Dòng Thác Mùa Xuân

Lượt đọc: 211 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xxxix

❊ ❊ ❊

Vào năm 1840, nhà hát ở Wiesbaden quả là một nơi tồi tàn dẫu chỉ nhìn từ bên ngoài, còn đoàn kịch ở đó thì sự tầm thường giả tạo và đáng thương, sự phàm tục đầy vẻ cố tình của họ, chẳng nhỉnh hơn chút nào so với mức tiêu chuẩn bấy lâu nay vẫn được coi là bình thường ở mọi nhà hát Đức, thứ mức độ mà gần đây đã được thể hiện một cách hoàn hảo bởi đoàn kịch ở Carlsruhe dưới sự chỉ đạo “lừng lẫy” của ngài Devrient. Phía sau lô-ghe được thuê cho “Bà Quận công Serenity Madame von Polozov” (không biết bồi bàn đã xoay sở cách nào để lấy được nó, chắc hắn chẳng đời nào hối lộ nổi viên giám đốc thành phố!) là một căn phòng nhỏ, xung quanh kê toàn ghế bô-pha; trước khi bước vào lô-ghe, Maria Nikolaevna bảo Sanin kéo tấm bình phong che khuất lô-ghe với khán phòng lại.

Bà bảo: “Tôi không muốn bị nhìn thấy, bằng không họ sẽ bu lại quanh đây ngay lập tức cho mà xem.” Bà bắt anh ngồi xuống cạnh mình với tấm lưng quay về phía khán giả sao cho lô-ghe trông có vẻ như đang bỏ trống. Dàn nhạc tấu khúc dạo đầu vở Đám cưới Figaro. Tấm màn kéo lên, vở kịch bắt đầu.

Đó là một trong số rất nhiều những sản phẩm “cây nhà lá vườn” trong đó những tác giả uyên bác nhưng bất tài, bằng thứ ngôn ngữ chắt lọc nhưng chết cứng, cứ ra sức và thận trọng phát biểu vài ý tưởng “sâu sắc” hay “sống động đầy trăn trở”, khắc họa cái gọi là xung đột bi kịch, rồi tạo ra sự tẻ nhạt… một sự tẻ nhạt mang màu sắc Á châu, tựa như dịch tả Á châu. Maria Nikolaevna kiên nhẫn lắng nghe hết nửa màn kịch, nhưng khi chàng nhân tình trẻ (trong bộ áo khoác màu da quế có nhún vai và cổ áo nhung, chiếc áo ghi-lê sọc đính cúc xà cừ, chiếc quần xanh lá cây với đai bằng da bóng, và đôi găng tay da sơn dương trắng) phát hiện ra sự phản bội của người tình; khi chàng nhân tình ấy ấn cả hai nắm đấm vào ngực, chìa hai khuỷu tay ra theo một góc nhọn, và tru lên như một con chó, thì Maria Nikolaevna không thể chịu nổi nữa.

Bà phẫn nộ thốt lên: “Diễn viên Pháp tầm thường nhất ở thị trấn tỉnh lẻ nhỏ bé nhất còn diễn hay hơn và tự nhiên hơn cả bậc kỳ tài nổi tiếng nhất nước Đức,” rồi bà đứng dịch ra và ngồi xuống căn phòng nhỏ phía sau. Bà bảo Sanin, vừa vỗ vỗ lên chiếc ghế bô-pha cạnh mình: “Lại đây. Chúng ta nói chuyện đi.”

Sanin vâng lời.

