Với tôi, địa ngục tầng thứ mười hai là một viên bi sắt nhỏ rơi từ độ cao hai phân rưỡi, va vào một khối bê tông.
Đấy là tôi nghe tiếng xong đoán thế thôi: những thứ tạp âm bé khốn nạn nhất chỉ xuất hiện khi tôi đang trên giường, cố gắng chợp mắt. Riêng cái âm này chẳng khác nào con gián. Không phải vì nghe nó như tiếng gián – mấy thằng âm thanh khác mới giống tiếng gián – chỉ là nó luôn chường mặt ra mỗi khi tôi tắt đèn phòng, thế rồi lại mất dạng ngay khi tôi dậy đi quanh phòng. Tiếng chân tôi dọa nó chạy mất. Ai giải thích thử coi.
NASA nói mọi thứ trong trạm đều thiết yếu, rằng nếu tôi nghe thấy tiếng ồn tức là có thứ thiết bị đang làm việc của mình. Ý văn học ở đây là tôi nên khớp mỏ lại và lo làm việc của mình đi. Hà. Có lẽ bao than thở cùng yêu cầu của tôi và những trạm viên khác đã khiến Houston lộn tiết. Có lẽ đây là cách họ trả thù chúng tôi. Tôi có thể hình dung cảnh trong Trung tâm Kiểm soát Nhiệm vụ ngay lúc này: một tên sơ mi trắng cà vạt đen đang theo dõi dữ liệu sinh trắc của tôi trên màn hình, còn sếp hắn thì hỏi tôi vào giai đoạn ngủ REM[1] chưa.
“Đã vào, thưa sếp. Ngủ say như chết.
“Tuyệt vời. Bật cái máy kêu bing lên!”
Hoặc cái máy nghe như bi sắt va vào bê tông.
Thứ quái dị trong cái trạm máy trị giá nghìn tỉ đô này khiến tôi vừa tức ói máu vừa lăn lộn trên giường, cố tìm chỗ mát và chút im lặng. Và đúng lúc đó một âm thanh khác nhắc tôi nhớ rằng âm thanh có thể mang tin xấu thực sự. Không chỉ ngứa tai, không chỉ là một nốt lệch nhịp trong bản giao hưởng tĩnh lặng tôi đã cẩn thận điều phối, mà là một âm thanh từ ngày xưa, như tiếng lửa plasma[2] và lựu đạn mảnh, như những câu lệnh cảm tử phát ra từ miệng những kẻ quá chậm chạp, quá già, và đầu quá nhiều sạn nên không cần mặc giáp lính nữa, tiếng ồn như bom nổ và còi báo không kích vang rền. Những âm thanh kiểu thế.
Mới nghe tôi nhận ra ngay đó là tiếng gì: máy GWB sập hoàn toàn. Cả trạm ngưng phát tín hiệu. Tôi biết, bởi vì tôi đã thực hành trong các trạm mô phỏng tại Mojave ti tỉ lần rồi. Tôi biết, bởi vì những lần thực hành đó vẫn khiến tôi gặp ác mộng – ác mộng về những gương mặt râu ria bạc trắng lom lom nhìn qua ô cửa sổ giả mỏng manh trong khi tôi cố mò xem lần này họ chơi tôi kiểu gì.
Tại SIMCOM[3] chúng tôi hay đùa là: NASA chơi khăm phi hành gia của mình đủ điều khi họ còn trên Trái Đất, bởi khi lên vũ trụ, chẳng ai nghe được tiếng la hét nữa.
