Trạm Tín Hiệu Số 23

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Chương 6

❊ ❊ ❊

Khi một tàu chở hàng xuyên không gian di chuyển với vận tốc hai mươi lần ánh sáng đâm phải một tảng đá to bất động, một cảnh cực kỳ khó quên sẽ xảy ra.

Tôi xin thề.

Tôi là nhân chứng.

Theo lời đội nghiên cứu viên ở NASA, tôi có lẽ là người duy nhất tận mắt chứng kiến một cảnh tượng như vậy mà vẫn toàn mạng đi ba hoa được. Tôi phải nhắc họ đừng quên là còn bọn hải tặc chủ mưu khốn nạn nữa.

Trong lúc nghĩ về bức ảnh ông gác hải đăng treo tại tâm điểm trạm, tôi vơ vẩn tự hỏi liệu mấy ông gác thời xưa kia có bao giờ cảm thấy trống rỗng, gặm nhấm lương tâm, bứt rứt, trầm uất khi có tàu bị đắm tại khu của mình. Tôi tự hỏi liệu họ có bao giờ trải qua cái cảm giác bất lực này, cái lo sợ này, cái cảm giác nhiệm vụ không tròn vai – mà chẳng hiểu từ đó có tồn tại thật không nữa. Họ có bỏ nhiều tuần liền ngồi nhìn ván gỗ và những mẩu dây thừng rối dạt lên bờ không? Họ có cảm thấy rằng mình làm vậy là chưa đủ không? Rằng những cái chết thương tâm ngoài kia là do họ gây ra không?

Tôi hi vọng không. Tôi không muốn ai bị như thế, mặc dù tôi thèm khát có người chia sẻ, mặc dù tôi thèm khát được cảm thấy mình không cô độc. Ôi cái ham muốn có người đồng cảnh khổ ấy, nó thật ích kỷ làm sao. Anh em đồng chí trong chiến tranh cũng tương tự. Bạn không muốn đồng đội mình phải ở đó, cùng mình chịu khổ, nhưng không có họ thì không tài nào bạn trụ được. Họ thèm về quê bao nhiêu thì bạn cũng thèm cho họ được về bấy nhiêu, nhưng với điều kiện tất cả cùng được về. Tôi tin chắc đám chúng tôi ai cũng nghĩ: Đừng bỏ ai lại phía sau – đặc biệt là tôi.

Đã bảy ngày trôi qua kể từ vụ tai nạn, và tôi chẳng ngủ nghê gì nhiều. Tôi sinh chán ăn. Tôi liên tục tự nhủ rằng chỉ có tám người tử nạn, mà ở ngoài chiến trường thì thế là phúc đức lắm rồi, nhưng có lẽ màn thoát chết sát sườn của con tàu chở khách mới là thứ khiến mắt tôi thao láo hằng đêm và làm tôi không buồn nuốt bát hỗn hợp protein mỗi sáng. Mặc dù con tàu chở khách đi qua bình an vô sự, chẳng hiểu sao tôi vẫn nhìn thấy năm ngàn thi thể lăn lóc giữa bãi đá ngoài kia. Tôi có thể nghe tiếng gia đình họ khóc than. Họ chẳng ai biết mình lướt sát cửa tử thế nào. Nhưng tôi biết. Nghĩ đến tôi lại rùng mình. Thay vào đó tôi dồn tâm trí nghĩ về sáu người đàn ông và hai người phụ nữ đã chết ngoài kia, và tôi tua đi tua lại mọi thứ trong đầu, tự vấn rằng liệu có gì đáng ra mình đã có thể làm khác không.

Tất nhiên, NASA có tặng tôi vài lời quở trách. Cấm trao đổi hàng với tàu bè đi qua hệ thống nữa. Tôi chính thức bị cách ly. Thủ tục tại mọi trạm tín hiệu đều bị ảnh hưởng vì tôi nghịch ngu. Tôi nhớ hồi ở học viện không quân có một sáng cả trung đội phải chạy bộ ba chục cây vì tôi dám buông một câu bỡn cợt. Tôi vẫn chưa chừa tật phá hại người khác. Trước khi kịp ngưng, đầu óc tôi quay ngược về ngày cuối cùng tôi tham chiến, ngày toàn đội của tôi chết hết, ba trung đội bị ghìm chân, tử thần mỗi lúc một kề cận...