Maria Nikolaevna liếc nhìn anh. “À, tôi thấy anh hiền lành như cục đất ấy nhỉ! Vợ anh sau này sẽ nhàn hạ lắm với cái tính của anh cho mà xem.” Rồi bà tiếp tục, dùng chiếc quạt chỉ về phía gã diễn viên đang tru tréo (hắn đang đóng vai một gia sư): “Gã hề đó làm tôi nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ của mình; tôi cũng từng yêu một người thầy giáo. Đó là mối tình đầu… không, là mối tình thứ hai của tôi. Lần đầu tiên tôi đem lòng yêu một thầy tu trẻ ở tu viện Don. Lúc đó tôi mười hai tuổi. Tôi chỉ được gặp thầy ấy vào các ngày Chủ nhật. Thầy ấy thường mặc chiếc áo tu chật bằng nhung, thoang thoảng mùi nước hoa oải hương, và khi lách qua đám đông tay cầm bình hương, thầy thường nói với mấy bà bằng tiếng Pháp rằng ‘Xin lỗi, thứ lỗi cho’ nhưng chẳng bao giờ ngước mắt lên, và thầy có hàng lông mi thế này này!” Maria Nikolaevna dùng móng tay ngón giữa đo lấy khoảng nửa chiều dài ngón út rồi giơ lên cho Sanin xem. “Thầy gia sư của tôi tên là—Monsieur Gaston! Phải nói với anh rằng thầy ấy là một người cực kỳ uyên bác và rất nghiêm khắc, người Thụy Sĩ,—và có một khuôn mặt đầy nghị quyết! Bộ râu quai nón đen như mun, sống mũi dọc dừa, và đôi môi trông như đúc bằng gang! Tôi rất sợ thầy ấy! Thầy là người đàn ông duy nhất trong đời tôi từng khiến tôi sợ hãi. Thầy làm gia sư cho em trai tôi, người đã qua đời… bị chết đuối. Một bà thầy bói ngườiigan cũng tiên đoán tôi sẽ chết một cách bạo lực, nhưng toàn là chuyện nhảm nhí. Tôi không tin vào điều đó đâu. Thử tưởng tượng Ippolit Sidoritch cầm một cây dao găm xem nào!”

Sanin nhận xét: “Người ta có thể chết vì một thứ khác ngoài dao găm chứ.”

“Toàn chuyện nhảm nhí! Anh có mê tín không? Tôi thì chẳng chút nào. Chuyện gì phải đến sẽ đến. Monsieur Gaston thường sống ở nhà chúng tôi, trong căn phòng ngay trên đầu tôi. Thỉnh thoảng tôi thức giấc vào ban đêm và nghe tiếng bước chân thầy ấy—thầy thường đi ngủ rất muộn—và trái tim tôi lại thổn thức vì sự kính ngưỡng, hay vì một cảm xúc nào đó khác. Bố tôi hầu như chẳng biết chữ, nhưng ông đã cho chúng tôi một nền giáo dục tuyệt vời. Anh biết không, tôi đã học tiếng Latinh đấy!”

“Em? Học tiếng Latinh á?”

“Vâng; tôi đã học đấy. Monsieur Gaston dạy tôi. Tôi đã đọc sử thi Æneid cùng thầy ấy. Nó khá khô khan, nhưng có những đoạn hay tuyệt. Anh có nhớ đoạn Dido và Æneas ở trong rừng không?…”

Sanin vội vã đáp: “Có, có, tôi nhớ chứ.” Từ lâu anh đã quên sạch tiếng Latinh của mình, và chỉ còn giữ lại những ấn tượng rất mơ hồ về bộ sử thi Æneid.

Maria Nikolaevna liếc nhìn anh, theo thói quen của nàng, hơi nghiêng đầu sang một bên và ngước mắt lên. “Tuy nhiên, anh đừng tưởng là tôi uyên bác lắm nhé. Lạy Chúa tôi! Không đâu; tôi chẳng uyên bác gì cả, và tôi cũng chẳng có tài cán gì sất. Thật sự là tôi hầu như không biết viết… thực đấy; tôi không biết đọc diễn cảm; cũng chẳng biết chơi piano, vẽ vời hay may vá—chẳng biết gì sất! Con người tôi là thế đấy—anh đã hiểu hết về tôi rồi đấy!”

Bà dang rộng hai tay. Bà nói: “Tôi kể cho anh nghe tất cả những điều này, thứ nhất là để không phải nghe mấy kẻ ngốc nghếch kia (bà chỉ tay về phía sân khấu nơi lúc đó vai diễn của gã diễn viên đang được thay thế bằng một nữ diễn viên, cũng đang tru tréo và cũng chìa hai khuỷu tay về phía trước) và thứ hai, bởi vì tôi đang nợ anh; hôm qua anh đã kể hết mọi chuyện về bản thân mình cho tôi nghe rồi còn gì.”

Sanin nhận xét: “Đó là do ngài muốn gặng hỏi tôi cơ mà.”

Maria Nikolaevna đột nhiên quay sang anh. “Và anh lại không muốn biết tôi là người thế nào ư? Dù sao thì tôi cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên,” bà tiếp tục, ngả người ra sau những chiếc gối bô-pha. “Một người đàn ông chuẩn bị kết hôn, lại vì tình yêu, và sau một cuộc đấu súng…. Anh còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện khác nữa chứ?”

