[Trích từ The British Spy.]
Đó là một ngày Chủ nhật, khi tôi đang trên đường đi qua hạt Orange, bang Virginia, mắt tôi chợt bắt gặp một đám ngựa được cột gần một ngôi nhà gỗ cũ kỹ, xiêu vẹo nằm trong khu rừng, không xa lề đường là mấy. Đã nhiều lần chứng kiến cảnh tượng tương tự trong những chuyến hành trình qua các tiểu bang đó, tôi dễ dàng nhận ra đây là một nơi tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
Lòng sùng kính lẽ ra đã phải giữ chân tôi lại để cùng hòa mình vào buổi lễ của giáo đoàn; nhưng tôi phải thú nhận rằng sự tò mò muốn được lắng nghe vị thuyết sĩ của chốn hoang vu ấy cũng là một trong những động lực không nhỏ. Khi bước vào, tôi vô cùng kinh ngạc trước diện mạo kỳ lạ như thể không thuộc về trần gian của ông. Ông là một cụ ông cao gầy; cái đầu đội chiếc mũ vải lanh trắng, đôi bàn tay nhăn nheo và giọng nói của ông đều đang run rẩy vì căn bệnh liệt rung; và chỉ vài khoảnh khắc ngắn ngủi cũng đủ cho tôi biết rằng ông hoàn toàn mù lòa.
Những cảm xúc đầu tiên chạm đến lồng ngực tôi là sự pha trộn giữa lòng thương cảm và nỗi kính trọng. Nhưng những cảm xúc ấy mới nhanh chóng làm sao khi thay đổi hoàn toàn! Đôi môi của Plato chưa bao giờ xứng đáng với một bầy ong tiên tri hơn đôi môi của con người thánh thiện này! Hôm đó là ngày làm lễ thánh thể, và đề tài của ông, dĩ nhiên, là cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Thế. Tôi đã nghe qua chủ đề ấy hàng ngàn lần; tôi từng tưởng rằng nó đã bị khai thác cạn kiệt từ lâu. Tôi nào có ngờ rằng giữa chốn rừng thiêng nước độc của nước Mỹ, tôi lại được gặp một con người mà tài hùng biện có thể thổi vào chủ đề này một vẻ đẹp bi cảm mới mẻ và siêu việt hơn bất cứ điều gì tôi từng chứng kiến trước đây.
Khi ông bước xuống bục giảng để phân phát những biểu tượng huyền bí, phong thái và cử chỉ của ông tỏa ra một vẻ trang nghiêm kỳ lạ, vượt lên trên cõi trần thế, khiến máu trong người tôi như đông lại và toàn thân run lẩy bẩy.
Rồi ông phác họa bức tranh về những đau khổ của Đấng Cứu Thế; phiên tòa xét xử ngài trước mặt Pilate; hành trình ngài bước lên núi Sọ; vụ đóng đinh câu rút; và cái chết của ngài. Tôi đã biết rõ toàn bộ câu chuyện; nhưng chưa bao giờ trước đó tôi lại được nghe những tình tiết được chọn lựa, sắp xếp và tô điểm đến thế! Tất cả đều vô cùng mới mẻ; và tôi ngỡ như mình chỉ vừa mới nghe câu chuyện ấy lần đầu tiên trong đời. Cách phát âm của ông từ tốn đến mức giọng nói run rẩy trên từng âm tiết; và mọi trái tim trong hội chúng đều run lên nhịp nhàng theo đó. Nhữngh từ ngữ đặc biệt của ông mang sức mạnh miêu tả lớn lao đến nỗi cảnh tượng nguyên thủy dường như đang hiện ra trước mắt chúng ta ngay trong khoảnh khắc ấy. Chúng ta nhìn thấy tận khuôn mặt của những kẻ theo đạo Do Thái; những nét biến dạng trợn trừng, đáng sợ của sự độc ác và giận dữ. Chúng ta nhìn thấy cú tát; tâm hồn tôi bừng lên ngọn lửa căm phẫn; và đôi bàn tay tôi tự động siết chặt lại một cách co giật.