GWB không thể nào sập được. Các bộ dự phòng có bộ dự phòng cho bộ dự phòng. Để tôi nói cho nghe, ruột gan trạm tín hiệu 23 nhùng nhằng vào với nhau lắm. Sai sót muốn xảy ra thì phải có một chuông báo bị hỏng, và hỏng thêm chuông dự phòng, và hỏng nốt hai mô-đun độc lập cùng làm chung nhiệm vụ và cứ vài giây lại tự kiểm tra xem mình còn khả năng thực hiện nhiệm vụ đó nữa không. Mọi con chip và phần mềm đều có thể tự sửa chữa và tái khởi động. Có khai hỏa một luồng EMP[4] bên trong lòng cục cưng này thì sau hai phát lắc con bé tự bật lên ngay. Muốn nó sập cần tầm hai tá hư hỏng ngẫu nhiên đồng thời ập đến, cộng thêm một lô các trùng hợp vô cùng khó tin chẳng ai nghĩ lại có thể xảy ra.
Đã có lần một tên đầu to mắt cận tại NASA tính toán tỉ lệ đó. Khả năng cực kỳ, cực kỳ nhỏ. Nhưng xét ra, tính đến tuần trước, khắp dải Ngân Hà có 1,527 trạm GALSAT đang hoạt động. Thế thì tôi đoán tỉ lệ chuyện xấu xảy ra với ai đó sẽ tăng dần đều. Nhất là khi các trạm ngày một cũ đi. Và giờ có vẻ nhân vật ai đó chính là tôi.
Sau màn lộn xộn này, mớ tạp âm đột nhiên lại muốn được tìm thấy. Bao chuông báo động tí hon ở khắp mọi nơi réo gọi tôi. Tôi vội vã bật dậy khỏi giường và trèo thang lên khoang điều khiển, người mặc độc cái quần đùi. Thứ đầu tiên tôi kiểm tra là phụ tải điện, và thấy vẫn ngon lành. Tôi kiểm tra con quay hồi chuyển điều hướng và máy quét vùng sao, và trạm vẫn xác định được vị trí của mình. Tôi kiểm tra Máy Cổng thông Lượng tử, nhưng không thấy tin nhắn nào. Tranh thủ lúc kiểm tra, tôi gõ nhanh mấy dòng gửi Houston, mặc dù chắc mẻm họ đã tự động được nhận các mã lỗi nhập nhằng.
Mất điện. 0314 GST.
Trạm giờ hẳn đã báo lại với họ rồi, nhưng ít nhất họ sẽ biết tôi đang tỉnh. Nhân viên hiện trường. Cái tâm thịt của que kem khổng lồ trong vũ trụ của họ.
Tôi tóm lấy vành đường ống dẫn ra tháp hải đăng và lao mình vào máng trượt xuống phía cái máy GWB xa bên dưới. Trò này tôi làm quen rồi, chỉ cần quệt ngón vào thành ống để chỉnh hướng. Ánh đèn đỏ nhấp nháy dọc đường trượt. Một chuông báo động rú inh ỏi phía trước.
Tôi dang rộng tay, đầu ngón miết vào thành kim loại để giảm tốc độ, rồi tôi tóm lấy thanh thang ngang cuối và đu vào tháp.
Máy GWB sờ vào nguội ngắt. Thế tức là nó đang không phát tín hiệu báo lối đi an toàn cho tàu bè quá cảnh. Đồng thời nó cũng không xoa dịu đầu như bình thường. Như thể một lon bia yêu thích vừa bị chuyển hóa thành nước tăng lực. “Mày bắt đầu làm tao lo rồi đấy,” tôi bảo nó trong lúc kéo từng tấm panô lục giác ra.
Tôi đặt chúng sang bên và nghiên cứu phần mái vòm nhẵn trơn bên dưới. Có tiếng leng keng đâu đó, giống tiếng bu lông lỏng rơi vào hốc. Tôi kiểm tra chỗ ốc vít và không thấy thiếu cái nào. Thêm nhiều tiếng ồn nữa. Dưới đáy cái GWB, tôi kiểm tra hết các dây nhợ và kết nối. Tôi tin điều đầu tiên chúng tôi được dạy phải làm sẽ giống hệt điều ai cũng sẽ làm, kể cả nếu không trải qua khóa huấn luyện trị giá nghìn tỉ đô. Tôi rút hết dây cắm ra. Đếm đến mười. Cắm lại vào. Đảm bảo chắc chắn mọi dây đều cắm chuẩn.
