“Nghe này, tôi không hề muốn cho bất cứ ai trong hai anh lên trạm tôi hết,” tôi nói với O’Shea trong lúc đứng đợi cạnh chốt khí Bravo. “Cả hai anh đều có trát lấy dữ liệu máy quét, thế nên cả hai sẽ đều có dữ liệu. Sau đó mời hai anh cút ngay khỏi trạm tôi.”
“Để tôi nói cho nghe, thằng này khốn nạn lắm,” O’Shea cảnh báo.
Đèn trên chốt khí bật sang xanh, báo hiệu tàu thợ săn tiền thưởng thứ hai đã kết nối chốt từ ngon lành và không khí phía bên kia không bị nhiễm bẩn. Tôi thậm chí còn không nghe thấy tiếng tàu tiếp xúc với trạm, màn đỗ quá nhẹ nhàng. Tôi liếc sang O’Shea, nhưng gã vẫn đang quạu cọ và không để ý gì hết. Tôi muốn nói với gã rằng Vlad có thể là một tay khốn nạn, nhưng hắn là một phi công rất lành nghề.
Tôi mở chốt khí. Một cảnh tượng đầy bất ngờ đón chào tôi. Bên kia cánh cửa là một người đàn ông mặc vét.
“Vladimir Morrow Bostokov,” ông ta nói, chìa tay về phía tôi.
Tôi lật ngược tay trái bắt tay ông ta. Trước khi tôi kịp giới thiệu bản thân, Vlad đã bắn luôn cho người đồng nghiệp của mình một cái nhìn dữ dằn. “Mitchell,” ông ta nói, giọng ngọng tiếng nước ngoài.
O’Shea không đáp lại câu gì cả.
Vlad thò tay vào túi áo vét và rút ra một tờ giấy in. Ông ta mở phẳng nó, và tôi có thể thấy đây cũng là tờ lệnh truy nã O’Shea đã cho tôi xem.
“Cái gì làm tay anh?” Vlad hỏi, sót mất một phụ ngữ nào đó.
“Panô trọng lực có vấn đề,” Tôi nói. Ông ta quan sát bộ dạng quần cộc kèm băng bó của tôi từ đầu tới chân, ý chừng muốn nghe giải thích thêm. “Dao động,” tôi nói với ông ta. “Hệ thống phân cực bị lỗi. Bị quăng quật mấy phát.”
Vlad nhún vai. Tôi ra dấu về phía tờ lệnh. “Và không, tôi chưa có gặp cô ta.”
“Đây,” Vlad nói, vẫn cứ dúi tờ lệnh cho tôi. “Giữ cho anh.”
Tôi nhận tờ lệnh và gấp nó lại, nhét vào chun quần, có phần hơi hào hứng quá.
“Kính-coong,” tôi nghe thấy tiếng mình nói.
“Lại gì nữa đây?” tôi hỏi.
Hai thợ săn tiền thưởng nhìn nhau.
“Cho tôi nhờ tí nhé?” tôi chỉ vào tàu của Vlad. Ông ta nhún vai, và tôi băng qua chỗ ông ta tiến vào một nơi giống khách sạn hào nhoáng hơn là tàu không gian. Mọi thứ đều được lát đá phiến rộng và sạch sẽ theo phong cách tiền-hậu-nhị-hiện-đại. Trên tường treo vài bức ảnh trắng đen, chủ yếu là ảnh chân dung người ngoài hành tinh đang nhìn trực diện vào ống kính hoặc nhìn chếch sang bên. Trông chúng khá giống hình chụp tội nhân, nhưng đầy chất nghệ. Một bên góc tàu là quầy rượu lấp lánh những chai lọ đủ dạng hình, phần lớn còn đầy một nửa với bao ánh hổ phách đa sắc thái.
Vlad vẫy tôi đi tiếp tới trước, dẫn chúng tôi băng qua một hàng các cánh cửa trong suốt dẫn vào những căn phòng nhỏ sang trọng. Trong một phòng, xuất hiện một cậu trai trẻ ngước mắt nhìn lên từ trên giường, tay bị cùm trong bọc sắt. Tôi nhận ra đây là buồng giam. Có phải giết người để được ở trong này tôi cũng giết. Trông thật hết sảy.
Từ sau lưng, tôi nghe thấy tiếng O’Shea xung xoẻng theo bước. Gã làu bàu với vẻ ghen tị về thứ gì đó. Vlad bảo gã đừng có chạm vào.
Tôi cúi đầu và bước vào buồng lái được chăm sóc tỉ mẩn. Ngửi thấy cả mùi da. Nơi này tuyệt hảo đến mức mũi tôi vểnh hết lên. O’Shea và Vlad quây lại quanh tôi, và cả ba chúng tôi cùng nhìn ra ngoài buồng lái.
“Tao không thích vụ này,” O’Shea nói.
“Tao không theo,” Vlad nói.
Từ khoảng xa, giọng tôi thì thầm, “Kính-coong.”
