và hai cụ kia ngớ cả người ra vì không tìm được ý gì để đối lại…
Huân sực nhớ đến những lúc nước sông Cầu Chày rút cạn, lộ ra những bãi cát sạn trải dài, dân làng và nhất là bọn trẻ con như cậu thường mang rổ rá đổ xô ra đấy, sàng sẩy tìm bắt những con trùng trục[3] cậu liền chỉ tay ra sông toét miệng cười, xổ đối luôn:
CHỤC CHÚ MÒ CHỤC CHỤC, CHỤC CHỤC LÀ TRĂM
Giờ thì chính cụ nọ há hốc ngẩn người vì kinh ngạc, không ngờ thằng bé mới tí tuổi đầu lại dễ dàng đáp đối của ông… Nó cũng lấy một động vật sống dưới sông làm ý đối, và ở vế ra chỉ nêu được số ba, số chín, thì ở vế đáp nó dùng đến số chục, số trăm… Thật là tài tình quá còn gì, cả ba cụ đều nức nở ngợi khen rồi xé ngay một mảng thịt ba ba trắng bóc thơm lừng bốc khói thưởng cho cậu, Huân hớn hở thưởng thức ngay.
❀ ❀ ❀
[1] Tức một đôi câu đối gồm hai vế đối nhau.
[2] Đỗ Trạng, được vua ban cho hai tàn lọng bọc lụa xanh do lính hầu vác che, có khi yêu quí ban đến bốn lọng. Và dây lưng nạm bạc.
[3] Động vật cùng họ với con trai nước ngọt nhưng nhỏ hơn, thân dài, sống ở sông hồ, dân gian thường đọc trại là con chùng chục, chục chục.