Trạm Tín Hiệu Số 23

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
• • •

❊ ❊ ❊

Tôi xuống ba lần cầu thang để ra khoang neo, cái băng treo buộc quanh tay khiến chuyến đi dãn dài hơn bình thường. Cứ dồn lực lên ức bàn chân trái là mắt cá tôi lại khóc thét, thế nên tôi cố lấn sâu gót vào vành cầu thang, đồng nghĩa với ống đồng cứ bị va bôm bốp. Tôi định tắt trọng lực đi một tí, nhưng nhìn cái mớ hổ lốn ngập tràn khắp nơi là hình ảnh chúng nó trôi nổi nhảy tưng tưng loạn xị ngậu hiện ngay ra trong đầu. Thôi cảm ơn.

Thực tình, việc có người đến đỗ tại trạm càng làm bật cái sự thê thảm của bãi chiến trường trong trạm. Ngoài đồ đạc tứ tung, tôi còn để mở nguyên các tấm panô dẫn vào khoang máy móc và dây nhợ treo tùm lum từ lúc hí hoáy sửa trạm. Bộ đồ đi vũ trụ của tôi nằm nhăn nhúm giữa khoang neo, và cửa tàu cứu sinh vẫn mở toang hoang. Có một giai đoạn, tôi lúc nào cũng mặc đồ đi ngoài vũ trụ và ngủ trong tàu cứu sinh, nhưng tôi thôi làm cả hai việc sau khi các mảnh xác tàu vỡ ngưng va vào trạm của tôi. Với cả, đằng nào tôi cũng quay lại tình trạng mất ngủ luôn rồi.

Tôi ra chốt khí đợi phi công neo xong tàu. Hít một hơi, tôi có linh cảm không lành rằng, mặc dù các máy lọc khí và hệ thống tạo mùi PineFresh của NASA đã cực lực hoạt động, toàn bộ khu trạm khăm khẳm mùi phòng ký túc đại học, trong giai đoạn giữa hè, sau một trận ném trứng trêu nhau, với hai cái xác chồn hôi chôn dưới một đống quần áo bẩn. Tôi hà hơi vào tay và ngửi. Khứu giác của tôi chết tịt từ mấy tháng trước rồi. Tốt cho tôi, nguy hiểm cho khách khứa.

Nhờ tiếng vỏ ngoài trạm bị va rầm một phát mà tôi biết tàu đã đến nơi và kỹ năng điều khiển của tay phi công này chỉ đáng ba trên mười. Nếu đúng là dân săn tiền thưởng kiếm cơm, chắc đây là dạng hung thần trên mặt đất. Kiểu thám tử mang súng bắn điện. Phỏng đoán này càng trở nên có cơ sở hơn sau khi tôi mở cửa chốt khí bên mình và gã mở bên gã. Tay thợ săn tiền thưởng bên kia cánh cửa trông như vừa bước ra từ những thước phim tài liệu về dân cưỡng chế tài sản hoặc chuyên điệu cổ tội phạm từ nơi ẩn náu trên mặt trăng xa xôi về tù.

Tóc gã cuốn thành lọn. Râu gã để dài, được búi lại bằng mấy mẩu chun cho chìa ra từng cục nhỏ. Răng gã cắn điếu xì gà chưa châm và ôm lấy mặt là một cặp kính râm phản quang. Gã thắt một cái khăn rằn quanh cổ, một khăn trên bắp tay, và mỗi gối lại một khăn nữa. Bộ đồ bay của gã mang một đống các túi căng phồng, và dù đứng rất im, hắn vẫn kêu xủng xoẻng. Tôi đoán gã này phải để mức trọng lực trên tàu là 0.7 mới không phát khùng lên vì mấy cái tiếng đó. Gã đeo súng ống kín người, và vắt ngang ngực là cả một dải băng mang đạn đồng cỡ lớn cùng lựu đạn thứ thiệt như khăn quàng của thí sinh cuộc thi hoa khôi bạo chúa. Từ sâu trong tàu gã vẳng lại tiếng gì na ná chó sủa.

