PHỤ LỤC

Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LIỄU THỊ TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Hứa Nghiêu Tá

Trong những năm Thiên Bảo, Hàn Dực[1] người Xương Lê rất có thi danh, tính tình lại phóng đãng lạc bước quê người cho nên bần cùng lắm. Lý sinh là bạn thân của Dực, nhà tích chứa ngàn vàng nhưng yêu tài khinh của. Sinh có người ái thiếp tên Liễu thị, dung mạo tuyệt trần, thích nói chuyện bông đùa, giỏi ca hát ngâm vịnh. Lý sinh sống tại một tòa phủ đệ khác, đó là nơi yến ẩm với Dực, còn nơi Dực ở trọ lại nằm ngay bên cạnh. Dực vốn có tiếng tăm, những người tới thăm hỏi đều là bậc tài đức đương thời. Liễu thị từ cửa nhìn trộm rồi nói với người hầu: “Hàn phu tử há có thể nghèo túng lâu dài ư?”. Nàng dần sinh lòng ngưỡng mộ. Lý sinh trước giờ luôn coi trọng Dực, không tiếc thứ gì, sau khi biết ý kia thì bày tiệc mời Dực đến uống rượu. Khi đang vui chén thì Lý sinh nói: “Liễu phu nhân có vẻ đẹp hơn người, Hàn Tú tài thì văn chương xuất chúng nay ta muốn tặng nàng Liễu cho Hàn quân, không biết có được chăng?”. Dực giật mình rời khỏi chiếu và nói: “Tôi chịu ơn của ngài, lâu nay được cấp cho cái ăn cái mặc, sao dám đoạt cả người ngài yêu?”. Lý kiên quyết không đổi ý, Liễu thị biết đó là thật lòng bèn lạy hai lạy rồi nâng áo bước sang. Lý cho Dực ngồi ở khách vị, rót đầy chén và uống vô cùng sảng khoái. Lý sinh lại lấy ba mươi vạn tiền tặng cho Dực làm phí dụng. Hàn Dực mê nhan sắc của Liễu thị, Liễu thị mến tài văn của Hàn Dực, cả hai người đều cảm thấy tâm tư toại nguyện nên vui mừng khôn xiết.

Năm sau, Lễ bộ Thị lang Dương Độ cất nhắc Dực đỗ đầu.

Nhàn cư được một năm, Liễu thị nói với Dực: “Vinh danh thân tộc là điều mà người xưa mong ước, sao có thể vì đứa giặt giũ như tiện thiếp mà bỏ lỡ cơ may được trọng dụng? Huống hồ số tài sản đồ dùng này cùng đủ để thiếp đợi chàng về”. Dực bèn đi thăm nhà ở Thanh Trì. Hơn một năm, do nghèo đói, nàng phải bán bớt nữ trang kiếm sống. Cuối niên hiệu Thiên Bảo, giặc chiếm được hai kinh, sĩ phu và phụ nữ đều kinh hãi bỏ chạy. Dung nhan kiều diễm như Liễu thị lại càng khó thoát thân, nàng bèn cắt tóc hủy hình, nương náu trong chùa Pháp Linh. Bấy giờ Hầu Hy Dật từ Bình Lư đến nhậm chức Tiết độ sứ Truy Thanh, vốn đã biết tiếng Dực nên mời về làm thư ký. Đến khi Tuyên Hoàng đế dùng thần võ thu hồi được ngôi vua thì Dực sai người âm thầm tìm Liễu thị, chàng lấy túi lụa nhét đầy vàng vụn rồi viết lên đó mấy câu:

Liễu Chương Đài, liễu Chương Đài,

Khi xưa xanh biếc, giờ đây thế nào?

Nhánh dài y hệt năm nao,

Phải chăng đã bẻ chuyền trao ai rồi?

Liễu thị nâng túi vàng mà khóc nấc, còn những người xung quanh cũng cảm thấy ngậm ngùi. Nàng đáp lại rằng:

Cành dương mỗi đốt xanh ơi,

Hận sao năm tháng xa người biệt ly.

Lá thu theo gió rơi đi,

Liệu chàng còn thiết tha chi lúc về?

Không lâu sau, có Phiên tướng tên Sa Tra Lợi vua lập được công, trộm nghe thấy nhan sắc của Liễu thị nên bắt nàng đưa về phủ và sủng ái hết mực. Lúc Hy Dật được bổ chức Tả Bộc xạ vào chầu thì Dực cùng theo đến kinh sư, do không tìm được nơi Liễu thị ở nên chàng cứ than thở mãi. Tình cờ đi qua gò Long Thủ, nhìn thấy một nô bộc đánh con trâu lông tạp đang kéo chiếc xe che màn, phía sau là hai tỳ nữ. Dực đi theo, từ trong xe có người hỏi: “Có phải Hàn Viên ngoại đó không? Thiếp là Liễu thị đây”. Bèn sai tỳ nữ lén nói cho chàng biết chuyện mình bị Sa Tra Lợi chiếm giữ, giờ xe màn ngăn cách nên mời chàng sáng mai đến đợi

