Khoang đỗ trống vắng. Trần trụi. Cửa dẫn vào tàu cứu sinh ở đây mở toang, thế nên tôi vào kiểm tra. Nếu khí quyển trạm bị mất, đây sẽ là nơi những người sống sót chạy vào. Nhưng cái trạm này toàn sắt thép vô hồn. Không sự sống. Như khoảng chân không. Mọi hi vọng tìm thấy người sống ở đây tan biến. Đây là con xe Maserati của hàng xóm đổ chuông báo động. Tôi liếc nhìn mức O2 trong bộ đồ và ra cầu thang, hiểu rằng NASA sẽ muốn tôi tối thiểu phải tắt tín hiệu báo trường hợp khẩn đi và điều tra. Trên đây một lần cầu thang là khoang hỗ trợ sự sống và khoang cơ khí. Giày tôi đạp leng keng trên từng bậc thang, tiếng bị mũ bảo hộ triệt bớt.
Khoang cơ khí thêm cái bao bọc co nữa là đủ bộ. Cái gì cũng sáng loáng. Không một sợi dây tuột ra treo lủng lẳng do bao năm tháng thêm lắp và sửa chữa tích tụ lại. Không một vệt dầu rỉ từ các mối chốt đã mòn xuống ống bơm. Không vệt sơn giộp hoặc bong tróc. Không rỉ sét hay bất cứ dấu hiệu tuổi tác nào cả. Nó như một cô tân binh đầu cạo trắng, ôm bộ quân phục gấp gọn gàng, làn da mềm mại không một vết sẹo. Nhìn quanh căn phòng, đầu óc tôi chỉ quanh quẩn nghĩ về những tai ương rồi sẽ đến. Tôi chỉ có thể mường tượng những con ốc vút đi như viên đạn trong vùng vũ trụ bao lấy bọn tôi. Tôi chỉ muốn quăng mình lên trên máy phát trọng lực của nó và lấy thân che chở cho nó, giữ cho tất cả được an lành, không để bất cứ thứ khốn kiếp nào chạm vào nó...
Đâu đó trên đầu tôi vọng lại tiếng rầm. Nghe xa xăm. Mờ nhạt. Như thể các mảnh vỡ vừa nghe thấy tôi và thò tay ra vả vào vào mặt cô tân binh đang xuân thì này. Như thể hạ sĩ huấn luyện của tôi vừa bắt quả tang tôi mỉm cười với cô ta. Tôi tóm cây thang dẫn lên khu sinh hoạt và nện chân lên từng bậc. Lại thêm nhiều thứ mới tinh tươm. Tôi sờ vào túi ngủ. Giá mà có thể mở mũ bảo hộ ngửi thử xem khi mới sản xuất chúng nó có mùi như như thế nào, trước khi qua tay chục người nằm ngủ.
Thêm một tiếng rầm nữa, lần này gần hơn. Nó khiến tôi giật nảy người, bởi vì dù bị bộ đồ cách âm, tôi vẫn cảm nhận được tiếng rầm kia phát ra từ bên trong trạm, không phải do thứ gì va vào thành ngoài. Đúng lúc đó tôi để ý thấy cái túi vải thô để trong bếp. Đồ dùng cá nhân. Qua khung cửa sổ, tôi có thể thấy ánh đèn bên ngoài tiếp tục nhấp nháy tín hiệu gạch, gạch, gạch cấu thành chữ O mở.
Tôi tóm cây thang tiếp theo và trèo vào khoang điều khiển. Ở đây không chỉ có mình tôi. Một cặp giò thòi ra từ dưới bảng điều khiển, mặc cái quần bó trắng của NASA. Hai bàn chân trần. Mười ngón xòe thẳng đứng. Bất động. Như cái xác được kéo nửa chừng ra khỏi ngăn chứa trong nhà xác. Nửa trên bị che khuất. Tôi suy tư về cách chết này, ngộp thở, nghẹt họng vì buồng phổi trống rỗng, cháy bỏng. Tôi đã nhiều lần định chết như thế.
Tôi tới gần cái xác. Vụ này không phải lỗi của mày, tôi tự nhủ. Tôi đâu thể đến đây nhanh hơn được. Tôi phải kéo xác ra để kiểm tra và xác định nguyên nhân cái chết. Thò tay xuống, tôi tóm lấy một bên mắt cá, và cái xác co giật. Nó đá. Có tiếng hét và tiếng rầm. Thêm mấy phát đá nữa, chân cẳng đạp tứ tung như đạp xe đạp, và rồi có bàn tay thò ra tóm lấy mép bảng điều khiển, một gương mặt xuất hiện, tóc vương trên cặp mắt mở to và cái mồm đang cáu gắt. Lờ mờ tiếng ai đó quát tôi: “Cái mẹ gì đấy?!”
