Sau khi bước vào mùa khô, đã rất lâu rồi không có mưa. Đa số các đầm lầy trên thảo nguyên đã khô cạn, cỏ vốn có thể mọc cao đến nửa người vào mùa mưa nay cũng trở nên thấp lè tè và úa vàng.
Đội nắng gắt trên đầu, lần theo dấu vết con mồi để lại, Cao Dương đang nỗ lực truy đuổi một con linh dương có thân hình to lớn.
Phải, Cao Dương không chết. Vận may của cậu cực kỳ tốt, với thể chất của một người dân thành thị mà lại có thể sống sót suốt ba năm tại nơi giao thoa giữa thảo nguyên và rừng rậm nhiệt đới châu Phi – nơi chẳng biết chính xác là chốn nào – cách xa văn minh hiện đại, không phải ai cũng có vận may tốt như vậy.
Đây là mùa khô thứ ba Cao Dương trải qua tại châu Phi, nói cách khác, cậu đã lưu lạc đến châu Phi được ba năm rồi.
Ở nơi này, việc có thể sống sót hay không không liên quan đến kỹ năng nắm giữ, cũng chẳng liên quan đến việc trong tay có vật dụng gì, đơn thuần chỉ là nhìn vào vận may, hay nói đúng hơn là xem mệnh có đủ cứng hay không. Ít nhất đối với Cao Dương thì là như vậy.
Phải thừa nhận rằng mệnh của Cao Dương thực sự rất cứng. Bị rắn độc cắn, tuy cậu đã sử dụng tất cả các biện pháp có thể, nhưng nếu không có người cứu thì vẫn là một con đường chết. Thế nhưng, Cao Dương rất may mắn khi gặp được một bộ lạc nguyên thủy đang trong quá trình di cư, và rồi, cậu sống sót.
Về sau Cao Dương mới biết, nếu có người trong bộ lạc cứu cậu bị rắn độc cắn, họ sẽ dùng phương pháp truyền thống để chữa trị. Cao Dương rất may mắn khi được họ chữa khỏi, chỉ là trên rìa lòng bàn tay trái để lại một vết sẹo lớn.
Phương pháp của bộ lạc nguyên thủy có thể là gì chứ? Ngoài việc dùng vài loại thảo dược không tên ra, chính là dựa vào sự bảo hộ của thần linh mà họ tôn thờ. Nghe nói dưới sự phù hộ của thần linh, nọc rắn trên người Cao Dương không gây ra mối đe dọa gì, ngược lại chính những nhát dao Cao Dương tự rạch trên người mới là thứ suýt chút nữa lấy mạng cậu.
Không còn cách nào khác, khi đó Cao Dương chỉ sợ nọc độc không chảy ra nhanh, nhất thời kích động nên ra tay hơi mạnh. Mà có thể sống sót trong tình hình lúc đó, Cao Dương cảm thấy vô cùng may mắn, vì theo như cậu biết sau này, theo cách cứu người trong bộ lạc, mười người có lẽ chỉ cứu sống được một.
Tuy nhiên, thời điểm nguy hiểm nhất của Cao Dương không phải là lúc bị rắn độc cắn, mà là khoảng hơn một tháng sau khi được cứu, lúc cậu vừa bắt đầu có thể xuống đất đi lại, thì lại mắc bệnh sốt rét. Cậu đã uống hết sạch số thuốc chống sốt rét mang theo nhưng không chút hiệu quả, lên cơn sốt rét liên tục hơn mười ngày, cả người gầy rộc đi không ra hình thù gì, nhưng kỳ tích thay lại không chết.
Suốt ba năm nay, Cao Dương mắc sốt rét tới bốn lần, gần như mắc sạch các loại sốt rét có thể mắc, nhưng cậu vẫn luôn chống chọi được. Không biết là do mắc xong thì sinh ra kháng thể hay sao, mà năm nay Cao Dương chưa từng tái phát sốt rét, dường như cậu đã thoát khỏi cơn ác mộng này.
Dĩ nhiên, nguyên nhân chủ yếu khiến Cao Dương sống sót vẫn là vì đã gặp được bộ lạc nguyên thủy cứu mình. Nếu không có những người tốt bụng đó cứu mạng, Cao Dương đã chết từ bao giờ không biết nữa.
Bộ lạc nguyên thủy cứu Cao Dương rất nhỏ, cũng vô cùng nguyên thủy, tổng cộng chỉ có mười bảy người, thực chất là một gia đình lớn, sống cuộc đời di cư khắp nơi, dựa vào hái lượm và săn bắn để sinh tồn.
Cao Dương không biết bộ lạc này thuộc chủng tộc nào, chỉ biết tên bộ lạc gọi là A Khố Lý. Cao Dương từng hỏi tù trưởng, cũng chính là người lớn tuổi nhất trong bộ lạc, đáng tiếc là tù trưởng cũng không biết họ thuộc tộc người nào.
Bộ lạc A Khố Lý thậm chí còn không có khái niệm chủng tộc, chỉ khi gặp được bộ lạc giống mình, họ mới có cơ hội kết hôn.