Tôi nén những ký ức đó lại. Tôi chìm trong những đau khổ mới hơn. Nhưng bác sĩ tâm thần của tôi đã cảnh báo tôi về hành vi này, rằng nóng giận và trầm uất có thể nhắm vào sai đối tượng, và rằng nếu tôi không giải quyết cái mớ bầy hầy đó đi thì thỉnh thoảng nó sẽ trồi lên theo cách tôi không tiên liệu được. Có lẽ tôi cảm thấy thế này không phải vì tám người tử nạn hay năm ngàn người được cứu thoát. Và có lẽ nhận công việc này là cách đánh vật với lũ ma quỷ u uẩn trong lòng thảm hại nhất có thể. Chúng đã vây được tôi tại nơi không lối thoát, trong trạm tín hiệu của tôi. Và chúng có quân số áp đảo.

Dù những dằn vặt cá nhân của tôi còn lâu mới chịu dọn đi, ít nhất vũ trụ có trí nhớ rất ngắn hạn. Các phi đội tàu tin tức với logo kênh mình sơn trên vỏ tàu đến rồi lại đi. Cả các phi thuyền cá nhân của đám hiếu kì và người tìm kỷ vật và săn phế liệu cũng thế. Con tàu chở hàng bị nổ tung chẳng khác nào lon nước ngọt đổ. Một bầy ong kiến kéo nhau đến, và giờ chúng biến hết rồi.

Về phần NASA thì, ôi mấy ông tử tế thế chứ lị, cứ chăm chăm xoáy vào việc khi tái khởi động trạm tôi đã xóa trắng mọi dữ liệu ghi được từ các máy quét trong khung thời gian vài tiếng trở về trước, và thế là không có thước phim nào ghi lại vụ thảm họa. Họ nói tôi bỏ lỡ cơ hội vàng để ghi hình chuyện gì xảy ra khi tàu trong siêu không gian va chạm với một bãi thiên thạch. Ừ thì tôi đã cứu sống ngàn mạng người, nhưng với kiểu nói của sếp tôi, đó là cái giá quá rẻ cho những gì có thể nghiên cứu được.

Buồn cười thật, tôi tưởng xuất ngũ là đã né xa nơi có những phép tính tàn khốc như thế rồi. Chắc lấn được nửa cây số trên một hành tinh lạ có giá tương đương một đoạn văn thêm vào kho kiến thức nhân loại. Ai rồi cũng chết, nhỉ? Ờ, thế thì ai đi giải thích hộ cho lũ hề này rằng ranh giới cũng không trường tồn vĩnh cửu, và cả mớ lý thuyết của họ cũng thế. Tất cả rồi sẽ mất. Họ thích chửi tôi vì chọn cứu mạng người thì tùy. Có vẻ chúng ta ai cũng có ưu tiên ngu xuẩn của riêng mình.

• • •

Tôi ngồi dựa lưng vào chiếc GWB mới hồi sinh để хоа dịu dòng suy nghĩ. Chẳng hiểu cái mái vòm này dùng cơ chế gì để tác động vào trường lực hấp dẫn quanh khu vực nhằm giúp tàu bè tránh nguy hiểm, nhưng nó cũng mang lại cho đầu tôi một lợi ích tương đương. Khi ở trên đây tôi bớt ưu tư hơn. Nó như một ly whiskey hai ngấn chảy rần rật trong huyết quản tôi, không ngưng nghỉ, không lắng xuống, không quá chén.