ở lý môn Đạo Chính. Chàng y hẹn tới nơi, nàng dùng lụa mỏng trắng buộc lấy chiếc hộp ngọc, trong hộp để cao hương, từ trong xe đưa ra và nói: “Từ nay vĩnh quyết, xin chàng nhận chút thành ý để lưu niệm”. Rồi cho xe quay đầu. Nàng vảy tay từ biệt, tay áo phấp phới, hương thơm thoang thoảng. Còn chàng thì đứng nhìn xe làn bánh xa dần. Đến khi khuất bóng thì tâm trí thẫn thờ, tưởng chừng như mọi thứ đều biến mất tan theo lớp bụi kia. Dực không sao chịu nổi cảnh tình ly biệt ấy. Khi các tướng Truy Thanh hợp hoan mở tiệc thì cho người mời Dực, Dực miễn cưỡng nhận lời, song mọi hình ảnh đều nhuốm màu bi thảm, mọi âm thanh đều nghe thấy thê lương. Có Ngu hầu Hứa Tuấn là người tài năng nên rất tự tin, vỗ kiếm nói rằng: “Nhất định ngài đang có chuyện khó nói, để tôi ra sức giúp cho”. Dực bất đắc dĩ đành nói cho anh ta biết. Tuấn nói: “Xin túc hạ viết mấy chữ, rồi tôi sẽ mang đến chỗ nàng”. Bèn chỉnh lại quân phục, đeo hai chiếc túi tên và dẫn theo một ky binh đi thẳng tới phủ của Sa Tra Lợi. Đợi cho Sa Tra Lợi đi ra ngoài được hơn một dặm thì lấy tay áo che mặt rồi vung cương lao tới, vừa xông vào cửa vừa hô to: “Tướng quân lâm bệnh rồi, ngài cho mời phu nhân đến”. Đám nô bộc và thị nữ hoảng loạn chạy đi, không ai dám ngước nhìn. Tuấn vào nhà và đưa phiến trát của Dực ra cho Liễu thị xem, sau đó đưa nàng lên yên ngựa. Ngựa phi nước đại, phút chốc đã tới nơi, Tuấn nâng vạt áo lên phía trước và nói: “May không làm nhục mệnh”. Bốn phía đều kinh ngạc than thở. Liễu thị và Hàn Dực nắm tay nhau bật khóc, mọi người cho dừng tiệc. Lúc bấy giờ Sa Tra Lợi rất được vua ân sủng, Dực và Tuấn sợ mang họa nên chạy tới chỗ Hy Dật. Hy Dật kinh ngạc nói: “Bình sinh những chuyện ta thấy khó thì Tuấn đều hoàn thành cả”. Liền dâng tờ trạng viết rằng:

Kiểm hiệu Thượng thư Kim bộ Viên ngoại lang kiêm Ngự sứ Hàn Dực đứng ở hàng Tham tá lâu ngày, nhiều lần lập được đại công, trước vừa tham dự kỳ thi Hương. Vợ là Liễu thị vì tránh bọn giặc cướp nên quy y cửa Phật, cắt tóc làm ni. Nay văn minh trùm khắp, gần xa theo về, nhưng tướng quân Sa Tra Lợi lại phóng túng làm càn, cậy chút công lao mà coi thường vương pháp, đuổi bắt người vợ có chí khí, gây tổn hại đến chính sách vô vi. Bộ tướng của thần kiêm Ngự sử Trung thừa là Hứa Tuấn, gia tộc vốn ở U, Kế, có hùng tâm quả cảm, đoạt lại Liễu thị trả về cho Hàn Dực, nghĩa thật tình chân. Tuy bộc lộ thiện ý nhiệt thành, nhưng hành sự không thưa trước thì đúng là do thần chưa huấn luyện nghiêm chỉnh.

Không lâu sau, vua ban chiếu nói:

Liễu thị nên trả về cho Hàn Dực, thưởng cho Sa Tra Lợi hai trăm vạn tiền.

Liễu thị đoàn viên với Dực. Dực về sau lên đến chức Trung thư Xá nhân.

Liễu thị có chí giữ mình nhưng làm chẳng đến nơi, Hứa Tuấn dám lo việc nghĩa nhưng lại không thông đạt. Ví phỏng Liễu thị nhờ nhan sắc được tuyển chọn, ắt có thể kế thừa thành ý ngăn gấu[2], bỏ xe[3]; phải chi Hứa Tuấn nhờ tài năng được trọng dụng, ắt có thể lập công lao như Tào Kha[4], Mẫn Trì[5]. Sự nghiệp nhờ hành động mà huy hoàng, công danh qua sự nghiệp mà gây dựng. Tiếc thay chí bị cản nên chưa thỏa, nghĩa dũng bộc phát uổng công, đều không được xếp vào đường chính. Há có thể chuyển biến thành đường chính hay chăng? Âu cũng do gặp gỡ mà nên vậy.

