Cricket rên ư ử và lượn vòng tròn, và mới đầu tôi tưởng đó là do tôi đang tự đày đọa bản thân quá thể, nhưng trước nay tôi chưa từng thấy nó hành xử như thế này. Trong lúc nó quay bước tôi để ý rằng nó liên tục nhòm ra một khung cửa sổ. Có lẽ nó cảm nhận được tàu chở quân đang đi ngang qua, con tàu đầy nhóc những suy nghĩ tăm tối. Tôi lại bên cửa sổ và nhìn ra ngoài, vươn cổ ngó dọc chiều dài bãi tiểu hành tinh.
Mới đầu tôi không để ý thấy gì hết. Mãi đến khi các đợt nháy dài xuất hiện tôi mới nhận ra cái trạm kia đã chuyển từ nháy mắt sang co giật. Chấm-chấm-chấm. Gạch-gạch-gạch. Chấm-chấm-chấm.
SOS.
Cricket meo.
“Tao thấy rồi,” tôi bảo nó.
Tôi vớ cái đài HF và bật micro lên. “Trạm viên chưa rõ danh tính, đây là trạm tín hiệu số 23, mọi chuyện đằng đó ổn cả chứ? Hết.”
Tôi đợi. Máy QT vẫn hiển thị tin nhắn cuối cùng NASA gửi. Tôi gõ dòng: SOS vs hàng xóm[1], rồi bấm “Gửi,” “Xác nhận,” và “Bố tổ sư, tao chắc chắn.”
Tôi đợi.
Tôi quan sát ngọn sáng.
Hai hoặc ba giây gì đó trôi qua.
Tôi có thể đi đi lại lại tới lui chờ NASA bảo tôi đi kiểm tra, nhưng nếu có tín hiệu kêu cứu trong vũ trụ thì tôi không cần chờ lệnh. Tôi từng ở trong hải quân trước khi bị bắt xuống đánh bộ. Nếu có ai kêu cứu, tôi sẽ cứu. Không có hệ thống ấy thì chúng tôi chẳng ai tồn tại được ở ngoài này cả.
Thế nên lúc điều hành viên của tôi ở Houston đang đọc tin tôi nhắn và đặt ly cà phê xuống và quệt bộ ria lố bịch của mình, chân tôi đã chạm luôn xuống sàn khu sinh hoạt dưới đó một tầng, bàn tay bỏng rát sau màn trượt đầy tốc độ. Thang tiếp theo dẫn tôi xuống khoang hỗ trợ sự sống. Thế rồi thêm một thang nữa cho tôi xuống chỗ mấy cái đai neo tàu. Tôi vớ bộ đồ đi vũ trụ và mũ bảo hộ từ trên giá treo xuống và phóng vào trong tàu cứu sinh. Trước khi kịp bấm nút đóng cửa, Cricker nhảy từ khoang trên xuống, đáp lên ghi thoát sàn như con mèo ngoại cỡ.
“Ở yên đó,” tôi nói nó, giơ bàn tay lên. “Ở yên.”
Cricket nghiêng đầu và gào lên. Nó tiến một bước về phía tàu cứu sinh.
“Không,” tôi nói. “Mày ở yên.”
Bình thường tôi bảo sao nó làm vậy, hoặc tập trung nghĩ cái gì nó làm cái đấy. Nhưng dường như có một thứ nó luôn ưu tiên hơn mọi mệnh lệnh của tôi: phải bám theo tôi. Trước khi tôi kịp ra lệnh thêm câu nữa, hoặc khóa cửa nhốt nó bên trong, nó phóng vèo qua cánh cửa chốt khí để mở, quệt vào chân tôi, tí nữa thì hất tôi ngã nhào. Đến lúc khóa xong chốt khí và trèo vào khoang lái, nó đã ngồi sẵn ở ghế hoa tiêu, dõi mắt nhìn ra ngoài nóc buồng như biết bọn tôi sắp đi đâu, như thể nó làm trò này cả ngàn lần rồi. Hoặc như thể nó biết câu chuyện sẽ diễn tiến ra sao.