“Mitch,” gã thợ săn nói, chìa tay ra nghe leng ca leng keng. “Mitch O’Shea.” Cái tay đeo băng khiến chúng tôi phải lúng túng làm quả bắt tay nửa mùa, bắt đầu bằng tôi chìa tay trái ra, quay ngược nó lại, và rồi chúng tôi ngoắc ngón vào nhau. Gã nhìn tôi từ đầu tới chân. “Anh bị sao đấy?”

Tôi nhận ra mình đang đánh độc cái quần đùi, chân đất, người đầy vệt bầm và băng dính. Tôi thấy kệ.

“Máy phát trọng lực hỏng,” tôi nói. “Bị dao động. Không kiểm soát được.”

Gã thợ săn hạ kính xuống và nheo mắt nhìn tôi, như thể gã có siêu năng lực phát hiện sự thực và đang tụ sức mạnh xoáy vào não tôi. Tôi liếc nhìn trần nhà, và gã đánh mắt theo tôi. Tôi nhìn xuống sàn, và gã cũng nhìn xuống. Chúng tôi lại nhìn lên. Rồi nhìn xuống.

“Đó,” tôi nói. “Kiểu như thế đó.”

“Thật hả?”

Tôi chỉ vào cái tay treo trong băng. “Anh nghe câu đẩy vai vào lại đúng khớp còn đau hơn lúc làm trật ra chưa?” Gã gật đầu.

“Nhảm nhí. Đẩy vào đã cực kỳ. Như bẻ khớp ngón tay vậy. Hôm nào thử xem.”

“Thôi nghe đủ tin rồi.” Gã liếc nhìn tay tôi, nhìn phục trang của tôi, và sau đó đẩy kính lên lại mắt. Thấy gã lôi một cái máy tính bảng từ túi sau bộ đồ bay, tôi hiểu vậy là xong vụ chào hỏi xã giao rồi. Đến lúc vào việc. Gã giơ cái máy tính lên cho tôi xem; trên màn hình hiển thị một lệnh truy nã. Tôi quan sát bức ảnh mờ nét với hình một người phụ nữ tóc cắt ngắn và mang vẻ mặt dữ dằn. Trên viết đủ kiểu chú thích về chính phủ muốn cô ta bị giải quyết ra sao và sẵn lòng trả bao nhiêu, nhưng tôi chỉ tập trung vào bức ảnh. Vẫn còn đang ngắm thì cái máy tính đã bị rụt lại.

“Anh gặp cô ta chưa?” O’Shea hỏi.

“Chưa,” tôi đáp.

“Chắc chứ?” gã hỏi.

“Chắc.”

O’Shea lại hạ kính và nheo mắt nhìn tôi. Tôi cố tình mở căng mắt ra, kéo hết rèm cửa lên, để gã thực sự nhìn được vào bên trong. Từ đâu đó trên tàu, có tiếng động vật rên ư ử. Nếu gã này thực sự đọc được suy nghĩ của tôi, gã chắc cũng sẽ rên nốt.

Cặp kính lại bay về chỗ cũ. Tôi cố nhịn không phá ra cười vào mặt gã. Tôi nhận ra rằng có khả năng toàn bộ đồ nghề của gã được mua từ mấy cửa hàng bán đồ thừa quân đội và gã chỉ là tay mơ. Khó đoán lắm. Trong quân đội, bọn lính mới dành rất nhiều thời gian hơ trang thiết bị trên các bãi lửa trong chiến hào cho ám màu khói và lấy bùn trát lên mũ để ngụy trang. Trong khi đó, lính già loay hoay bảo trì chiến cụ để sống được lâu hơn. Tôi đánh hơi, ngửi xem có thấy mùi dầu súng hay WD-60 không để áng chừng Mitch O’Shea là loại người nào. Thật không may, vì khu sinh hoạt của tôi nó như kia, thế nên khứu giác của tôi tắc nghẹt cả.