Với trạng thái sống vô cùng nguyên thủy, tỉ lệ tử vong của bộ lạc A Khố Lý có thể tưởng tượng được. Trong ba năm Cao Dương ở lại bộ lạc, có tổng cộng bốn đứa trẻ chào đời, cũng có ba người chết đi. Người lớn nhất trong số đó chừng năm sáu tuổi, còn người nhỏ nhất vừa chào đời được hai ngày. Người lớn tuổi nhất trong toàn bộ lạc, chính là tù trưởng, hình như cũng chỉ tầm ngoài bốn mươi tuổi.
Không phải Cao Dương chưa từng hỏi tuổi tù trưởng, mà là chính tù trưởng cũng không biết mình bao nhiêu tuổi, ông chỉ nhớ dường như đã sống qua bốn mươi mấy mùa mưa rồi.
Khả năng học ngoại ngữ của Cao Dương khá tốt, mà ngôn ngữ của bộ lạc A Khố Lý lại rất đơn giản, vốn từ vựng vô cùng ít ỏi. Chỉ mất ba bốn tháng, Cao Dương đã giao tiếp không chút trở ngại, chỉ có điều thông tin Cao Dương có thể lấy được từ miệng những người nguyên thủy này quá ít ỏi.
Cho đến nay, Cao Dương vẫn không biết mình đang ở quốc gia nào, đang ở nơi đâu. Cậu chỉ biết mình đang ở nơi giao thoa giữa thảo nguyên nhiệt đới và rừng rậm nhiệt đới, đi về hướng bắc hai ba ngày là thảo nguyên cây bụi, đi về hướng nam hai ba ngày là rừng rậm nhiệt đới. Còn Cao Dương lại không am hiểu địa hình châu Phi, cậu hoàn toàn không thể phân tích ra mình đang ở đâu từ những đặc điểm địa mạo này.
Đã ba năm rồi, Cao Dương chưa giây phút nào không nghĩ đến việc về nhà. Thế nhưng suốt ba năm nay, Cao Dương chưa từng gặp bất kỳ dấu vết nào của văn minh.
Sở dĩ tách xa thế giới văn minh là vì bộ lạc A Khố Lý vốn dĩ di cư để tránh chiến loạn, hơn nữa lại di cư về phía xa rời văn minh.
Trước đây bộ lạc A Khố Lý cũng từng có người từ thế giới văn minh đến thăm, còn mang theo một vài thứ hiện đại tặng cho họ. Nhưng sau đó, chiến tranh bắt đầu, những kẻ cầm súng giết bất kỳ ai chúng nhìn thấy, thậm chí chỉ vì để giải trí. Sau khi ba người của bộ lạc A Khố Lý bị giết khi ra ngoài săn bắn, bộ lạc A Khố Lý bắt đầu di cư liên tục.
Mấy năm nay, bộ lạc A Khố Lý và Cao Dương đều không gặp thêm người nào khác, nhưng Cao Dương cũng vì thế mà cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài. Cậu từng đi thám hiểm về bốn hướng, xa nhất là đi ra ngoài bảy tám ngày, nhưng cuối cùng vẫn không thu hoạch được gì. Giờ đây, việc Cao Dương muốn tìm lại con sông mình đã đến lúc ban đầu cũng là điều không thể.
Trong ba năm ở bộ lạc A Khố Lý, ngày nào Cao Dương cũng cùng người trong bộ lạc ra ngoài săn bắn. Cả bộ lạc, tính cả Cao Dương, tổng cộng chỉ có năm người có khả năng săn bắn, những phụ nữ và trẻ em còn lại sẽ thu thập tất cả các loại thực vật và côn trùng có thể ăn được. Nếu không thu hoạch được gì, cả bộ lạc sẽ phải chịu đói.
Nhờ vào cuộc giao lưu với thế giới văn minh từ không biết bao nhiêu năm trước, bộ lạc A Khố Lý có đồ sắt. Cho đến nay, bộ lạc A Khố Lý vẫn còn sáu con dao ngắn và bốn cây giáo dài, tuy được chế tác rất thô sơ nhưng lại rất dễ dùng. Theo lời tù trưởng, đây đều là những món quà do một vài kẻ kỳ lạ có làn da trắng bệch tặng cho họ.
Nhưng khi bộ lạc A Khố Lý săn bắn, chủ yếu vẫn dùng cung tên, dao và giáo dài chỉ dùng để kết liễu con mồi. Thậm chí cơ hội dùng đến đòn kết liễu cũng rất ít, vì đa số thời gian, chưa cần dùng đến giáo là con mồi đã chết rồi.
Hiện tại, Cao Dương đang cùng bốn người còn lại trong bộ lạc truy đuổi một con linh dương trúng tên độc.