• • •
Tôi ngó ngoáy mặc bộ đồ đi vũ trụ vào trong khi tàu tự động đưa chúng tôi về phía trạm kia. Tiết lưu mở hết công suất, nhưng với cái đồ cà tàng này thì thế cũng không nhanh hơn mấy. Và giờ có lẽ là thời điểm thích hợp để thổ lộ rằng dạo này tôi không ổn lắm. Nhưng tôi nghĩ ý thức được mình đang hơi hóa điên là có tiến bộ rồi. Nguy hiểm nhất là lúc đang điên nhưng không nhận ra. Lúc bạn nghĩ mình tỉnh táo, và chất điên gần như tàng hình. Tôi đeo một hòn đá quanh cổ để tự nhắc bản thân về khuynh hướng rời bỏ thực tại của mình. Lâu lắm rồi không thấy Thạch hở câu nào. Tôi đang đỡ dần, thề đấy.
Tôi liếc sang Cricket, và một ý nghĩ khác xuất hiện. Có khi nào tôi đang cường điệu hóa vụ đọc tâm trí? Có khi nào tôi đang tự vẽ ra quy luật cho hành vi khi dụi người khi không dụi của nó? Và đây mới là phần hay nhất khi hơi điên điên: kể cả những việc hiển nhiên không chút điên rồ mình thực hiện cũng có thể bị đặt dấu hỏi. Cái trạm trước mặt tôi có thật không? Có đúng Scarlett đã lại bước vào cuộc đời tôi, nói rằng tôi có thể giúp cô ta giành chiến thắng trong cuộc chiến, và rồi lại biến mất không? Trên sàn đai neo tàu Charlie có một vệt ố bợt màu, và tôi chịu không biết đó là rỉ sắt hay máu cô ta.
Tôi vươn người vuốt ve con warthen. Ít nhất không phải nghi ngờ cái này. Đây là thật. Và cái trạm trước mặt trông cũng thật bỏ cha. Tôi để động cơ đẩy ở mức công suất tối đa để rút ngắn khoảng cách, và não tôi lại lần hồi về những năm tháng còn trong quân ngũ. Tôi có thể cảm thấy dấu tích tàu chở quân đi ngang, với bao chàng trai cô gái lên tiền tuyến để bị tống vào chiến hào. Tôi cảm thấy khẩu súng giật nảy mỗi lần nó tước một sinh mạng. Các cột đất bắn tung lên không trung và lấp kín lỗ mũi chúng tôi. Đâu đó cái mùi như kim loại của máu giữa cảnh lính tráng còn hi vọng gào la gọi quân y, lính tráng trong tuyệt vọng gào la gọi mẹ, và lính tráng còn ôm súng buộc bên đối phương phải kêu khóc.
Không hiểu Scarlett nói chúng tôi sẽ chấm dứt cuộc chiến là ý thế nào. Chiến tranh kiểu này sẽ không chấm dứt chừng nào chưa có một bên bị nghiền ra như cám. Riêng chuyện những người ngây thơ như Scarlett hãy còn tồn tại, còn sống được trong thiên hà này, chứng kiến mọi sự như ai, mà vẫn bấu víu được vào những ý niệm ngu xuẩn như vậy là tôi đã thấy điên lắm rồi. Ấy nhưng họ đông như kiến. Dân biểu tình. Dân chặn đường phản đối. Dân ủng hộ người ngoài hành tinh. Hội kháng lính theo tâm. Bọn phản bội.
