Ít nhất tôi mặc sẵn đồ đi vũ trụ rồi, và sau một tuần nằm ngủ trong cái thứ này, nó nồng nặc mùi mồ hôi của tôi, không phải mùi mồ hôi ai khác. Chính nhờ cách nhìn đời lạc quan này mà tôi trụ qua được ba kì rưỡi tại ngũ và sáu tháng đầu trực trạm tín hiệu. Tôi sẽ là người vui vẻ, nếu bạn thấu hiểu nỗi sợ mãnh liệt, tăm tối và kinh hoàng như muốn hóa đá lẩn khuất trong lồng ngực tôi, vật lộn với tôi trong mọi khoảnh khắc tôi còn tỉnh táo và thỉnh thoảng khiến tôi vục mặt vào tay bật khóc tu tu mỗi khi xung quanh vắng người và khiến tôi cực khó có thể tham gia những nơi đông người hay chịu đựng bất cứ tiếng động lớn nào và khiến tôi nghĩ mình có lẽ sẽ vĩnh viễn không thể hình thành một mối quan hệ tử tế nào nữa, dù là quan hệ bằng hữu hay quan hệ gì khác. Một khi đã thấu hiểu điều đó, bạn sẽ phải thầm nghĩ rằng, “Ê, sao thằng khốn này lúc quái nào cũng yêu đời vậy?”
Tôi nhét ít nhu yếu phẩm vào tàu cứu sinh (bộ sơ cứu, bình O2 sơ cua, đồ ăn trọn gói, bình nước) và đảm bảo hộp lấy mẫu được neo chặt vào khoang chứa. Kiểm tra động cơ và hệ thống hỗ trợ sự sống kiểu này gợi cho tôi nhớ về thời còn làm phi công, trước khi tôi bị cấm bay và tống vào bộ binh. Quân đội dạy tôi rằng mấy thằng say rất hữu ích ngoài tiền tuyến. Ở trên không, bợm nhậu như tôi chỉ ăn hại.
Trong lúc làm nóng động cơ đẩy và tự hỏi thứ gì sống sót ngoài bãi tiểu hành tinh, tôi chợt thèm có một hai ụ súng laze dưới cánh. Thế rồi tôi phải tự nhắc nhở bản thân rằng chiếc xế rởm rịt hoen gỉ này thậm chí còn không có cánh. Nó hình thù như cái nhà xí – chỉ có điều không thơm tho bằng. Lúc chốt cửa lại và tách khỏi trạm, tôi cũng được gợi cho nhớ luôn là nó bay rất cà tàng. Tôi bay lắc lư một lúc thì bắt đầu quen thanh điều khiển. Tôi rướn cổ nhìn lại căn nhà ngoài vũ trụ của mình, và vẻ ngoài của nó khiến tôi xây xẩm cả mặt mày.
Tôi sống trong đó sao?
Trạm là một cái lon trắng nhờ nhờ phủ vệt dầu đen. Vết cháy và các đốm đen từ những vụ va chạm nhỏ xuất hiện loang lổ trên lớp vỏ ngoài, và tôi nhìn được một ngôi sao qua cái lỗ mới xuất hiện trên bộ bảng pin mặt trời ở tầng trên. Các ngọn đèn nhấp nháy sáng ở đỉnh và chân trạm và quanh viền bộ bảng pin báo hiệu tuyến đường nguy hiểm cho bàn dân thiên hạ. Khu của tôi đồng không mông quạnh, có độc cái trạm. Thậm chí mớ xác tàu cũng biến mất phần lớn rồi; chỉ còn mấy mảng kim loại cong queo và những dải sợi cácbon làm minh chứng ở đây từng có chuyện xảy ra, giống như một ngã tư sau vụ tai nạn sẽ rải rác kính văng và vỏ đèn đuôi vỡ nát.
Tôi nhận ra rằng mình nên chăm ra ngoài hơn. Nhìn từ góc này thật dễ chịu. NASA có quy định chúng tôi cần phải ra ngoài vũ trụ mỗi tuần một lần để thanh tra các thứ, nhưng tôi nghe bảo chẳng ai tuân thủ cả. Ngồi dựa đầu vào GWB, tận hưởng cơn say và hi vọng không gì xấu xảy ra gây khuấy động thời gian thư giãn thảm hại của chúng tôi dễ hơn nhiều.