Bên ngoài khung cửa kính trước mặt tôi, một bãi phế liệu khổng lồ phản sáng sao trời. Máy quét duy nhất của NASA ghi lại được chuyện đã xảy ra là bộ não thiếu hoàn hảo và hoang mang của tôi, và nó đang bật lặp đi lặp lại cảnh va chạm. Tôi thấy một chớp sáng, các tảng tiểu hành tinh to ngang mặt trăng bục thành những đám mây bột sáng, các món hàng không bị sứt mẻ trong vụ va chạm văng tứ tung, phần đuôi con tàu ngoại cỡ tòi ra ngoài vùng siêu không gian và nổ tung thành vô số mảnh vụn, và một trận lốc tố của những khối vật chất văng nẩy và phi theo đà và thép đá chẻ vụn.

Tôi cố hết sức tả lại cho bên nghiên cứu. Tôi gật đầu trước những đoạn hình động họ vẽ ra. Tôi quan sát họ lê bước quanh trạm mình, kiểm tra mọi panô và ngóc ngách, lùng sục đám sâu bọ phá hoại tra tấn tôi với những tiếng lít chít và lích kích của chúng, ai cũng rao giảng cho tôi về quy tắc cách ly mới. Giữa lúc mảnh văng và đá va coong keng vào trạm như mưa đá, và những người khôn ngoan hơn tôi nhíu mày với những phép tính đang nhẩm trong sọ, tôi tự hỏi liệu họ có cho tôi về quê như quân đội không. Nhưng rồi họ thu xếp đồ nghề và phóng về Houston, bỏ tôi lại trong cái ổ chuột này.

Từ lúc họ đi đến giờ mảnh vụn vẫn không ngừng va vào trạm, mặc dù tiếng va đập đang dần trở nên thưa thớt. Bất chấp đã được đám nghiên cứu viên cam đoan, tôi chuyển sang ngủ trong tàu cứu sinh, phòng có chuyện gì. Tôi lấy bộ đồ đi vũ trụ từ chốt khí[1] – nó nồng nặc mùi mồ hôi và mùi kho bãi tích tụ suốt thập kỷ – và lúc nào cũng mặc vào người. Khi đi ngủ cái mũ bảo hộ để ngay trước mặt. Hai đêm đầu tiên, tôi đội cả mũ đi ngủ, đóng kính che mặt xuống, hơi thở làm đục cả tầm nhìn.

Phải công nhận, hình ảnh phản chiếu của tôi trong tấm kính che mặt không đẹp đẽ tí nào. Tôi nhìn như thằng chết trôi. Gầy rộc. Râu ria lởm chởm. Trông già hơn cái tuổi ba lăm. Nhưng tôi giữ cái ảnh phản chiếu, tức cái mũ bảo hộ ở sát bên mình, như hồi còn tại ngũ. Tôi đã từ lâu chấp nhận cái ảo tưởng rằng trên sọ có thêm một lớp mỏng dính nữa thì dễ sống sót hơn. Ở đây không có đá làm chỗ nấp, nên đành chấp nhận thế này thôi.

Nửa đêm hôm qua, một cục gì đó phóng vèo tới đục thủng một lỗ trong bộ bảng pin mặt trời ở tầng trên, khiến tôi bật dậy và hộc tốc đi đánh giá thiệt hại. Theo chân nó là một tràng tiếng lộp độp của một cơn mưa mảnh vụn va đập vào thành trạm – nhưng trạm không bị xuyên thủng. Kể từ đó tôi luôn để mắt theo dõi sát sao đồng hồ đo khí quyển. Nếu có gì bất ổn chuông báo động sẽ kêu lên, nhưng tôi không ngừng băn khoăn nhỡ chuông là thứ đầu tiên bị hỏng thì sao? Hoặc nằm trong tàu cứu sinh thì đêm đến sao nghe được chuông báo. Y như xuống lại chiến hào sống, chỉ có điều cuộc oanh tạc đã đổi khác. Nhưng vẫn còn đó cái cảm giác căng thẳng, lo âu từng giây một, còn đó cái cảm giác biết rõ rằng mình có thể đi đời trước khi kịp cất tiếng gọi mẹ. Chỉ cần một tiếng huýt gió, và sau đó sẽ là một đám mây đỏ. Hoặc như ở đây, một tiếng bùm lớn, tiếng chân không cân bằng tỉ suất xì xì, và rồi cái chết ngộp trong lạnh lẽo.