Vừa làm, tôi vừa dành một phần trí lực nhớ về lịch tàu bè qua lại. Trên tường treo cái đồng hồ bằng đồng, loại hàng tuần phải lên giây cót cho khỏi chết. Ở đây đồ chạy pin hay đồ có CPU sẽ bị máy GWB nướng chín hết. Tôi ngưng lên giây cót khi chỗ tạp âm bắt đầu khiến tôi phát điên, bởi vì tôi không chịu nổi tiếng tích tắc nữa. Tôi đoán đã năm phút trôi qua kể từ lúc nhắn tin cho NASA, vậy bây giờ đang vào khoảng 0320. Nếu nhớ không nhầm thì lúc 0330 sẽ có tàu chở hàng chui ra từ Orion, chuyển tiếp đến Vega. Tàu cỡ đó chắc chứa phi hành đoàn tám người. Thế rồi cả trạm bắt đầu quay mòng mòng quanh tôi và tôi phải tự trấn tĩnh lại mình vì vừa nghĩ đến tàu Varsk. Tàu du lịch hạng sang quá cảnh lúc 0342. Nó chứa bao nhiêu nhỉ, năm ngàn du khách? Chưa tính thuyền viên?
Tôi để nguyên chỗ panô của cái GWB đấy và lại lao vào máng. Chọn hướng quá dốt. Tôi tông sầm vào tường, cái vai trần trượt một phát, rít lên, rát bỏng, khiến tôi lật nhào và đập bốp đầu cùng ống đồng trước khi kịp dừng lại. “Bình tĩnh nào,” tôi tự nhủ. “Từng việc một.” Hồi còn làm lính tôi hay nói to ra ngoài mồm như thế, cái thời cứ hấp tấp là ruột gan sẽ phòi ra ngoài bụng.
Sau khi kéo người xuống dưới tay vịn máng, tôi lại tiếp tục tăng tốc trong môi trường vô trọng lực. Khi đến rìa trọng lực tỏa ra từ khu chính của trạm, tôi quay người để chân trôi xuống trước, rơi nốt mấy mét còn lại và khuỵu người tiếp đất.
Trạm phát điện cách đây hai lần cầu thang. Tôi trượt xuống thang, phóng vèo qua các khu phòng ở, tay cháy rát. Chân trần tiếp ghi thoát kim loại đánh keng. Các rơle chính là những thanh chữ T có tay nắm cao su, và bọn này rất khốn nan. Muốn chuyển mạch chúng nó thì tốt nhất nên dùng lực chân. Tôi ngồi xổm xuống, tì một vai dưới thành chữ T, và dồn sức vươn thẳng lên, quay cái thanh chín mươi độ, khiến tiếp điểm ẩn ở phía đầu kia của thanh ngắt kết nối.
Tôi làm tương tự với các rơle khác. Điện cắt thụp, và cả căn phòng tối om. Bóng tối khiến các cảm biến quang điện giật mình và lệnh cho chỗ đèn chạy pin dự trữ nhấp nháy bật lên. Tôi lại đếm đến mười, chờ cho điện rút hết khỏi hệ thống, đề phòng trường hợp các tụ điện nhỏ vẫn lưu thứ đã làm loạn các vi xử lý trong bộ nhớ. Tôi muốn chúng quên hết. Sau khi bị ép tái khởi động khôi phục cài đặt gốc, chúng sẽ bật về chế độ như khi mới xuất xưởng. Hệt bọn trẻ sơ sinh.