Sau khi vào mùa khô, đa số các đầm lầy vốn lan tràn trên thảo nguyên đều đã khô cạn, chỉ còn lại vài đầm lầy lớn là còn nước. Những đầm lầy lớn này trở thành nguồn nước cho tất cả động vật gần đó, việc săn bắn trở nên đơn giản hơn nhiều so với mùa mưa, chỉ cần mạo hiểm chực chờ bên bờ đầm lầy dưới sự đe dọa của thú dữ là rất dễ dàng bắn trúng con mồi bằng tên độc.
Con linh dương lớn mà Cao Dương và mọi người đang truy đuổi chính là săn được bên cạnh đầm lầy.
Sức mạnh của loại cung tên Cao Dương và mọi người sử dụng có thể bỏ qua, tác dụng chính vẫn là loại thuốc độc bôi trên đầu mũi tên.
Thuốc độc trên tên được chiết xuất từ ấu trùng của một loại bọ cánh cứng. Chất độc này tuy gây chết người nhưng thời gian phát tác hơi lâu. Nếu là săn thú có hình thể hơi lớn một chút, ít nhất cần hai ba tiếng mới có thể bỏ mạng. Mà con linh dương lần này họ bắn trúng có thân hình quá lớn, khoảng hơn trăm ký, tuy trúng hai mũi tên độc nhưng ít nhất cần bốn năm tiếng mới có thể giết chết con linh dương.
Sau khi trúng tên, linh dương sẽ điên cuồng bỏ chạy, tốc độ của con người không thể nào đuổi kịp, mà thuốc độc lại không thể giết chết linh dương trong thời gian ngắn, vì thế phương pháp săn bắn của bộ lạc A Khố Lý chính là sau khi bắn trúng con mồi, cứ đi theo dấu vết của nó mà đuổi theo.
Khoảng cách truy dấu con mồi có dài có ngắn, đuổi theo vài chục cây số là chuyện rất bình thường. Tóm lại, cho đến khi con mồi chết và bị họ tìm thấy, phải truy đuổi đến cùng. Do đó, kỹ năng săn bắn của bộ lạc A Khố Lý tuy không tính là quá cao minh, nhưng bản lĩnh phân biệt dấu vết, truy kích và chạy bền lại cực kỳ cao cường.
Người của bộ lạc A Khố Lý có thể từ những dấu chân lộn xộn phân biệt được đâu là dấu vết con mồi của họ để lại, cũng có thể từ vài cọng cỏ gãy mà tìm ra chính xác hướng chạy trốn của con mồi, thậm chí còn có thể thông qua những thông tin lộ ra từ dấu chân hoặc vết tích để biết được con mồi còn bao lâu nữa sẽ gục ngã.
Ở cùng nhau gần ba năm, Cao Dương cũng đã nắm vững tuyệt kỹ nhận biết dấu vết này, chỉ có điều khi đi săn cùng tù trưởng thì không đến lượt cậu thể hiện.
Từ sáng sớm bắn trúng linh dương rồi bắt đầu truy đuổi, mãi đến chính ngọ, năm người bọn họ đều chạy chậm suốt dọc đường để theo dõi con mồi. Tuy tốc độ không nhanh nhưng Cao Dương ước chừng ít nhất đã chạy ra ba bốn mươi cây số, cậu đã gần đến giới hạn rồi, nhưng bốn người của bộ lạc A Khố Lý lại chẳng thấy cảm giác gì.
Nếu là trước kia, đừng nói đến chuyện bắt Cao Dương chạy chậm suốt ba bốn mươi cây số, dù bắt cậu đi bộ ba cây số thôi cũng đã đủ mệt bở hơi tai rồi. Thế nhưng tiềm lực con người ta có thể kích phát dưới áp lực sinh tồn là rất kinh người, ít nhất hiện tại Cao Dương chạy một mạch ba bốn mươi cây số cũng không hề áp lực.
Cuối cùng, tù trưởng chạy ở phía trước nhất dừng lại, sau khi nhìn ngắm mặt đất vài cái, ông đưa tay chỉ một hướng.
“Nó không xong rồi, ở đằng kia, chúng ta đi tìm nó thôi.”
Nghe thấy lời tù trưởng, Cao Dương rất vui mừng, vì bắn trúng linh dương hai mũi tên, cuộc truy đuổi hôm nay ngắn hơn nhiều so với dự tính của cậu. Mà có thể kết thúc sớm thì luôn khiến người ta cảm thấy vui vẻ, nên biết là lúc quay về còn phải vác thịt đi quãng đường xa tương tự nữa.
Cao Dương thở hổn hển, đi theo phía sau tù trưởng bước tới. Đi khoảng một hai cây số, họ đã phát hiện ra mục tiêu.
Ngay phía trước chừng hai ba trăm mét, một con linh dương lớn đang đứng tại chỗ, thỉnh thoảng lại lảo đảo một cái. Tuy chưa ngã xuống nhưng cũng chỉ là chuyện trong chốc lát mà thôi.
Cao Dương bám sát phía sau tù trưởng đang dẫn đầu, hưng phấn vung vẩy con dao săn trong tay, lao về phía con linh dương lớn sắp ngã xuống. Họ phải tranh thủ thời gian, tránh để sư tử hoặc báo giành trước.