Bộ hiển thị đa màn hình trên bảng điều khiển nhấp nháy khi tôi thoáng bị ngắt kết nối với trạm. Tôi vỗ vào cạnh bên của nó, và hình ảnh trở về như bình thường. Tôi chỉnh máy quét sinh học của trạm truyền dữ liệu sang bộ hiển thị để theo dõi đốm sáng. Tôi vẫn đợi nó biến mất. Tôi có thể hình dung điều hành viên trạm tôi ở Houston đang dán mắt vào các tín hiệu truyền về và nhịp nhịp ngón tay trên mặt bàn, thầm giục tôi nhanh chóng ra lấy thêm dữ liệu. Ở bàn bên, một điều hành viên khác có lẽ đang cùng trạm 512 giải quyết một cái máy bơm nước thải quái quỷ tự ý làm loạn. Dưới đó một hàng, có người đang thông báo với trạm 82 rằng làn giao thông của họ sẽ được chuyển hướng, và tuần sau sẽ có một tàu kéo ra di dời họ. Đột nhiên, Houston trở nên không hơn gì một trung tâm hỗ trợ khách hàng, giải quyết đủ kiểu tình huống xảy ra trên khắp dọc hạm đội các thùng kim loại đắt tiền rải rắc trong bờ cõi vũ trụ. Hà hà. Có khi chúng tôi mới là đốc công ấy chứ lị, họ là cái đinh gì.
Chuông báo va chạm réo lên khi xuất hiện một khối tiểu hành tinh lớn đang lộn nhào về phía tôi. Nó còn cách rất xa, thừa thời gian để chỉnh hướng bay, nhưng khi bắt tay vào chỉnh, tôi mới hiểu tại sao chuông báo reo sớm đến thế: cái lon sắt vụn này lái lởm khởm như cái xe đạp một bánh, mà cái bánh duy nhất đó lại thuộc diện cái bánh suốt ngày cứ quay đi đâu đâu trong các xe đẩy hàng siêu thị.
Ở sau lưng vệ tinh nhỏ của một tảng đá, cách trạm tầm ba chục cây, tôi chốt được vị trí nguồn phát tín hiệu sinh học. Nó còn cách năm trăm mét về phía trước, và nó đang trôi về phía trạm với tốc độ khá nhanh. Như thể nó đang đến tìm tôi. Tôi với tay chỉnh cái HUD[1] phóng to hình ảnh lên và phát hiện ra bàn tay mang găng của mình đang vồ vào hư không. Không có HUD. Tôi không ở trong chiếc Falcon. Mấy thói quen lặt vặt kiểu thế trụ lại lâu phát kinh. Tôi đành phải xoay sở ép người tì vào dây an toàn và căng mắt ra nhìn.
Kia.
Giữa một mê trận đá ngổn ngang, xuất hiện một vật với góc cạnh nhân tạo. Trông như côngtenơ đựng hàng bình thường, loại hay bị nhồi vào bụng tàu bay trong khí quyển tầm gần tại các trạm hàng vũ trụ nhộn nhịp bên trên các hành tinh có người sinh sống. Nó được sơn xanh lá sáng và có vệt va đập ở hai bên thành, cùng với chữ viết dịch ra nhiều ngôn ngữ.
Tôi cho tàu cứu sinh của mình đi chậm lại – luồng khí phun ra phía trước đông lại thành các tinh thể nhỏ – và cho duỗi cánh tay có khớp nối xếp dưới mũi tàu ra. Khi đến gần, tôi có thể thấy một mớ các vật thể trôi dọc theo côngtenơ – hàng hóa bên trong của nó, rõ là bị tràn ra sau khi va phải một trong số các phiến đá đang quay. Một bệ ngồi toa-lét quay vòng vòng qua. Có đến cả tá bệ. Mảnh vụn từ các thùng gỗ. Các bộ áo váy tơ tằm của cánh chị em bay qua, nhiều bộ còn treo trên móc, chẳng hiểu sao vẫn nguyên vẻ nhăn nhúm.
Tôi tiến vào bãi tiểu hành tinh bên trong bãi tiểu hành tinh. Nếu một nhóm lớn các tảng đá tượng trưng cho một hành tinh mãi không hình thành nổi, đây sẽ giống một khu thương xá mãi không tới ngưỡng phát triển.