“Nghe này, đây không phải ngày vui nhất trong tuần của tôi,” tôi nói với hai thợ săn tiền thưởng. “Và mới hôm qua, tôi còn phải lau chùi toa-lét đấy.”
Mất một lúc tôi mới tìm ra nhân vật mới đến, mới nhìn thấy thứ toán thợ săn tiền thưởng đang nhìn. Con tàu thứ ba đen tuyền. Chỉ có thể nhận ra nó nhờ những ngôi sao phía sau bị nó nuốt chửng rồi lại thải ra trong quá trình di chuyển giữa các chòm sao. Mỗi bên cánh có một ngọn đèn xanh đỏ, nhưng có lẽ độ sáng dưới mức quy định của pháp luật. Một luồng sáng trắng bật lên từ mũi tàu, chiếu về phía trạm của tôi. Chúng tạo thành những luồng dài ngắn.
Tôi tìm cái đài HF trên bảng điều khiển của Vlad và cầm lấy micro mà không cần hỏi han. Theo luật định, khi tàu đỗ tại trạm của tôi, chúng thuộc quyền điều khiển của tôi. Có trát hay không cũng thế.
“Không cần đến đâu,” O’Shea nói, mắt nheo lại nhìn con tàu kia.
Tôi lờ gã đi và siết lấy micro. “Tàu đang tiếp cận trạm tín hiệu số 23, hãy khai báo mục đích.”
“Không được,” Vlad nói. “Cô ta không nói.”
“Ai đó?” tôi hỏi toán thợ săn, có vẻ cả hai đều biết ít nhiều về con tàu này. “Lại bạn mấy người à?”
“Tôi đã một hai lần đụng độ cô ta rồi,” O’Shea nói. Và tôi để ý thấy giọng gã không có vẻ gì cáu kỉnh. Thậm chí nghe như đang kính trọng. “Không biết tên cô ta là gì, nhưng so với cô ta thì hạng người im lìm nhất cũng hóa oang oang như động cơ đẩy trong khí quyển.”
“Rồi, hẳn cô ta phải nghe được,” tôi nói. Tôi quan sát các đợt chớp sáng. Khả năng đọc hiểu mã Morse của tôi hơi ghẻ, nhưng nhờ bối cảnh mà cũng dịch được đôi phần; tôi hiểu được đoạn liên quan đến thi hành nhiệm vụ cảnh sát tư pháp trong đoạn liên hệ của cô ta.
“À, có vẻ cô ta muốn đỗ vào trạm. Vì tôi chỉ có ba đai neo tàu, và tàu cứu sinh của tôi sẽ không đi đâu hết, hai người hãy dọn tàu ra đi. Tôi sẽ gửi hết mọi dữ liệu quét và biên bản tôi có cho mấy người, và bất cứ ai khác chường mặt đến.”
Vlad nhún vai. Ông ta có vẻ không lấy đó làm phiền. O’Shea nhăn mặt nhìn tôi. Trong lúc chúng tôi băng qua tàu, O’Shea kéo tôi sang bên. Gã dúi cho tôi mấy tờ tiền Liên bang. “Gửi sớm cho tôi ba mươi phút,” gã thì thào.
Tôi quay lại cân nhắc. Gã nói thêm: “Tôi đến trước. Và cho anh đỡ phải quay lại chỗ trạm rađiô của mình.”
Tôi nhận tiền và đút cất đi. O’Shea mỉm cười. Thằng bé trong buồng giam quan sát chúng tôi qua mái tóc đen dài thượt, nhưng rồi nhìn ngay xuống sàn khi bị tôi lừ mắt cho phát. Chúng tôi theo Vlad quay lại trạm, và tại đó hai kẻ đồng nghiệp tặng nhau một cái cau mày trước khi biến mất bên trong tàu mình. Với bàn phím cạnh cửa, tôi đóng chốt khóa nơi họ lại.
• • •
Sau khi hai thợ săn tiền thưởng tách khỏi trạm và lùi ra xa, tôi quan sát lớp vỏ đen của con tàu thứ ba lại gần qua cửa kính. Không cách nào nhìn được vào bên trong, vì khoang lái và mọi cửa sổ đều làm từ kính mờ. Chẳng mấy chốc tàu đã che kín khung cửa của tôi, và viên phi công đỗ vào với điểm chín tròn trĩnh trên thang chấm điểm va đập. Tôi đợi đèn sáng xanh, bấm mở chốt khí, và thấy bên kia là một cô ninja đang đứng.
Xin phép đi lạc đề một tí để nói rằng hồi nhỏ tôi cực kỳ thích bộ phim Ninja Đô thị Detroit. Tôi chỉ thèm trở thành ninja đô thị. Hồi bảy hay tám tuổi gì đó tôi được ba mẹ tặng một bộ để hóa trang Halloween, và tôi cứ mặc đi mặc lại tới tận khi cặp giày tẽ ngón bó sít bàn chân và cái quần cộc lên quá bắp chân. Mọi thứ quanh khu tôi đều lỗ chỗ vệt phi tiêu và ống xì đồng, và tôi chính là thủ phạm. Đùa, có khi tôi nhập ngũ thay vì học đại học vì bị cái bộ phim khốn kiếp đó tiêm nhiễm vào đầu quan niệm phải trái đúng sai quá lố. Tôi cũng xin nói luôn là Ninja Đô thị LA. với tôi không hề tồn tại. Ninja Đô thị Chicago thì không đến nỗi nào. Nhưng thôi, lạc đề xa quá rồi.
