Chuông báo réo lên từ buồng điều khiển, cách khu phòng chốt khí bốn cây cầu thang. Tôi thực sự đã chui vào trong hố. Giờ tôi phải trèo ra xem cái quái gì đang bíp bíp. Nếu đã mặc đồ đi vũ trụ vào người, leo thang cực vất. Tôi trèo bằng một tay, tay kia cầm mũ, dùng hông lết từng bậc một. Đây là thằng tôi khi mất trí. Đây là bao đầu tư của NASA vào cho tôi đổ ra sông bể.
Tôi bò qua khoang cấp điện và hỗ trợ sự sống, qua khu sinh hoạt cũ của mình, và trèo vào nơi tôi coi là văn phòng làm việc. Một cái máy quét đang nhấp nháy. Đang khật khừ lết ra đó thì QT bíp báo tin nhắn đến. Tôi quyết định kiểm tra cái đó trước vì biết đó là tin từ NASA, chắc yêu cầu tôi kiểm tra cái món đang khiến máy quét bíp liên hồi. Những mẩu tin nhắn ngắn ngủi từ Houston là thứ duy nhất bầu bạn với tôi. Được liên hệ cũng tốt. Khổ nỗi Houston toàn lũ bẩn tính và đốc công. Có lẽ tù bị giam biệt lập cũng cảm thấy như tôi: chúng ghét lính canh, nhưng thỉnh thoảng ăn đòn là ít nhất cũng được tiếp xúc với người khác rồi.
Tôi kiểm tra màn hình. Tôi là con khỉ xiếc của họ.
Nhận dc dấu hiệu sự sống[1]
Chuyện này nghe khó tin đến độ tôi đinh ninh trạm vẫn bị vấn đề từ lần tái khởi động trước. Chưa kịp quay sang kiểm tra máy quét thì tin nhắn thứ hai đã bíp đến:
Kiểm tra máy quét
“Đây đây,” tôi nói. “Khổ quá.”
Đôi lúc tôi ước cái máy QT không gửi tin tức thời đến thế.
Tôi buông tiếng thở dài, băng qua buồng điều khiển để kiểm tra máy quét sinh học. Trong số các thiết bị tối tân của trạm, đây là thứ nhạy nhất. Nếu địa y hay vi-rút tích tụ lại ngoài thành trạm, máy sẽ đánh chuông báo động, như nó hiện đang làm. Tôi xác nhận báo động để tắt nó đi, nhưng đèn báo vẫn sáng để báo tôi biết nó vẫn quét thấy tín hiệu.
Đám đầu to mắt cận tại Houston hay đùa là máy quét sinh học có thể nghe thấy tiếng một tế bào protein gấp lại trong vùng chân không ngoài vũ trụ cách đó năm trăm cây số. Với họ thế là buồn cười, vì âm thanh không truyền được trong vũ trụ. Ít nhất như tôi hiểu đoạn buồn cười của câu chuyện nằm ở đó. Phản ứng của NASA với những thứ họ sợ rất kì cục. Họ rất dị ứng các dạng thức sống chưa xác định, nhưng cứ mở mồm ra là lại nói về nó. Họ kiểu như mấy thằng choai choai bàn chuyện chăn gối ấy.
Tôi nghiên cứu đốm sáng, đầu thầm mong nó biến luôn đi. Tai nạn đã qua một tuần rồi. Có chăng khả năng một thuyền viên sống sót vụ tàu đâm nhờ chui vào khoang ngưng trệ sự sống? Hay một hòm nông sản vừa va vào đâu đó vỡ toang ra?
Tín hiệu chắc chắn phát ra từ đâu đó giữa đám mảnh vỡ ngoài kia. Và đó là chất rắn, đèn không sáng nhấp nháy như khi có những thứ kiểu nhiên liệu sinh học rò rỉ. Có thứ gì còn sống. Hoặc máy quét của trạm hỏng rồi. Tôi tin trường hợp hai khả dĩ hơn. Tôi quan sát đốm sáng và đếm đến mười, đợi cho cái thứ ngoài kia chết trong vùng chân không. Nếu nó mặc đồ bảo hộ hay được bảo vệ trong tàu, máy quét sẽ không bắt được tín hiệu. Mặc dù dạo này khu vực của tôi khá nhộn nhịp, máy quét mới chỉ kích hoạt có một lần, khi có người xả nước bồn cầu, và chỉ thoáng sau nó đã ngưng.
Biến đi, Tôi nói với đốm sáng. Tao không cần mày.
...
Tôi cắn móng tay. Tật này tôi đang bỏ dần.
...
Đang bỏ thôi.
...
Khốn kiếp thật. Thôi được rồi. Quay lại chỗ máy QT, tôi gõ: Tôi thấy rồi. 32K
Nói cách khác: Xác nhận. Và nó cách đây ba mươi hai cây số, làm ơn giả vờ như nó không tồn tại được không?
Kiểm tra đi
Nói cách khác, ra vùng chân không ngoài vũ trụ, xem thứ gì đang sống ngoài đó, rồi vào báo lại nếu không bị nó giết.
Mẹ cha NASA. Nếu đây là bộ phim kinh dị thì trong lúc thiên hạ đang ôm gối kêu nhân vật chính quay đầu chạy đi, hay chui xuống dưới gầm giường, hay gọi cảnh sát, hay vớ lấy khẩu súng, NASA sẽ là cái tay ngồi phía sau hô lên, “Đi xem cái gì gây tiếng động đi! Và cầm theo đèn pin nhé!”
❀ ❀ ❀
[1] Gốc là Picking up life sig, viết tắt của Picking up life signal, tức Nhận được dấu hiệu sự sống.