Maria Nikolaevna chìm vào sự im lặng mộng mơ, và bắt đầu cắn cán quạt bằng hàm răng đều đặn, trắng muốt như sữa của mình.

Và Sanin lại cảm thấy cái men say ấy dâng lên đầu, thứ men say mà anh đã không thể rũ bỏ suốt hai ngày qua.

Cuộc trò chuyện giữa anh và Maria Nikolaevna diễn ra bằng giọng trầm thấp, gần như thì thầm, và điều này càng khiến anh thêm bứt rứt và xao động….

Đến bao giờ chuyện này mới chấm dứt đây?

Những kẻ yếu đuối chẳng bao giờ tự mình chấm dứt được điều gì—họ luôn ngồi chờ cái kết.

Ai đó trên sân khấu vừa hắt hơi; cái tiếng hắt hơi ấy đã được tác giả đưa vào vở kịch như một thứ “khoản giải trí” hoặc “yếu tố gây cười”; ngoài ra thì hoàn toàn chẳng còn yếu tố hài hước nào khác trong đó cả; và khán giả đã tận dụng triệt để nó; họ cười ồ lên.

Tràng cười này cũng làm Sanin chói tai.

Có những khoảnh khắc anh thực sự không biết mình đang phẫn nộ hay thích thú, đang chán ngấy hay thấy buồn cười. Ồ, giá mà Gemma được nhìn thấy anh lúc này!

Maria Nikolaevna đột ngột cất lời: “Thật là kỳ lạ. Một người thông báo cho người ta với một giọng bình tĩnh rằng ‘Tôi sắp lấy vợ’; nhưng chẳng ai lại bình tĩnh nói với người ta rằng ‘Tôi sắp nhảy xuống nước tự tử’ cả. Vậy mà chúng có gì khác nhau chứ? Thật sự là kỳ lạ.”

Sự bực bội đã lấn át Sanin. “Có sự khác biệt lớn chứ, thưa Maria Nikolaevna! Chẳng có gì đáng sợ khi nhảy xuống nước nếu người ta biết bơi; và vả lại… xét cho cùng về sự kỳ quặc của những cuộc hôn nhân…”

Anh chợt khựng lại và cắn vào lưỡi mình.

Maria Nikolaevna lấy quạt đập vào lòng bàn tay mở rộng của mình.

“Nói tiếp đi, Dimitri Pavlovitch, nói tiếp đi—tôi biết anh định nói gì rồi. ‘Nếu xét cho cùng, thưa phu nhân kính mến, Maria Nikolaevna Polozov,’ anh định nói thế phải không, ‘thì chẳng thể tưởng tượng nổi điều gì kỳ quặc hơn cuộc hôn nhân của ngài đâu…. Tôi biết rõ chồng ngài từ khi ông ấy còn là một đứa trẻ!’ Anh định nói thế đấy, người biết bơi ạ!”

Sanin lắp bắp định phân trần: “Xin lỗi ngài…”

Maria Nikolaevna khăng khăng nói: “Chẳng lẽ không đúng thế sao? Chẳng lẽ không phải sự thật sao?”

“Nào, hãy nhìn thẳng vào mặt tôi và bảo rằng tôi đã sai đi!”

Sanin không biết phải đặt đôi mắt vào đâu. Cuối cùng anh đành nói: “Vâng, nếu ngài thích thế; đó là sự thật, nếu ngài cứ khăng khăng đòi như vậy.”

Maria Nikolaevna lắc đầu. “Quả đúng là thế, quả đúng là thế. Này, thế anh đã tự hỏi chưa, một người biết bơi như anh, điều gì có thể là nguyên nhân của một … bước đi kỳ lạ nhường ấy từ phía một người phụ nữ không phải là nghèo… và không ngu ngốc… lại không đến nỗi xấu xí? Có lẽ tất cả những điều đó chẳng làm anh bận tâm, nhưng dẫu sao mặc lòng. Tôi sẽ nói cho anh biết nguyên nhân—không phải lúc này đâu, mà ngay khi màn giải trí giữa giờ kết thúc. Tôi cứ thấp hỏm lo sợ có ai đó bước vào….”