“Tôi đoán thử nhé,” tôi nói với cô ninja. “Cô đang truy lùng một kẻ tội phạm?”
Cô thợ săn tiền thưởng, từ đầu đến chân mặc toàn đồ đen, kèm cả mũ trùm và kính bảo hộ không thiếu thứ gì, gật đầu. Tôi phát hiện thấy bộ đồ đen phần lớn là tập hợp các thứ đồ hải quân quy chuẩn. Tôi nhận ra khá nhiều món đồ, thậm chí còn nhận ra thập kỷ một số món được sử dụng trong quân ngũ và chiến trường chúng được phân đến. Có vẻ ai đó vớ bẫm tại cửa hàng bán đồ thừa quân đội.
“Chưa gặp cô ta,” tôi nói.
Cô thợ săn rút ra một cái máy tính bảng nhỏ và gõ gì đó, chắc để cho tôi đọc hoặc để máy đọc cho tôi nghe. Tôi có cảm giác con người này không nói được, chứ không phải không muốn nói.
“Cô muốn dữ liệu máy quét,” tôi nói.
Cô ta gật và lấy cạnh bàn tay xóa màn hình đi. Bắt đầu viết thứ khác.
“Và biên bản các cuộc gọi rađiô.”
Lại gật. Và nhìn vào cách vệt tối quanh phần má dưới mũ trùm chuyển động thì tôi tin cô ta đang nhoẻn cười.
“Không thành vấn đề,” tôi nói. “Tôi đang bị NASA đặt lệnh cách ly, vậy nên cô sẽ phải ở trên tàu. Tôi sẽ truyền dữ liệu cho cô. Cô còn cần gì không?”
Chẳng hiểu vì sao, tôi luôn cảm thấy muốn giúp đỡ những người hỏi xin ít nhất, chứ không phải những người hỏi xin to mồm nhất. Nhưng cô ta lắc đầu.
“Ok. Sau khi cô tách tàu, tôi sẽ lên gửi cho cô và hai ông bạn cô những thứ mọi người cần.” Dù nói vậy, tôi có phần không muốn cô ta bỏ đi. Nhưng tôi thấy ngượng trước bộ dạng mình và tình cảnh trong trạm. Đời tôi là một chuỗi những thời khắc rất quái thai.
Thay vì quay lại tàu, cô thợ săn lưỡng lự, như thể còn cần gì đó.
Tôi đoán: “Cô muốn nhận tin trước, đúng không?”
Cô ta gật đầu.
Tôi nhớ về những sáng ngồi trước TV xem những chiến binh vô chủ trèo lên các tháp kính cao tầng và chống lại các binh đoàn shogun do Tập đoàn Tao-Lin hung ác cử đến. Tôi dễ bị yếu lòng trước các quý cô mặc đồ đen. Có lẽ đó mới là lý do thực khiến tôi vào hải quân.
“Được thôi,” tôi nói, cánh tay lành buông xuống ngang thắt lưng, nơi mấy tờ tiền của O’Shea đang thò ra cạnh tờ lệnh truy nã bị gập. “Chúc đi săn may mắn.”
Câu cuối tôi nói không thật lòng. Sau khi cô thợ săn biến mất và tôi chậm rãi leo lại cây thang thứ nhất, tôi cảm thấy phần nào mâu thuẫn trong lòng. Như thể panô trọng lực lại dở chứng, vặn vẹo tôi đủ đường. Đôi lúc bạn muốn phe thiện bắt được kẻ ác. Đôi lúc bạn chẳng biết ai đứng về phe thiện.
Leo hết cây thang thứ hai, vào khu sinh hoạt, tôi lại tắt chuông báo vật thể tiệm cận. Thế rồi tôi leo cây thang cuối để vào khoang điều khiển, và tôi lại nghĩ về xu thế chuyện xấu luôn đi theo bộ ba. Ba thợ săn tiền thưởng, nối đuôi nhau xuất hiện. Có thể tính đó là ba chuyện xấu riêng rẽ và tin rằng ngày hôm nay sẽ sáng sủa hơn không? Tôi quyết định tin.
Một giọng nói ngắt ngang luồng suy nghĩ của tôi.
“Bọn khốn đó đi hết chưa?” ai đó nói.
Tôi chui lên khỏi thang và quay lại thì thấy một cô nàng đang ngồi trong ghế điều khiển của tôi. Trong tay cô ta là một khẩu súng và trên mặt đeo vẻ quạu cọ.
Chính là cái cô trong tờ lệnh truy nã.
Tôi cứ tưởng sẽ không bao giờ gặp lại cô ta nữa.