Quay tàu về phía côngtenơ, tôi bật đèn pha phía trước lên, sáng không đủ rọi tan vùng tối bên trong. Tôi thoáng tự hỏi liệu mình có phải vào trong đó không. Và tôi nhận ra rằng cho đến ngày ai đó thực sự thấu hiểu công nghệ AI[2], đây là lý do NASA vẫn cần đưa người vào vũ trụ. Để dùng óc người quyết định các thứ ngớ ngẩn như thế này.
Tôi nhìn lại bộ hiển thị đa màn hình để xem máy quét sinh học bảo gì. Tín hiệu trông khác. Yếu hơn. Tôi vỗ màn hình khiến ảnh hiển thị rung rinh, nhưng cái đốm đỏ ở tâm vẫn xỉn màu hơn hẳn hồi trước. Cái thứ còn sống ngoài kia không còn trụ được lâu hơn nữa. Và khi ra tới đây rồi, sát sườn cái thứ đó, tôi cảm thấy mình cần cứu nó. Lúc trước tôi chỉ muốn nó biến đi. Giờ tôi muốn nó cố cầm cự thêm lúc nữa.
Tôi quay tàu sang hai bên và quan sát đốm đỏ. Làm vậy để lập lưới tam giác xác định vị trí của nó, để biết chắc có đúng tín hiệu phát ra từ trong côngtenơ không. Một thùng thư báo nhựa lớn lăn qua chỗ tôi, văng phong bì thư và gói hàng tứ tung. Lại thêm một mớ bệ ngồi toa-lét khốn nạn kia nữa. Chúng va vào thành tàu, nhưng không gây nguy hiểm. Và đốm đỏ trượt sang cạnh màn hình. Chẳng hiểu sao nó đã bay qua chỗ tôi. Tôi quay tàu, quan sát màn hình cho đến khi đốm sáng lại vào chính giữa. Tôi nhòm ra chỗ đó thì chỉ thấy một túm hàng hóa bưu phẩm. Vậy là không cứu được ai rồi. Thôi thì đó cũng chỉ là hi vọng hão. Thứ tôi đang tìm chắc là một mẻ bánh quy bà nội ai đó gửi, giờ đã mọc tua tủa mốc miễn nhiễm môi trường vũ trụ. Tôi sẽ thất vọng, nhưng vì NASA vốn si mê các loại mốc meo, điều hành viên của tôi sẽ khoái lắm.
Cách mớ hổ lốn kia tầm chục mét, tôi duỗi tay khớp ra. Tôi mở kính che mặt để nhìn cho rõ và tháo đai an toàn để rướn được người tới nhìn qua kính trước. Với cánh tay, tôi nhẹ nhàng gạt tới lui dải kiện hàng, hất chúng sang hướng khác. Tôi vẫn nhìn xuống màn hình xem đốm sáng có di chuyển không. Nhưng khi thấy vật kia, tôi biết ngay. Tự nhiên biết thôi. Qua vết rách trên kiện hàng, tôi thấy một cái hộp gỗ, to hơn cái máy nướng bánh mì, đỏ tươi như sơ-ri, và ánh màu vécni.
Lý do không chỉ vì vẻ đẹp rực rỡ của nó dưới ánh đèn pha tàu, cũng không phải vì cái chất gỗ – nhìn dịu cả mắt vì lâu lắm không thấy rồi. Nhìn kiểu cái hộp bị sứt mẻ mà tôi tin tín hiệu sự sống máy quét bắt được có thể rò ra từ trong gói hàng rách nát này.
Tôi băng qua lớp màn phong bì và bọc hàng. Dùng tay khớp với, tôi tóm lấy cái bọc, thế rồi quay thuyền chín mươi độ; đốm sáng vẫn ở ngay tâm màn hình. Đây đích thị thủ phạm phá đám giấc mộng êm đềm trong ngày của tôi. Tín hiệu rất yếu và đang mất dần đi. Tôi đóng kính bảo hộ xuống và thu tay khớp vào trong tàu, đưa kèm cái thứ vừa tìm được vào vùng không gian an toàn và tiện nghi của tôi.
❀ ❀ ❀
[1] HUD: viết tắt của Head Up Display, tức Màn hình Hiển thị Ngang mặt, một dạng màn hình cho hiển thị các thông số kỹ thuật ngay trên kính chắn gió hoặc kính bảo hộ ở trước mặt người dùng, giúp người dùng có thể theo dõi dữ liệu mà không cần chúi mắt xuống.
[2] AI: viết tắt của Artificial Intelligence, tức Trí tuệ Nhân tạo.