Maria Nikolaevna vừa dứt lời thì cánh cửa ngoài quả thực hé mở, và một cái đầu thò vào trong lô-ghe—đỏ lựng, bóng nhẫy, đẫm mồ hôi, hãy còn trẻ nhưng móm mém; với mái tóc mượt dài, chiếc mũi khoằm, đôi tai to tướng như tai dơi, mang cặp kính gọng vàng che đôi mắt tò mò đờ đẫn, và một tròng kính kẹp mắt đeo chồng lên phía trên cặp kính. Cái đầu đảo mắt nhìn quanh, trông thấy Maria Nikolaevna, nhoẻn miệng cười khó coi, gật đầu…. Một chiếc cổ gầy guộc vươn theo vào trong….

Maria Nikolaevna vẫy chiếc khăn tay về phía đó. “Tôi không có nhà! Ich bin nicht zu Hause, Herr P…! Ich bin nicht zu Hause…. Xa-xà! xa-xà-xà!”

Cái đầu bối rối, cười gượng gạo, cất giọng như thể đang nức nở, bắt chước Liszt—người mà hắn từng sụp xuống thành kính tôn thờ: “Sehr gut, sehr gut!” rồi biến mất.

Sanin hỏi: “Thứ vật thể gì thế kia?”

“À, một nhà phê bình ở Wiesbaden. Một kẻ làm văn chương hoặc một tên hầu phòng, tùy anh muốn gọi thế nào thì gọi. Hắn nhận tiền lương của một nhà đầu tư địa phương ở đây, thế nên buộc phải ca ngợi mọi thứ và tỏ ra phát cuồng vì bất cứ ai, dẫu cho bản thân hắn thì ngập ngụa trong thứ nọc độc gớm ghiếc nhất mà hắn chẳng dám thốt ra. Tôi e rằng hắn là một kẻ chuyên tọc mạch khủng khiếp; hắn sẽ chạy đi bẩm báo cho tất cả mọi người biết là tôi đang có mặt ở nhà hát ngay lập tức thôi. Chà, điều đó thì có hề gì chứ?”

Dàn nhạc tấu xong khúc waltz, tấm màn lại trôi lên…. Những điệu bộ nhăn nhở và sụt sùi lại bắt đầu trên sân khấu.

Maria Nikolaevna ngả người xuống ghế bô-pha, cất lời: “Nào. Vì anh đang ở đây và buộc phải ngồi cạnh tôi, thay vì tận hưởng bầu không khí bên người hôn thê của mình—đừng có quay mặt đi và nổi giận thế—tôi hiểu anh, và đã hứa sẽ để anh đi đến tận cùng thế giới rồi cơ mà—nhưng giờ thì hãy nghe lời thú tội của tôi đi. Anh có muốn biết điều gì làm tôi thích thú hơn tất cả mọi thứ trên đời không?”

Sanin ướm hỏi: “Sự tự do.”

Maria Nikolaevna đặt tay lên tay anh.

Bà nói, và trong giọng nói ấy vảng vất một nốt trầm đặc biệt, một vẻ chân thành và nghiêm túc không lẫn vào đâu được: “Vâng, Dimitri Pavlovitch, sự tự do, trên hết thảy và trước hết mọi thứ. Và anh đừng tưởng là tôi đang khoác lác về điều này—chẳng có gì đáng khen ngợi trong đó cả; chỉ là nó vốn dĩ như thế và sẽ luôn là như thế đối với tôi cho đến ngày tôi nhắm mắt xuôi tay. Tôi đoán chắc là do hồi nhỏ tôi đã phải chứng kiến quá nhiều cảnh nô lệ và chịu đựng đủ điều cay đắng từ nó. Vâng, và cả Monsieur Gaston, thầy gia sư của tôi, cũng đã khai sáng cho tôi nữa. Giờ thì có lẽ anh đã hiểu tại sao tôi lại kết hôn với Ippolit Sidoritch: ở bên ông ấy, tôi được tự do, hoàn toàn tự do như không khí, như gió trời…. Và tôi đã biết điều đó từ trước khi kết hôn; tôi thừa biết rằng ở bên ông ấy tôi sẽ được tự do như một tên Cô-dắc!”

Maria Nikolaevna ngừng lời và vứt chiếc quạt sang một bên.

