— Bẩm Thầy, con thuộc cả rồi ạ.
Không chỉ thầy đồ, mà tất cả lũ trẻ của lớp học đồng ấu trong làng đều ngạc nhiên quay nhìn cậu. Chúng nó, đứa bé như cậu thì chỉ mới năm, sáu; còn đứa lớn thì đã vào tuổi mười nhưng đều học chung lớp vỡ lòng, tập tễnh làm quen với những con chữ mà thầy đồ vừa khai tâm khai trí cho.
Sợ chúng quá sức, nên mỗi buổi thầy chỉ dạy cho đọc và viết sáu chữ thôi, ấy vậy mà có đứa còn đọc trước quên sau viết nét nọ xọ nét kia, riêng thằng bé này, sao lại thuộc nhanh đến thế nhỉ?… Thầy thầm nghĩ, rồi bảo:
— Đâu, trò đọc ta nghe xem nào…
Cậu bé, tên là Huân, đứng khoanh tay lễ phép, đọc ro ro một lượt, thầy lại bảo viết thử, thì cậu viết cả sáu chữ ngay hàng thẳng lối, nét bút đều đặn chắc khỏe.
Để thử sức, thầy lại viết tiếp sáu chữ khác cho riêng cậu học, vì bọn kia vẫn còn mày mò chữ cũ chưa xong… Nhưng, chỉ được một khắc[1] cậu đã đứng lên thưa tiếp:
— Con thuộc nốt rồi thầy ạ.
Lại kiểm tra, quả nhiên Huân đã làu làu. Bất ngờ quá, thầy đành viết luôn mười hai chữ, nghĩ là sẽ được yên với cậu đến cuối buổi, vậy mà chỉ một phần tư canh giờ sau, Huân đã đọc thuộc vanh vách, viết ngoay ngoáy không sai không thiếu nét nào… Kết quả là buổi học đầu tiên của cậu học trò nhập môn muộn nhất đó, nó lại qua mặt những đứa đã vào học trước cả tháng, và khiến thầy vất vả loay hoay cho chữ nó suốt buổi.
Ngày hôm sau, thầy viết hẳn cả trang chữ cho Huân học, không cần đến hết buổi, cậu đã học thuộc làu. Những ngày sau nữa, số trang cứ tăng dần lên và Huân lại ngốn sạch, trí óc cậu thật như cái ngăn không đáy, chất bao nhiêu cũng không đầy, ai ai cũng kinh ngạc và bội phục vì trí nhớ siêu phàm này, nên mới gọi cậu là thần đồng Kim Vực.
Kim Vực hay còn gọi là làng Vàng[2] quê của Hà Tông Huân, nơi đây có ngọn núi Vàng và con sông Cầu Chày chảy quanh khắp vùng, chính là vùng địa linh nhân kiệt. Trong lịch sử đã từng xuất hiện rất nhiều danh nhân phát tích từ đây như Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Ngô Tuấn (tức Lý Thường Kiệt) rồi Ngô Thị Ngọc Dao (thân mẫu của vua Lê Thánh Tông), Khương Công Phụ (vị Trạng nguyên nước Nam thời Bắc thuộc nhà Đường) và bà nữ tướng Triệu Thị Trinh cũng quê ở vùng này, đó là chưa kể thầy trò Tiến sĩ Trần Ân Triêm và Bảng nhãn Hà Tông Huân nữa đấy!…. Nhưng, học và nhớ vài trang như thế thì có gì là ghê gớm đâu nhỉ? Nếu bạn chưa phục, thì hãy tiếp tục xem Tông Huân làm gì mà được mệnh danh là thần đồng nhé…
Lần đó, Tông Huân chỉ mới bảy, tám tuổi và sắp đón thêm một tuổi mới, năm hết Tết đến rồi mà. Ngoài chợ Vàng đông vui làm sao, người mua kẻ bán tấp nập, trên bến dưới thuyền, hàng hóa nườm nượp đổ về. Ngồi nhà học mà mắt Huân cứ mãi dõi theo các cô các bác gánh những gánh tranh Đông Hồ vội vã trên đường vào chợ cho kịp buổi, các chú bán quà trẻ con với những cái kèn đất hình con gà, con trâu thổi toe toe thật vui, rồi những cái trống con, bập bung lắc nghe tùng tùng… Những viên pháo chuột nổ tạch tạch thích vô cùng. Và còn biết bao là hàng Tết đầy màu sắc tươi thắm khác khiến Huân nhìn không chán mắt. Tay chân cậu giậm giật ngồi không yên, chỉ muốn chạy vù ra chợ mà nhìn ngắm cho mãn nhãn, nhưng mà… sợ bố lắm, vì bố rất nghiêm khắc.
— Huân!… Học xong chưa? Chạy ra chợ mua cho bố cuốn lịch năm mới xem nào!
Chà chà… được lời như cởi tấc lòng, Huân hớn hở lắm, cậu xếp sách vở đứng dậy:
— Thưa rồi ạ, con đi ngay đây!
Cầm tiền, nghe cha dặn dò xong là Huân phóng biến…
• • •
Đến chợ, Huân la cà ngắm nhìn thỏa thích cả buổi rồi mới ghé vào hàng lịch, hết cầm cuốn nọ lại lật cuốn kia, xem từng tờ có vẻ kỹ lưỡng lắm. Ấy vậy mà cuối cùng lại bỏ đi không mua khiến người chủ hàng nổi đóa vì tốn công chào mời trông đợi rõ lâu, liền nhiếc cho một trận. Mặc kệ, cậu tung tăng chân sáo tủm tỉm cười, tiếp tục đi xem chợ Tết.
