Sứ bộ nhà Nguyên ngạc nhiên lắm, chưa hết ba ngày mà mẹo đố “tuy dễ lại khó” của họ đã bị Nam triều phanh phui ra rồi. Đành phải vào chầu vua Nam, trao quốc thư của Nguyên chủ thôi (cứ tưởng bở, cho rằng còn lâu mình mới giải đố được nên họ sẽ phè phỡn ở công quán, tha hồ được phục dịch hầu hạ).
Trình thư xong, viên Chánh sứ nhà Nguyên còn dâng lên vua Thái Tông một cái tráp… Lại nữa rồi, vua quan nhà Trần thấy tráp là giật mình, trò gì nữa đây?!…
— Ậy, chỉ là… giao lưu văn hóa… thôi mà! Là bài thơ dân gian ở nước tôi, nhờ người Nam giải xem, là gì vậy?
Viên Chánh sứ cười hề hề, thách đố.
Triều đình lại phải mời hắn về quán dịch tạm nghỉ, để còn… hội ý.
Vua mở tráp, bên trong là một cuốn thư lụa, viết bài thơ năm chữ bốn câu (ngũ ngôn tứ tuyệt) rằng:
Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian
Nghĩa là:
Hai mặt trời, mặt trời bằng đầu,
Bốn trái núi, trái núi ngả nghiêng
Hai ông vua tranh nhau một nước,
Bốn cái miệng trong khoảng dọc ngang.
Ai cũng chuyển nhau đọc, mà chẳng ai hiểu gì cả. Vua nổi cơn thịnh nộ:
— Sao cái gì cũng không biết hết vậy?… Các khanh toàn là học giả uyên bác đỗ đạt khoa cử cả, có mấy câu thơ tồi mà không giải được, là sao?!
Bá quan đều nín thinh… Vua chợt nhớ đến vị cứu tinh lần trước, chính là Nguyễn Hiền, liền gọi quan sứ, dụ:
— Nay Quan gia viết chiếu chỉ sắc phong cho quan Trạng, ngươi lập tức về làng mời bằng được Trạng về đây!… Mà nhớ, phải mang theo ngựa xe quân hầu cho đầy đủ đấy…!
Quan sứ bái tạ lãnh mạng, cầm chiếu vua quày quả đi ngay…
• • •
Trạng nguyên Nguyễn Hiền về triều, vào sân rồng yết kiến tạ hoàng ân. Áo mão lụng thụng xộc xệch lắm, đứng lên quì xuống mấy lần xém vấp ngã, nhưng không sao, Thái Tông không bắt tội, còn mỉm cười hài lòng. Bá quan cũng thi nhau chúc mừng Trạng…
Vua truyền quan Phụng ngự trao cuốn thư cho Nguyễn Hiền xem, cậu chưa kịp mở thì lính thị vệ hộc tốc vào, cấp báo:
— Muôn tâu, sứ phương Bắc xin vào Điện… nghe Trạng giải đố ạ.
Thái Tông chau mày:
— Hừ, đúng là quân… gián điệp mà, ta đã lệnh canh phòng dịch quán nghiêm ngặt, sao chúng lại biết tin được?[1]
Rồi vua cũng truyền cho vào, để chúng tận mắt thấy… thần đồng tí hon mà giật mình chơi.
Sứ Bắc yên vị xong, ngắm nghía Nguyễn Hiền, cười khẩy có vẻ khi thường, bảo nhau:
— Nghe đồn trạng nước Nam là bậc văn chương kiệt xuất, nào ngờ chỉ là… một thằng nhỏ!
— Ừ, trông còn quê mùa kệch cỡm nữa chứ, hạng này thì trí có là bao? Hè hè…
Chúng còn đang bàn luận thì Hiền đã mở cuốn thư, đọc thơ… Xong, cậu cười bảo:
— Há há… lại trò… trẻ con rồi!
— Muôn tâu, xin cho thần giấy bút để viết lời giải ạ.
Lời tâu của Hiền được chấp thuận ngay, quan Phụng ngự ôm cả xấp giấy, nghiên bút ra. Hiền trải giấy, cầm bút chấm mực viết một chữ ĐIỀN thật to. (Điền nghĩa là ruộng). Cậu giơ tận mặt sứ Bắc, ngoẹo đầu cười:
— Đáp án đây, phải không nào?!