“Tôi sẽ nói thêm với anh điều này nữa; tôi không hề ghét bỏ việc ngẫm nghĩ… nó khá thú vị, và quả thật bộ óc được ban cho chúng ta là để làm việc đó; nhưng về hậu quả của những việc mình làm thì tôi chẳng bao giờ thèm nghĩ tới, và nếu có phải đau khổ thì tôi cũng chẳng mảy may thương xót bản thân—dù chỉ một chút; chẳng đáng đâu. Tôi có một câu cửa miệng ưa thích thế này: Cela ne tire pas à conséquence,—tôi chẳng biết phải diễn đạt câu đó bằng tiếng Nga thế nào cho phải. Mà xét cho cùng, thế nào là tire pas à conséquence chứ? Người ta sẽ chẳng đời nào bắt tôi phải tường trình về bản thân mình ở chốn này đâu, anh thấy đấy—ở thế gian này; còn ở trên đó (bà đưa ngón tay chỉ lên phía trên), chà, ở trên đó—họ muốn xoay sở ra sao thì tùy. Khi họ đem tôi ra xét xử ở trên đó, tôi sẽ không còn là tôi nữa! Anh có đang nghe tôi nói không? Anh có thấy chán không?”

Sanin đang ngồi gập người. Anh ngẩng đầu lên. “Tôi không hề chán chút nào đâu, thưa Maria Nikolaevna, và tôi đang lắng nghe ngài với sự tò mò đây. Chỉ là tôi… thú thực… tôi tự hỏi tại sao ngài lại kể cho tôi nghe tất cả những điều này?”

Maria Nikolaevna dịch người ra xa một chút trên chiếc bô-pha.

“Anh tự hỏi ư?… Anh chậm hiểu thế cơ à? Hay là quá mức khiêm tốn đấy?”

Sanin ngẩng cao đầu hơn lúc nãy.

Maria Nikolaevna tiếp tục bằng một giọng bình thản, hoàn toàn không tương xứng chút nào với biểu cảm trên khuôn mặt nàng: “Tôi kể cho anh tất cả những điều này là vì tôi rất mến anh; vâng, đừng ngạc nhiên, tôi không đùa đâu; bởi vì kể từ khi gặp anh, tôi sẽ cảm thấy thật ray rứt nếu anh lưu giữ lại trong trí nhớ một ấn tượng không mấy tốt đẹp về tôi… thậm chí chẳng cần phải tốt đẹp, điều đó tôi không bận tâm, mà là một ấn tượng không đúng sự thật. Đó là lý do vì sao tôi bắt anh phải đến đây, và ở lại một mình với anh rồi trò chuyện với anh một cách cởi mở thế này…. Vâng, vâng, cởi mở đấy. Tôi không hề nói dối đâu. Và anh hãy lưu ý điều này, Dimitri Pavlovitch, tôi thừa biết là anh đang yêu một người phụ nữ khác, rằng anh sắp sửa kết hôn với cô ấy…. Hãy công nhận lòng vô tư của tôi đi! Mặc dù quả thật đây là một cơ hội tốt để anh nhân tiện thốt lên câu: Cela ne tire pas à conséquence!”

Bà cười vang, nhưng nụ cười chợt đứt quãng, và bà ngồi im bất động, tựa như chính những lời nói của mình vừa đánh gục nàng, và trong đôi mắt vốn dĩ rất vui tươi và táo tợn ấy bỗng lóe lên thứ ánh sáng tựa như sự rụt rè, thậm chí như nỗi buồn.

Sanin thầm nghĩ trong lúc đó: “Con rắn độc! à, nàng đúng là một con rắn độc!; nhưng sao mà đáng yêu thế chứ!”

Maria Nikolaevna bỗng cất giọng: “Đưa ống nhòm cho tôi nào. Tôi muốn xem liệu cô đào chính này có thực sự xấu xí đến thế không. Lạy Chúa tôi, người ta lại có thể tưởng rằng chính phủ đã cử cô ta vào làm việc vì lợi ích của đạo đức công cộng, để mấy chàng thanh niên khỏi phải mê muội đến mức mất hồn mất vía vì cô ta chứ.”

Sanin đưa ống nhòm cho bà, và khi bà đón lấy nó từ tay anh, một cách chớp nhoáng nhưng hầu như không phát ra tiếng động, nàng chộp lấy bàn tay anh bằng cả hai tay mình.

Nàng mỉm cười thì thầm: “Xin anh đừng ra vẻ nghiêm túc thế chứ. Anh có biết không, chẳng ai có thể trói buộc được tôi cả, nhưng bù lại anh thấy đấy, tôi cũng chẳng xiềng xích ai bao giờ. Tôi yêu sự tự do, và tôi không thừa nhận những thứ bổn phận—không chỉ cho riêng mình. Giờ thì dịch qua một bên một chút, và chúng ta hãy cùng thưởng thức vở kịch nào.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.