Ngang qua hàng quà bánh, tự dưng Huân bước chậm hẳn, mắt thao láo nhìn những khay bánh chất cao hình tháp, bánh gói lá, bánh trần, bánh mặn bánh ngọt đủ cả bốc mùi thơm phức. Rồi những nồi chè đậu xanh đỏ tím vàng nóng hổi tỏa khói, chỉ nhìn thôi đã thấy bụng sôi ùng ục, nước bọt cứ ứa ra khiến cậu nuốt đánh ực.
Huân tần ngần tâng nhẹ mấy đồng tiền bố đưa mua lịch trong tay, rồi nghe theo lời mời gọi đon đả của các cô hàng, cậu xề vào ngồi ở đòn ghế, quyết định… đánh chén!
Ha, cậu Huân vốn là đứa trẻ hiếu động, gan dạ liều lĩnh và nghịch phá không ít, nên chi ông bố phải răn đe dè chừng là thế.
Cậu ăn một thôi một hồi, đủ các thức thì bụng đã căng phình mà tiền cũng gần cạn, mới đứng dậy ra về…
Đến nhà, ông bố chờ lâu đã sốt ruột, lại thấy Huân về tay không, nổi giận quát:
— Lịch đâu?
— Thưa, con xem qua đã thuộc cả rồi, chỉ cần chép lại, không phải mua đâu ạ…
— Thế tiền đâu?
Huân xòe tay ra chỉ còn vài đồng trinh, bối rối gãi đầu cười gượng.
— Con thiết nghĩ không cần mua lịch, nên… ăn quà vặt cả rồi…
Bố Huân rút xoẹt cây roi mây, nhịp nhịp lên sập, dọa:
— Á a… ông tướng con gan tày trời nhỉ?… Mau lấy giấy bút viết lịch đi. Liệu hồn, viết sai thì có mà no đòn…
Huân chẳng chút hoảng sợ, điềm tĩnh ngồi vào bàn, mài mực, so giấy rồi chấp bút hí hoáy viết liên tu bất tận…
Bố đứng nhìn một hồi rồi quăng roi, bỏ đi ra cửa… Lát sau, bố về, cầm một cuốn lịch mới tinh, thì Huân cũng đã viết xong cả xấp giấy dày, xếp cẩn thận theo thứ tự. Bố lần giở từng trang lịch, so với những điều cậu ghi chép thì thấy hoàn toàn trùng khớp, không sai tí nào. Bấy giờ chính bố cũng hết sức ngạc nhiên vì trí nhớ thần kỳ của cậu nên mới tha trận đòn roi, còn thưởng thêm cho ít đồng tiêu vặt.
Còn gì sung sướng hơn, Huân lại ra phố chợ mua pháo, rủ chúng bạn chơi đùa thỏa thích…
Mỗi tờ lịch xưa, ngoài việc ghi ngày tháng còn chú thích các hành (Kim, Thủy, Hỏa, Mộc, Thổ), tinh tú (sao), giờ Hoàng đạo, giờ rạng đông, tà dương (mặt trời mọc, lặn), thủy triều (con nước lên xuống) và cả những việc cát tường, kiêng kỵ (điều tốt xấu nên hoặc không nên làm). Ấy vậy mà Tông Huân nhớ tất cả mấy trăm tờ chỉ sau vài lượt đọc, bây giờ thì bạn đã tâm phục bộ nhớ phi thường của thần đồng Kim Vực rồi phải không?
Về sau, khi nhà bác học Lê Quý Đôn biết chuyện, cũng thử bắt chước ghi nhớ, nhưng không sao sánh bằng Tông Huân được.
Một lần, Lê Danh Phương (tên thời trẻ của Lê Quí Đôn) vừa đậu Giải nguyên, được quan Tham tụng Lê Hữu Kiều mời cậu cùng đám Hương cống mới đỗ đạt đến tư dinh mình khoản đãi, tiếng là chúc mừng khen thưởng các quan tân khoa, nhưng đồng thời cũng để ý xem trong đám anh tài ấy, ai đáng mặt thì chọn làm tân lang cho kiều nữ của mình.
Trên đường vào dinh quan Tham, họ phải ngang qua chiếc cầu đá, đầu cầu có dựng một bi ký (bia đá) ghi tên tuổi quê quán các vị mạnh thường quân góp công của xây dựng cầu. Bấy giờ con nước triều đang lên rất nhanh, nên chỉ lát sau thì bia đã chìm ngập trong nước…
Giữa tiệc, quan Tham tụng mới hỏi các quan tân khoa rằng:
— Khi đến thạch kiều, có vị nào nhìn thấy bi ký? Có đọc và nhớ được gì chăng?
Cả đám ông Cống đều bối rối, đa phần chẳng để ý nhìn, vài người xem lướt qua thì chỉ nhớ lõm bõm, duy có Danh Phương là nhớ trọn vẹn, đọc lại nguyên văn. Khi được hỏi nước lên nhanh thế làm sao đọc kịp thì Danh Phương càng gây bất ngờ hơn khi cho biết cậu đọc theo hàng ngang[3] mới kịp mực nước dâng, sau đó nhớ và ráp lại câu theo hàng dọc.
Ai cũng phải phục Danh Phương có trí nhớ tuyệt vời, và đương nhiên cậu xứng đáng được quan Tham chọn làm rể quí. Vậy mà, Danh Phương còn phải nể phục bộ nhớ của Tông Huân, tôn hơn mình mấy bực đấy bạn ạ…!
❀ ❀ ❀
[1] 1 khắc bằng 15 phút, một canh giờ bằng 2 tiếng đồng hồ ngày nay.
[2] Về sau, người đời còn gọi Huân là ông Bảng Vàng, tức ông Bảng Nhãn quê ở làng Vàng.
[3] Ngày xưa chữ Hán viết từ trên xuống dưới, từ trái qua phải của trang giấy.