Vâng, tôi là một kẻ phản bội. Nhưng tôi là loại khốn nạn nhất. Tôi không có niềm tin như những kẻ khác. Chỉ là mọi chuyện khiến tôi quá mệt mỏi rồi. Tôi không thể chiến đấu thêm được nữa. Ta chiến đấu vì tiểu đội cần ta. Khi người cuối cùng đứng bên ta ngã xuống, ta cũng sẽ quỵ gối luôn dù bom đạn chưa chạm đến người; đã có nỗi trầm uất nhảy vào làm hộ. Tôi đã thấy những người lính lực lưỡng nhất bị cái u tối trĩu nặng đánh gục. Tôi đã chứng kiến cảnh họ nằm co quắp dưới bùn và ngưng động đậy. Tôi nhớ mình từng hi vọng sẽ không bị như thế. Và giờ tôi ra nông nỗi này.
Bên thành trạm có đánh số. Khi còn cách vài cây tôi đọc thấy mấy con số vuông vắn: 1529.
Ôi tổ sư.
Nhìn vào cái số đó, tôi không nghĩ xem có bao nhiêu trạm ngoài không gian. Tôi không nhẩm tính trị giá tiền để thấy xót cho tiền thuế của dân. Tôi không nhìn vĩ mô và suy nghĩ vũ trụ này rộng lớn nhường nào và chúng ta đã mở mang bờ cõi ra được bao phần của nó. Không, tôi nghĩ xem có bao nhiêu người ngoài nơi đây, sống đơn độc như mình.
Quá nhiều.
Khi còn một cây nữa là đến trạm, hiện vẫn nhấp nháy tín hiệu SOS, tôi chẳng thấy nó lộ ra vấn đề gì hết. Không có không khí phun ra do bị vật gì đâm phải. Không có quầng cam trên cửa kính báo hiệu đang cháy bên trong. Thực tình mà nói, trạm này trông mới tinh đến phát thèm. Trên mình nó không một vệt cháy. Nguyên vẹn lớp sắt không tì vết, đẹp tuyệt vời được sơn trắng màu NASA với hàng hàng đinh tán và các bảng pin mặt trời hoạt động có lẽ ở hiệu suất 100% chứ không phải 48% như trạm tôi.
Nhưng trạm tôi không phát tín hiệu kêu cứu. Đến cách một trăm mét, tôi tóm cần điều khiển và quay tàu sang ngang trong khi nó vẫn còn quán tính đi tới trước. Với thứ đồ cà tàng này mà làm trò ấy thì hơi điên. Ai biết bộ đẩy bên có hãm được vận tốc hiện tại của tôi không. Tôi tăng hết công suất chúng nó lên và nhìn áng chừng khoảng cách đến đai neo tàu, chỉnh hướng tiếp cận cho đến khi tôi va bốp vào trạm và kết nối được với các nam châm với độ điêu luyện xứng đáng ăn ba trên thang mười điểm chấm trình bay.
Cricket gầm gừ như thể nó nghĩ tôi chấm thoáng tay quá.
Tháo đai an toàn, tôi ra khỏi ghế và mau chân tiến vào chốt khí. Trong lúc bấm mở cửa trong chốt khí trên tàu cứu sinh, tôi thấy ánh sáng đỏ nhấp nháy trên bảng điều khiển. Bên kia không xác nhận chất lượng không khí. Cái trạm này có vấn đề gì thật rồi. Kéo kính mũ bảo hộ xuống, tôi đóng chốt khí tàu cứu sinh lại đằng sau lưng, bắt Cricket ngồi yên, sau đó nạp mã đè lệnh tiêu chuẩn. Đợi cửa mở mà tôi có linh cảm không lành. Và dù đã đội mũ bảo hộ và còn bị ngăn bởi cánh cửa chốt khí dày, tôi có thể nghe thấy tiếng Cricket cuồng nộ tru lên ở bên kia – có lẽ giận tôi bỏ nó lại. Hoặc biết rằng tôi đi vào đây là ngu rồi.
❀ ❀ ❀
[1] Gốc là SOS w neighbor, viết tắt của SOS with neighbor, tức SOS với hàng xóm.