Bọn sứ đều giật mình, ú ớ nhìn nhau… Hồi sau, chúng đứng lên, cung kính vái chào Hiền, thốt:
— Khâm phục, khâm phục… đúng là kỳ tài, kỳ tài!
Sứ còn lễ phép chào cả vua và triều thần rồi lặng lẽ rút lui, vẻ cao ngạo trịch thượng bay biến đâu mất cả…
• • •
Mọi người xúm xít vây quanh Trạng; chẳng còn lo lắng về câu đố nữa, nhưng vẫn bứt rứt không yên vì chả hiểu đầu cua tai nheo gì cả!… Tại sao chỉ một chữ Điền, mà sứ Bắc phải chịu thua? Họ thắc mắc hỏi dồn thì Hiền giải thích:
— Bài thơ ấy là trò đố chiết tự chữ (Hán), cả bốn câu chung qui cũng chỉ nói về một chữ Điền.
Thấy họ vẫn ngơ ngác chưa thông, cậu cầm bút vừa viết vừa giảng:
— Này nhé, chữ NHẬT là mặt trời, câu “Lưỡng nhật bình đầu nhật” tức là hai mặt trời bằng đầu, nghĩa là viết ngang nhau không cao không thấp, đặt khít nhau chính là chữ Điền đó…!
Từ vua đến quan, bấy giờ mới vuốt râu, gật gù, à…. à… có vẻ bắt đầu hiểu. Hiền tiếp:
— SƠN là núi, câu “Tứ sơn điên đảo sơn”. Bốn trái núi nghiêng ngả, nghĩa là lấy bốn chữ này viết ngang, viết dọc, viết ngược, viết xuôi, nhưng ghép lại với nhau, chỉ là một chữ Điền!
Càng lúc, mọi người càng hào hứng với lối giải của Trạng,họ chăm chú nghe tiếp:
— Đến câu “Lưỡng vương tranh nhất quốc”, là hai ông vua (Vương) tranh nhau một nước, ta viết hai chữ Vương một đứng một nằm, đem lắp lại, vẫn ra chữ Điền.
Ai nấy đều reo lên thích thú vì Hiền chiết tự quá tài tình, cậu giải nốt:
— Cuối cùng, “Tứ khẩu tung hoành gian” là bốn cái miệng (khẩu: miệng) ngang dọc ngăn ra[2] bốn ngăn, tức là chữ Điền đó!
Giờ thì mọi người đã rõ cả, họ phấn khích vô cùng, hết sức khâm phục Trạng thông tuệ uyên bác, và mừng vì nguyên khí của quốc gia vẫn mạnh mẽ, nhân tài này thừa sức đối địch với kẻ gây hấn mà…
Riêng Trạng lại đăm chiêu tư lự, ra chiều suy nghĩ rất lung, rồi Trạng tâu:
— Muôn tâu, theo thiển ý của thần, việc thách đố giải đố chỉ là chuyện nhỏ, còn trong thâm ý sâu xa, họ muốn hăm dọa ta, hãy đem điền thổ (ruộng đất) mà giao nạp… Tức là… đầu hàng đấy ạ…! Bằng không, rồi họ sẽ xâm lấn…!
Thái Tông trợn mắt, vung tay quả quyết, hét vang:
— Không đời nào!… Non sông gấm vóc này, phải giữ đến cùng… Ta thề QUYẾT CHIẾN….!
Tất cả bá quan văn võ cũng bừng bừng khí thế, giơ cao nắm đấm, đồng thanh hô vang: - QUYẾT CHIẾN!
Chợt nhiều cánh tay chộp lấy cậu, công kênh rồi tung lên cao giữa rừng người, để cậu thấy được Hoàng thượng đang đứng trước long ngai, uy nghi lẫm liệt…
Hiền thích chí, cũng hét toáng lên: QUYẾT THẮNG!…
Tiếc thay, Trạng Hiền qua đời khi còn rất trẻ, không còn dịp để bày mưu hiến kế, cùng triều đình chống lại giặc thù khi về sau này, chúng đã… xâm lăng đúng như lời Trạng tiên đoán.
❀ ❀ ❀
[1] Xưa, các sứ đoàn nước ngoài đến kinh thành được ở khu riêng biệt, canh gác, để tránh tìm hiểu dân tình và các thông tin khác.
[2] Chữ GIAN trong câu “Tung hoành gian” nghĩa là ngang dọc ngăn ra, là ngăn