“Ok, bây giờ, tôi cần các dữ liệu quét tàu trong khoảng hai tuần đổ lại,” O’Shea nói. “Và cả các biên bản cuộc gọi rađiô nữa.”

“Ở đây không có nhiều chỗ trốn đâu,” tôi nói.

Mitch trừng mắt nhìn tôi. Ít nhất là, tôi đoán đằng sau cặp kính kia gã đang trừng mắt nhìn tôi.

“Có lý do để nghi ngờ ả tội phạm đã đi qua đây,” gã nói. “Tôi cũng sẽ phải tự quét dò dữ liệu, thăm dò một chút, nhưng cảnh báo anh là ả này rất nguy hiểm...”

Tôi hô, “Kính-coong,” chặn họng O’Shea.

Thực ra thì, bản ghi âm giọng tôi từ hai tuần trước hô câu đó. Có một tàu khác đang tiến vào hệ thống. Tôi ngước nhìn lên thang, rùng mình trước ba lần thang phải leo lại. Phải năm mươi sáu bậc mới lên đến khu điều khiển. Vâng, tôi đếm rồi.

“Có người vừa nói ‘Kính-coong’ à?” O’Shea hỏi. Gã chĩa điếu xì gà chưa châm lên trần.

Tôi hắng giọng. Trạm tín hiệu không phải là nơi cho nhiều người cùng chung sống. Cảm giác như đám kỹ thuật viên NASA vừa rời đi xong, tôi đã lại vớ phải gã này nhìn thấy tôi mặc đồ lót, nhòm ngó công việc của tôi, và hóng hớt chuyện tôi giải trí kiểu gì.

“Tôi ra buồng lái của anh nhìn chút được không?” tôi hỏi. “Xem ai ngoài đó phát. Tay chân dặt dẹo mà phải leo thang thì mệt lắm.” Tôi ra dấu về phía cái băng treo.

Mitch lưỡng lự. Thế rồi hắn lích kích đứng né ra một bên. “Đừng sờ vào gì đấy,” hắn nói. “Buồng lái hướng này.”

Ừ, ở hướng mũi tàu, suýt nữa thì tôi buông câu nói mỉa. Nhìn kiểu gã va vào đai neo tàu, tôi chắc cú mình có nhiều giờ bay hơn tay thợ săn này. Nhưng tôi không nói gì và theo gã ra khoang lái. Chúng tôi băng qua một khu giống như khu buồng giam – chấn song xám cắm từ trần đến sàn. Một buồng có nhốt con vật gì đó, đang sục vào toa-lét uống nước.

“Cricket, thôi ngay. Không. Hư, mày.”

Con vật rụt đầu ra và quay lại nhìn chủ nhân, nước nhỏ tong tỏng xuống từ hàm. Nhìn như một dạng chó lai báo. Có lẽ chẳng mang gen con nào cả. Chắc chắn là sinh vật ngoài hành tinh. Con thú lại tiếp tục xì xụp.

“Tội phạm cứng cựa hả?” tôi hỏi, ngoắc ngón cái về phía buồng giam.

O’Shea cười. “Cricket? Không, tôi nhốt nó lại để nó không vồ anh thôi.”

Tôi nhìn lại phía con vật. Nó to cỡ mấy con báo sư tử thỉnh thoảng vẫn xuất hiện tại các vùng rừng Tennessee hẻo lánh. Có thể nó nguy hiểm, nhưng tôi không nghĩ vậy. Trông có vẻ ù lì, vừa uống nước bồn cầu vừa ngây mặt nhìn chúng tôi.