• • •
Chúng tôi giương mắt nhìn nhau. Đây là một phụ nữ. Cặp môi cô ta đang chuyển động. Cô ta không đội mũ bảo hộ, khiến cái mũ tôi đâm ra trông ngớ ngẩn. Tôi thò tay mở kính che mặt, và chỉ hơi chút e ngại rằng đây có thể là hồn ma, và có thể tôi đang không trong cái trạm nào hết mà đang ở ngoài chân không vũ trụ lạnh giá, và tôi phần nào hi vọng sự tình đúng như vậy thật...
Nhưng mở kính ra tôi hít thấy không khí. Và tôi nghe thấy phần đuôi câu cô ta hỏi:
“...anh chui chỗ quái nào ra đấy?”
Cô ta đợi câu trả lời. Câu này dễ. Tôi trả lời được.
“Trạm tín hiệu số 23,” tôi nói.
Chúng tôi lại nhìn nhau. Khó xử quá nhỉ.
“Tôi... tôi thấy tín hiệu kêu cứu. Cô... Không có gì bị sao chứ?”
“Tôi không bị sao cho đến khi anh cho tôi một phen vãi linh hồn.” Cô ta quệt mấy sợi tóc vương trên mặt đi. Con người này xinh chưa từng thấy. Một phần nào đó sâu thẳm trong tôi biết đó là vì tôi sống cô độc lâu quá rồi, và vì người cuối cùng tôi đem lòng yêu mới đây đã chết trong vòng tay tôi, và vì tôi mừng là cô gái này chưa chết, nhưng một phần khác trong tôi lại nghĩ có thể cô ta thực sự là một phụ nữ đẹp.
“Đang có vấn đề gì thế?” tôi hỏi.
“Đang có vấn đề gì à? Để tôi nói cho mà nghe, cái đám óc bã đậu ở Texas đã chế tạo đến hai ngàn cái thứ đồ mắc dịch kiểu này rồi, thế mà vẫn không thể đưa chúng lên đây mà không gặp trục trặc. Sao không bao giờ có cái nào bật phát chạy được luôn thế nhỉ? Có phải yêu cầu gì quá đáng không? Yêu cầu thế chắc cao quá. Đưa tôi cái cờ lê.”
Trên sàn có một hộp đồ nghề đang mở, đặt ngay dưới bảng điều khiển. Tôi đưa cô ta cái cờ lê, và cô ta lại chui đi mất tích. Tôi thấy bộ đồ đi vũ trụ của mình sao mà cồng kềnh quá. Tôi nhún vai dưới khối nặng của nó. Tôi tính bỏ mũ ra.
“Thế là họ đưa cô ra đây điều hành cái trạm này, và nó thậm chí còn không hoạt động được?” tôi hỏi.
“Chúng nó có bao giờ hoạt động được đâu,” cô ta bảo tôi. “Ban đầu thì không.” Giọng cô ta bị cái hốc mình đang ở trong sửa chữa hãm bé lại, và cái mũ bảo hộ của tôi cũng góp phần cách âm. “Và tôi không phải trạm viên.” Cô ta nhìn tôi từ trong bóng tối. “Anh trông tôi giống trạm viên lắm à?”
Tôi thấy cô ta trông như người thường. Thế tức là “không” à? Thế tức là tôi trông khác thường à? Chắc vậy rồi. Tôi quyết định đội nguyên mũ. Cằm tôi râu ria mọc tràn lan được một tuần rồi, và tóc tai tôi là một mớ giẻ lau bờm xờm thừa sức khiến tôi lãnh đủ nếu bị quân đội hoặc NASA thanh tra.
“Chắc không,” tôi nói.
“Tôi là chuyên viên tinh chỉnh,” cô ta nói. “Tôi chỉnh cho mấy thứ này đi vào hoạt động để bè lũ các anh sống được trong này. Nhưng hiện tại, mấy cái cảm biến đang báo với thứ đồ mắc dịch này là cái gì cũng có vấn đề, và tôi đang tìm cách khiến chúng hiểu rằng không có cái gì bị vấn đề cả. Nó loạn hết lên rồi.”
“Chuyên viên tinh chỉnh,” tôi nói. Lần đầu tiên biết đến sự tồn tại của họ. Nghe giống dân sửa piano hơn là sửa thiết bị điều hướng không gian trị giá nghìn tỉ đô.
Cô ta lại chui ra khỏi hốc, ngồi thẳng dậy. Mồ hôi khiến tóc cô bết lại mấy chỗ. Phần lớn tóc được cột thành đuôi ngựa. Nâu sáng, hơi hoe đỏ. Và cặp mắt màu lục bảo ấy. Tôi thì là tay cà đẫn đang nhìn không chớp mắt. Và bộ đồ đi vũ trụ nóng bỏ cha.