Bật lại các rơle sẽ khó hơn, vì các thanh chữ T đã chuyển sang nằm dọc. Tôi chống một chân vào lan can và giật mạnh. Phần bụng đã biến tôi thành người hùng nhói đau. Tôi nhớ lại một bài kiểm tra SIMCOM mấy năm trước, yêu cầu tôi phải vặn chỗ rơle đủ mười lần, vặn đi rồi lại vặn lại, khi ấy những tưởng ruột gan mình chuẩn bị vãi hết ra ngoài vết sẹo. Tôi nhớ sau đó mình nói với hội râu bạc rằng: “Không, khỏe như vâm. Chuyện muỗi ấy mà.” Thế rồi bị nguyên một tuần đái ra máu.
Vặn xong rơle một là ánh sáng lại lên. Tôi vặn cái thứ hai. Không chuông báo động. Tất cả đang tái khởi động, các mạch điện tự phân lại theo bộ nhớ nền protein[5], phần mềm chạy lại từ các mốc tham chiếu hữu tuyến. Tôi chủ yếu thấy khó chịu vì bị phá giấc ngủ, và nghĩ đến mớ giấy tờ hành chính và bản ghi lỗi sẽ phải giải quyết mà thấy ngao ngán tợn.
Giờ tôi leo lên thang, mồ hôi nhễ nhại, chân đau nhừ, vừa ước giá mà mình mang theo đôi giày vừa kiểm tra đồng hồ. 0326. Tái khởi động toàn bộ sẽ mất hai phút. Vậy là còn dôi ra hai phút cho tàu chở hàng từ Orion. Suýt soát phết. Tôi nghĩ về chuyến tàu chở hàng đang hướng về Vega, và về mớ hỗn độn một vụ tai nạn như vậy sẽ gây ra trong bãi tiểu hành tinh. Nhưng tàu Varsk mới là thứ ám ảnh tôi nhất. Năm ngàn sinh mạng đang ngồi cắm tai nghe xem phim. Cười sằng sặc trước các cảnh hài. Gọi thêm một ly gin pha tonic. Ngáy o o. Lần mò tìm ghế trong bóng tối sau khi từ đầu tàu quay về. Một đứa bé khóc ré lên, ai đó hắt xì khiến tất cả cùng sợ xanh mặt vì không khí trong tàu được tái sử dụng.
QT[6] phát chuông báo hiệu. Tin nhắn từ Houston. Tôi ra chỗ màn hình đọc, nhưng chưa đến nơi, chuông báo hiệu lại kích hoạt. Rú vào mặt tôi. Đèn đỏ nện thập thình. Sập GWB lần hai. Sau một lần tái khởi động khôi phục cài đặt gốc.
Độ bất khả thi của sự việc vừa diễn ra nện ầm ầm vào sọ tôi trong khi tôi trân trối đọc từng con chữ trên máy QT, bức thông điệp của NASA. Tôi chớp mắt, nhưng nó không biến mất. Tôi đã hi vọng sẽ được nhận giải pháp, được ai giúp cho một tay. Thay vào đó, tôi chỉ nhận được vỏn vẹn mấy từ:
Đâu có mất điện?
❀ ❀ ❀
[1] REM: viết tắt của Rapid Eye Movement, giai đoạn đồng tử di chuyển vô thức dưới mí mắt trong lúc ngủ, cơ thể giãn hoàn toàn, và người ngủ mơ rất sâu.
[2] Plasma: một trong bốn trạng thái cơ bản của vật chất (bên cạnh rắn, lỏng, khí). Plasma hình thành khi khí ga bị đốt ở nhiệt độ rất cao hoặc bị đưa vào một trường điện từ mạnh, tạo ra các ion.
[3] SIMCOM: viết tắt của Simulation Complex, tức Khu Liên hợp Mô phỏng.
[4] EMP: viết tắt của Electromagnetic Pulse, tức Xung Điện từ, có thể gây gián đoạn hoặc hủy hoại các linh kiện điện tử.
[5] Bộ nhớ nền protein: các bộ nhớ sử dụng phân tử sinh học để lưu trữ dữ liệu.
[6] QT: viết tắt của Quantum Tunneler, tức Máy Cổng thông Lượng tử.