Để đầu đỡ nghĩ lung tung, tôi nghiên cứu những dữ liệu quét thu thập được sau vụ tai nạn. Tôi có rất nhiều đoạn quay các mảnh vụn dãn dần ra và văng bật lại, và tôi mò được một thước phim rất chất lượng quay hai con tàu hôi của đã gây ra vụ tai nạn. Kiếm được ký hiệu và ID vỏ tàu trước khi chúng kịp tót vào vùng nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Tôi tin chắc ký hiệu này là giả, nhưng nó khiến tôi cảm thấy có ích. Và sau khi phóng mức hiển thị trên máy quét lưu hình lên to hết cỡ, tôi có thể ngồi xem lũ tiểu nhân vận đồ đi vũ trụ lục lọi mớ hàng hóa, vơ vét tất cả những gì có thể, nhồi căng khoang chứa, sau đó bỏ đi.

Đâu đó ngoài kia, tám thuyền viên chết đang trôi lững thững – trừ khi hải quân đã tìm thấy thi thể họ hoặc một tay hiếu kì nào đó muốn mang một cái xác về làm kỷ niệm. Đâu đó ngoài kia, hàng loạt các kênh truyền hình đang chuyển sang đưa tin về cuộc chiến, về việc giờ nó đang lan dần đến khu bảy, và đâu sẽ là hành tinh thất thủ tiếp theo. Ngoại trừ ở đây, gần như đâu đâu người ta cũng coi tám người chết là báo cũ. Không còn gì để dòm ngó. Có lẽ phải cô đơn lắm mới quan tâm đến cái chết của một nhúm người lạ.

Và tôi nghĩ các khung cửa sổ xung quanh đã góp phần hình thành quan điểm của mình. Thêm tám người nữa có lẽ vừa chết vì trượt chân trong bồn tắm trong khoảng thời gian tôi nghĩ ra chuyện có người trượt chân trong bồn tắm. Nhưng vấn đề không chỉ là những cái chết tôi tận mắt chứng kiến; cái chính là mức hủy diệt. Âm thanh tiễn ta lên đường dường như tăng thêm sức nặng cho cái chết. Tôi so sánh những chiến hữu tử trận vì lựu đạn với những người chết do nhiễm MRSA[2] ở Cục Cựu binh. Ta có để tâm gì đến nhóm nhiễm khuẩn đâu. Họ chỉ là số liệu. Ra đi trong im lặng, anh trở thành con số. Ra đi đầy ngoạn mục, anh trở thành tên tuổi.

Tôi không muốn làm một cái tên. Tôi nghĩ về lúc mình suýt ra đi, nằm xuống cùng cả đội mình. Tôi nghĩ về những người muốn dựng phim cuộc cầm cự cam go đó. Các nhà xuất bản cùng đề nghị làm sách. Những người viết mướn tranh nhau xin viết về các bóng ma.

Ai cũng muốn tôi phải sống lại thời khắc ấy. Tôi chỉ muốn đi cho khuất mắt. Tôi xin được đóng ở nơi không ai tìm được mình, nơi sẽ không ai biết đến tên tôi.

Thế là họ tặng tôi một con số. 23. Cái trạm tín hiệu nhỏ bé của tôi.

Nhưng rồi chớp sáng vẫn đến tìm tôi, và một tiểu đội chết trôi trong không gian, và chiến tranh đang đến gần.

Tôi mất ngủ.

Và có khi thế lại hay.

❀ ❀ ❀

[1] Chốt khí: một phòng kín khí có hai cửa không mở đồng thời, nối giữa hai vùng có áp suất hoặc độ sạch không khí khác nhau. Chốt khí giúp người và vật đi từ vùng này sang vùng kia mà không gây ảnh hưởng đến áp suất hay chất lượng không khí của các vùng.

[2] MRSA: viết tắt của Methicillin Resistant Staphylococcus Aureus, tức Tụ cầu vàng Kháng Methicillin, một loại vi khuẩn có khả năng chống chịu một số kháng sinh nhất định.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.