“Vâng, chuyên viên tinh chỉnh,” cô ta lặp lại. “Cho tôi xin cái con ốc với nhé?”
Tôi ngưng tròn mắt nhìn và liếc về hướng cô ta đang chỉ. Đằng đó có mấy cái đinh ốc con tôi nhận mặt được, ốc để đính bàn phím điều khiển vào bảng điều khiển chính. Tôi lấy một con ốc đưa cô ta, nhưng trước tiên vít cái long đen hãm lên đã. Cô ta nheo mắt nhìn tôi như thể vừa được xem xiếc khỉ. “Tôi là Claire.” Cô ta chìa ra bàn tay lấm lem dầu mỡ. Tôi bắt lấy. “Xưng hô với anh sao đây?”
Tôi cười. Chắc tại đang run. “Dạo gần đây, người ta gọi tôi là Cái Thằng Ngu Đó. Hồi trong quân ngũ, người ta chỉ gọi tôi là Anh Lính. Nhưng hồi ở học viện không quân, chúng tôi được gán bí danh liên lạc.”
Cô ta cười. “Bí danh của anh là gì?”
“Nghe không hay đâu,” tôi nói.
“Cứ nói thử xem. Cho thêm con ốc nữa với.”
Tôi vít ốc và đưa cô ta. “Bí danh tôi là Đào.”
Giọng cười của Claire vang vọng trong hốc. Tôi đứng ngó ngoáy trong khi cô ta chỉnh tiếp.
“Đáng ra phải là Kẻ Đào Mộ,” tôi giải thích. “Được vậy thì ... cô biết đấy... hổ báo lắm. Nhưng lão giảng viên không thích tôi, và có lần lão thấy tôi gãi mũi, và nói rằng tôi đào gỉ mũi, và thế là từ đó tôi được gọi là Đào. Sự tình thế đó.” Tôi nhún vai, mặc dù cô ta đang không nhìn mình.
“Nói thật xem nào,” cô ta tra khảo. “Anh lúc đó ngoáy mũi thật, đúng không? Đâu chỉ gãi. Đưa tôi mấy cái ốc hãm.”
Cô ta thò tay ra. Tôi đặt ba con ốc vào lòng bàn tay cô. “Có thể tôi ngoáy mũi,” tôi nói. “Tôi không lấy đó làm tự hào.”
“Không, anh không tự hào gì sất. Nhìn anh tôi đoán được mà.”
Tôi chẳng hiểu đây có phải lời khen không nữa. Chắc chắn một điều là tôi không cảm thấy như vừa được khen.
“Thế anh lính này, anh phục vụ tại đâu?”
“Đủ chỗ. Orion. Humbolt. Dakka. Kì đầu tiên tôi ra Gturn.”
Claire huýt sáo. “Người ta toàn tống anh ra những chỗ tởm nhỉ?”
“Quá tởm.”
Cô vặn vẹo chui ra khỏi hốc, và tôi lùi lại cho cô ta rộng đất. Cô vận áo ba lỗ trắng của NASA. Không áo lót. Người gọn chắc nịch. Tôi cứ tưởng tạng người học thức như cô ta trông phải khác cơ. Cô ta bắt đầu chỉnh sửa trên bàn phím điều khiển chính, còn tôi thì đứng xem, theo dõi cô ta làm gì. Có vẻ đây là chuỗi lệnh tái khởi động tổng thể, nhưng cô ta chỉnh lại tệp configsys trước khi cho chạy lệnh, lập trình còn nhanh hơn tôi gõ chữ chay.
“Xem cách này có được không,” cô ta lẩm bẩm.
Ánh sáng quanh chúng tôi tắt ngấm. Tối mịt. Có tiếng thụp xa xăm vẳng lại từ mấy cái rơle điện dưới đây hai tầng. Những mẩu sáng bé bên kia ô cửa sổ bắt đầu lộ diện khi mắt tôi dần quen với bóng tối. Có cái gì thực khêu gợi khi được cùng hít thở trong bóng tối với người khác. Tôi có thể cảm thấy sự hiện diện của cô ta như lắp rađa trong người. Tôi biết rằng có người đứng trong bóng tối với mình, rằng mình không cô độc. Tôi đứng ngây đơ, không dám nhúc nhích tay chân, sợ rằng mình sẽ dùng chúng làm điều không phải phép.
Ánh sáng lại bật lên. Claire đang nhìn chằm chằm vào một khung cửa sổ. Tôi cũng nhìn theo. Ngọn sáng phập phùng, chập chờn, dao động, do dự như vừa bị sốc và đang hốt hoảng đã về lại nhịp bình ổn, phát đi không chút gián đoạn và đầy tự tin.
Claire mỉm cười với tôi.
“Được hơn rồi đấy,” cô nói.
Công nhận.