Tôi theo chân O’Shea băng qua một hành lang hẹp. Có một cánh cửa để mở dẫn vào phòng ngủ với cái giường chăn chiếu chưa gấp; sâu hơn bên trong là mấy cái tủ mành che chứa súng được chốt bằng khóa cỡ đại. Chúng tôi len qua tất cả để ra đến một buồng lái chật hẹp, và O’Shea bật máy quét dữ liệu hệ thống của mình lên. Tôi nhòm ra ngoài khung cửa kính và thấy một con tàu tối màu khác đang lại gần trạm.

“Khốn kiếp,” O’Shea chửi.

“Anh quét được ID tàu kia à?” tôi hỏi. Tàu mang chút dáng dấp quân sự. Tôi không ưa những thứ mang chút dáng dấp quân sự. Tôi cực ghét những thứ trông rất ra dáng quân sự. Với tôi, vẻ ngoài và cảm giác yêu ghét là hai thứ mang tương quan trực tiếp.

“Cần gì ID,” gã nói, giọng trĩu vẻ ghê tởm. Gã với qua chỗ tôi lấy cái micro HF[1]. Vừa siết lấy nút truyền đi, gã vừa hướng ánh mắt như đầu đạn plasma ra phía ngoài khoang lái. “Mày biết gài máy theo dõi lên tàu săn tiền thưởng là phạm luật liên bang không, thằng khốn?”

Rađiô ì xèo một câu đáp lại: “Mày tưởng tao cần máy theo dõi để đánh hơi được vị trí của mày à, thằng lợn hiếp ôn con bẩn thỉu?

Tôi bắt đầu ngờ rằng hai tay này quen nhau. Tôi quan sát con tàu mới đến phụt ra những luồng khí để chỉnh hướng đối mặt với chúng tôi.

“Anh ta không định bắn chúng ta đấy chứ?” tôi hỏi.

“Không, Vlad là hạng yếu sinh lý.”

Tôi để ý thấy O’Shea bóp vào cái micro và nói câu này to hơn bình thường.

“Mà ‘lợn hiếp’ là sao?” tôi hỏi.

O’Shea nhún vai. “Thằng này đầu óc không sáng lạn lắm. Tránh xa nó ra.”

Tôi nhìn Mitch O’Shea từ đầu đến chân và nghĩ xem phải hạng người như thế nào mới bị gã này gọi là “không sáng lạn lắm.” Chắc chỉ có lỗ đen.

Đài HF lại lạch xạch phát tiếng. Tôi chỉnh lại âm tần, vì coi bộ Mitch không muốn thò tay vào. Hoặc có thể là không biết cách. “Trạm tín hiệu số 23, đây là Vladimir Bostokov đang làm nhiệm vụ cảnh sát tư pháp liên bang. Xin phép tiến hành thủ tục đỗ tàu. Tôi có trát. Hết.

“Kệ mẹ nó,” Mitch nói, giọng sặc mùi ghê tởm như một con nợ đầm đìa đang gần xịt một núi tiền và bắt gặp người khác cũng đang nhòm ngó núi tiền đó.

“Tôi phải cho thôi,” tôi nói, vẫy tay bảo Mitch đưa micro.

“Anh có thể viện dẫn mục 12b, tình tiết giảm nhẹ liên quan đến thương chấn trong quá trình làm nhiệm vụ.” Gã dứ đầu về phía cái băng treo của tôi, về mớ băng dính trên các vết trầy trụa sứt sẹo của tôi, và một loạt các mảng tím bầm.

Giờ anh mới chịu nói,” tôi đáp. Tôi chỉnh micro để đánh điện rađiô cho nhân vật Vlad này. “Đây là trạm viên trạm tín hiệu số 23. Đai neo tàu Bravo. Tôi đang bị cách ly, thế nên cứ ở nguyên trên tàu. Hết.”

Đã rõ,” Vlad nói.

Và bên cạnh tôi, Mitch O’Shea phát tiếng leng keng với vẻ khó chịu.

❀ ❀ ❀

[1] HF: viết tắt của high frequency, tức cao tần.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.