Bước qua tuổi mười, Danh Phương đã là một thiếu niên anh tuấn đĩnh ngộ, học rộng hiểu sâu. Giờ thì thỉnh thoảng cậu đã được phép cha mẹ cho đi đây đó để mở mang kiến thức, nhất là những dịp lễ hội ở đền chùa nổi tiếng trong vùng và hội hè truyền thống địa phương.
Đi đâu xa về, Danh Phương vẫn thích ghé vào quán nước đầu làng, nơi đây lưu giữ nhiều kỷ niệm thời thơ ấu của cậu.
Quán của một bà cụ già, không biết từ đâu đến, và dựng lên từ khi nào, chỉ biết khá khang trang, ngoài nước chè bánh trái bán cho khách dừng chân nghỉ ngơi, bà còn buôn cả hàng xén dành cho phụ nữ trong làng và có lúc, cũng lo luôn cơm nước cho bộ hành đường xa cần ăn uống…
Nhớ trước đây, mỗi khi được mẹ dúi cho vài tiền tiêu vặt, Phương vẫn chạy ngay ra quán nước mua quà vặt, rồi vừa ăn vừa nghe người lớn nói chuyện.
Thật là cả một trời kiến thức sinh động và bổ ích mà sách vở nào thấy ghi, Danh Phương cố nhớ lấy để về chép lại, làm đầy thêm những chiếc túi cẩm nang chứa đựng tri thức mà cậu sưu tầm thu thập được. Chính nhờ cách học sáng tạo và thực tiễn này mà về sau Danh Phương trở thành nhà bác học uyên bác, hầu như lĩnh vực nào cũng thông thái cả. Rồi sau khi đỗ Bảng nhãn ra làm quan, ông còn treo trước cửa nhà tấm biển đề:
THIÊN HẠ NGHI NHẤT TỰ, LAI VẤN
Nghĩa là: Mọi người, ai không hiểu chữ gì, cứ đến đây mà hỏi. Quả thật, ông đã giải đáp được thắc mắc cho rất nhiều người, và trở thành câu truyền khẩu (cửa miệng) trong các cuộc chuyện trò, khi gặp việc nan giải, họ lại bảo:
— Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn! (là “điều gì không biết, cứ đến hỏi Bảng nhãn Lê Quí Đôn).
Trở lại với quán nước đầu làng, hôm ấy Danh Phương vừa đi vãn cảnh về, ngồi nghỉ ngơi uống bát nước chè, ăn mấy chiếc bánh gói lá và nhớ lại kỷ niệm, lòng thanh thản vô cùng… Chợt, cậu nhìn thấy một cuốn tập giắt trên vách gần nơi mình ngồi, nghĩ rằng của anh học trò nào bỏ quên, cậu liền cầm lấy giở ra xem… Nào ngờ, đó là cuốn sổ ghi nợ của bà cụ chủ quán, thấy chữ viết bởi nhiều tự dạng khác nhau, còn có cả dấu tay (ấn chỉ), Phương hiếu kỳ lần đọc, chợt hiểu:
— À… Thì ra bà cụ không biết viết, nên ai mua thiếu cứ việc ghi vào, người không viết được cũng nhờ kẻ khác viết hộ, rồi in dấu tay lên, nên mới có nhiều tuồng chữ như vầy…
Tò mò cậu lại xem tiếp, tủm tỉm cười:
— Toàn người quen trong làng mua chịu cả… ít thì bánh thuốc xị rượu này… Nhiều thì đấu thóc, xấp lụa này… Tổng cộng lại, cũng khá nhiều đấy….!