Nhưng khi ông chạm đến sự nhẫn nại, lòng bao dung độ lượng của Đấng Cứu Thế; khi ông khắc họa sống động đôi mắt nhân từ ngấn lệ hướng lên thiên đàng; giọng nói thốt lên cùng Chúa lời cầu xin tha thứ dịu dàng và nhân hậu dành cho những kẻ thù của ngài, “Lạy Cha, xin hãy tha thứ cho họ, vì họ không biết việc mình làm,”—giọng của vị thuyết sĩ, vốn đã ngập ngừng từ nãy đến giờ, nay càng lúc càng nhỏ dần, cho đến khi tiếng nấc nghẹn ngào chặn đứng hoàn toàn lời nói, ông đưa chiếc khăn tay lên lau mắt, và bật khóc nức nở không kìm nén được. Hiệu ứng thật không thể tưởng tượng nổi. Cả ngôi nhà vang dội những tiếng rên rỉ, tiếng nức nở và tiếng kêu khóc hòa lẫn vào nhau của giáo đoàn.
Phải mất một lúc lâu sự hỗn độn ấy mới lắng xuống để cho phép ông tiếp tục. Quả thực, nếu phán đoán theo lăng kính thông thường nhưng sai lầm về sự yếu mềm của chính mình, tôi bắt đầu cảm thấy vô cùng lo lắng cho hoàn cảnh của vị thuyết sĩ. Bởi vì tôi không tài nào tưởng tượng nổi làm thế nào ông có thể đưa thính giả của mình hạ xuống từ đỉnh cao mà ông vừa đẩy họ lên, mà không làm tổn hại đến sự trang nghiêm và cao cả của đề tài, hay không khiến họ bị sốc bởi sự hụt hẫng đột ngột. Nhưng—không: cú hạ độ cao ấy đẹp đẽ và siêu việt chẳng kém gì sự vươn lên đầy hào hứng và nhanh chóng.
Câu đầu tiên mà ông dùng để phá vỡ sự im lặng đáng sợ ấy là một câu trích dẫn từ Rousseau: “Socrates chết như một triết gia, nhưng Jesus Christ, chết như một vị Thần!”
Tôi hoàn toàn bất lực trong việc mang lại cho bạn bất kỳ hình dung nào về hiệu ứng do câu nói ngắn gọn ấy tạo ra, trừ khi bạn có thể thấu hiểu trọn vẹn phong thái của con người ấy, cũng như thời điểm đặc biệt trong bài giảng. Chưa bao giờ tôi hiểu rõ đến thế ý nghĩa của Demosthenes khi ông đặt nặng tầm quan trọng vào nghệ thuật diễn ngâm. Bạn hãy hình dung trước mắt mình dáng vẻ đáng kính của vị thuyết sĩ; sự mù lòa của ông cứ mãi gợi nhắc trong tâm trí bạn hình ảnh của Homer, Ossian và Milton, đồng thời gắn liền màn trình diễn của ông với vẻ vĩ đại đầy u sầu của thiên tài họ; bạn hãy tưởng tượng rằng mình đang lắng nghe giọng đọc chậm rãi, trang nghiêm, tròn trịa và âm điệu run rẩy đầy xúc động của ông; bạn hãy nhớ lại đỉnh điểm của niềm đam mê và sự cuồng nhiệt mà giáo đoàn vừa được đẩy lên; và rồi khoảnh khắc tĩnh lặng đáng sợ, tựa như cái chết ngự trị khắp gian phòng; vị thuyết sĩ đưa chiếc khăn tay trắng rời khỏi khuôn mặt già nua (vẫn còn ướt đẫm dòng lệ vừa tuôn rơi), chậm rãi giơ bàn tay run lẩu bẩu đang cầm chiếc khăn ra, cất lời, “Socrates chết như một triết gia,”—rồi ngưng bặt, giơ bàn tay kia lên, áp chặt cả hai bàn tay đan vào nhau đầy nhiệt huyết lên ngực, ngước đôi “con ngươi vô định” lên thiên đàng, và trút toàn bộ tâm hồn vào giọng nói run rẩy—“nhưng Jesus Christ—như một vị Thần!” Nếu đó thực sự và đích thực là một thiên thần ánh sáng, hiệu ứng tạo ra có lẽ cũng khó lòng mà mang tính thần thánh hơn được nữa.