Cậu đọc xong thì gấp sách lại trả chỗ cũ rồi đứng dậy ra về, nghĩ miên man:
— Thế mới biết, kẻ nghèo người giàu, ai cũng có lúc túng ngặt cả, nên mới có sổ nợ kia…
Thuở ấy, cứ chiều tối đến, thì mỗi làng đều có người Đạc phu (thằng mõ) đi đầu thôn cuối xóm vừa gõ mõ lốc cốc vừa rao nhắc mọi nhà cẩn thận đóng cửa nẻo, tắt lửa tắt bếp để giữ gìn an ninh. Vậy mà đêm ấy, xui rủi thay bà cụ ở quán nước sơ suất thế nào để phát hoả, dân làng ứng cứu không kịp, và ba gian hàng quán của bà đều thành tro bụi…
Sáng ngày, Phương theo người làng ra thăm hỏi, chia sẻ… Tội nghiệp, bà cụ như người mất hồn, ngồi thẫn thờ bên đường nhìn sản nghiệp giờ đây là đống tro tàn còn ngún khói.
— Hu… tiêu tan cả rồi, làm sao sống đây? Hu hu…
Có người an ủi, bà càng tủi thân, khóc kể:
— Híc, có mỗi cuốn sổ nợ, lại cháy mất tiêu rồi… Giá mà còn thì cũng đòi được lưng vốn để gầy dựng lại…
Danh Phương nghe vậy thì mừng rỡ, bảo:
— Cháu có xem qua cuốn sổ ấy, vẫn còn nhớ rõ lắm, để cháu viết lại cho bà nhé!…
Rồi sẵn giấy bút lúc nào cũng mang theo bên mình, cậu liền ngồi tập trung, cố nhớ, ghi chép lại không sai tên nào, không sót một ai…
Cầm bản sao sổ nợ trên tay, bà cụ vẫn chưa yên tâm, run giọng bảo:
— Bà lo lắm… nhỡ như có sự nhầm lẫn, mình đòi bậy thì họ lại mắng cho.
Phương phải đoan chắc là không hề sai, rồi để động viên, cậu đi cùng bà. Những người hiếu kỳ, cũng tháp tùng theo, thành đoàn đòi nợ hùng hậu… chưa từng thấy!
Quả nhiên, khi bà cụ chiếu theo đó để đòi, thì ai cũng công nhận “có ghi nợ”, và sốt sắng trả đúng, trả đủ vì biết bà đang hoạn nạn. Nhờ vậy, bà cụ lại có đồng vốn để mưu sinh, bà rối rít cảm ơn Phương. Riêng những người chứng kiến thì phục lăn cậu vì trí nhớ kỳ lạ… Họ kháo nhau rằng:
— Thánh sống, cậu ta là bậc Thánh sống đấy… Chỉ thánh thần mới có kỳ tích phi thường như vậy!
Trí tuệ mẫn tiệp lại cộng thêm công phu học tập ngày đêm, nên đến khoa thi Hương năm Quí Hợi (1743), Phương dự thi và đỗ ngay Giải nguyên (Thủ khoa) lúc mới 17 tuổi.
Trong lúc cái tên Danh Phương, ông Giải Nguyên trẻ tuổi tài cao vang lừng trong Kinh ngoài Trấn thì một cái tên “Danh Phương” khác cũng nổi lên như cồn, rúng động khắp thiên hạ: Đó là Nguyễn Danh Phương, một nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình, có thế lực lớn, chiếm đóng cả vùng Thái Nguyên - Tuyên Quang, thanh thế lừng lẫy.
Vì không muốn trùng tên với người này, nên từ đó Danh Phương mới đổi tên là Quí Đôn.
Lê Quí Đôn còn đỗ đầu cả kỳ thi Hội, thi Đình, là một trong số Tam Nguyên (đỗ đầu kỳ) hiếm hoi của khoa cử nước nhà, ông làm quan trải nhiều chức vụ, nhưng điều đáng nhớ hơn cả là ông đã đem kiến thức thu thập cả đời đúc kết rồi trước tác, sáng tác thành một thư tịch đồ sộ, bao gồm rất nhiều bộ môn.
Ông xứng đáng được tôn xưng là Nhà bác học Văn hóa của nước nhà.