Hàn Hoành lúc trẻ có tài danh, đỗ Tiến sĩ cuối những năm Thiên Bảo, cô độc mà thẳng thần, trầm tĩnh, người giao du với Hoành đều là bậc danh sĩ đương thời. Song cửa kinh trống trải, chỉ bốn vách mà thôi. Láng giềng là Lý tướng, quên mất tên rồi, có danh kỹ Liễu thị. Mồi lần Lý đến, tất mời Hàn cùng uống rượu, Hàn thấy Lý là trượng phu lỗi lạc nên thường không từ chối, thân thiết cũng đã lâu. Liễu thị mỗi khi rảnh rồi lại nhìn trộm nhà Hàn qua khe vách, chỉ thấy lau cỏ tiêu điều, nhưng nghe nói khách tới đều là danh nhân cả, bèn nhân dịp bảo Lý rằng: “Hàn Tú tài quá cơ cực, song những người giao du với ông ấy thì đều là danh nhân, ắt nghèo túng chẳng lâu đâu, ta nên cho vay mượn”. Lý rất tán thành. Qua vài ngày, lại bày cỗ mời Hàn. Rượu ngà say thì nói với Hàn rằng: “Tú tài là đương kim danh sĩ, Liễu thị là đương kim danh sắc, đem danh sắc sánh đôi cùng danh sĩ, chẳng phải xứng lắm sao?”. Rồi bảo Liễu thị cùng ngồi tiếp chuyện Hàn. Hàn không vừa ý, một mực chối từ không dám. Lý nói: “Đại trượng phu tương ngộ giữa chén rượu, một câu hợp đạo, đến chết cũng giữ lời, huống chi chỉ một người đàn bà, đáng gì mà từ chối”. Cuối cùng vẫn tặng Hàn, cự tuyệt không được. Lại bảo Hàn: “Phu tử đang nghèo, không có gì để tự mình nổi lên, tư trang của Liễu thị mấy trăm vạn, có thể giúp được. Nàng Liễu là thục nữ, nên thờ phu tử, có thể làm trọn tiết tháo”. Dứt lời thì vái dài ra đi. Hàn đuổi theo nhường lại, Cố Huống can ngăn nói: “Đây là bậc hiển đạt mà hào phóng, hôm trước đã mở lời thì xin chớ kinh ngạc”. Mới đó thì nàng Liễu đến sống chung.

Năm sau Hàn thành danh. Qua vài năm, Tiết độ sứ Truy Thanh là Hầu Hy Dật tấu xin phong Hàn làm Tùng sự. Thời thế vừa loạn, Hàn không dám dẫn nàng Liễu theo mình mà cho ở ngoài đô, đến kỳ lại ghé qua. Ba năm liền không thăm được, bèn lấy vàng tốt cho vào trong túi lụa gửi đến nàng, đề thơ rằng:

Liễu Chương Đài, liễu chương Đài,

Khi xưa xanh biếc, giờ đây thế nào?

Nhánh dài y hệt năm nao,

Phải chăng đã bẻ chuyền trao ai rồi?

Nàng Liễu trả lời thư, đáp thơ rằng:

Cành dương mỗi đốt xanh ơi,

Hận sao năm tháng xa người biệt ly.

Lá thu theo gió rơi đi,

Liệu chàng còn thiết tha chi lúc về?

Nàng Liễu cho rằng có nhan sắc mà ở một mình thì e không thoát nạn, bèn tính cắt tóc làm ni, sống trong Phật tự. Về sau Hoành theo Hầu Hy Dật vào triều, tìm kiêm nhưng không thấy. Ra nàng Liễu đã bị một Phiên tướng có công tên là Sa Tra Lợi cướp đi, còn rất sủng ái. Hoành buồn chán không nguôi. Gặp lúc vào Trung thư, đến góc Đông Nam tiểu thành thì thấy chiếc xe trâu, từ từ mà đi theo. Trong xe hỏi: “Có phải Hàn Viên ngoại ở Thanh Châu đó không?”. Đáp: “Phải”. Liền vén rèm nói: “Thiếp là Liễu thị đây. Thiếp thất thân với Sa Tra Lợi, không sao thoát được. Ngày mai sẽ quay lại theo đường này, xin đến một lần để từ biệt”. Hàn vô cùng cảm động. Hôm sau, đến như lời hẹn. Xe trâu tìm tới, trong xe đưa ra một chiếc hộp nhỏ bọc khăn thắm, đựng đầy Phiên hương, nghẹn ngào nói: “Suốt đời vĩnh quyết”. Xe đi nhanh như chớp. Hàn không thể cầm lòng, lệ tuôn trào như mưa. Hôm ấy, Thái hiệu Lâm Tri bày tiệc rượu ở tửu lâu đô thị, cho mời Hàn. Hàn đến mà ủ rũ không vui. Quan khách hỏi: “Hàn Viên ngoại phong lưu cười nói, chưa từng có chuyện không hài lòng, hôm nay sao lại buồn thảm thế?”. Hàn kể hết ngọn ngành. Có viên tướng là Ngu hầu Hứa Tuấn, tuổi trẻ mê rượu, đứng lên nói: “Tôi đây cũng thuộc hạng nghĩa liệt, xin viên ngoại viết mấy chữ, tôi sẽ thu xếp ngay”. Ai nấy đều tán thưởng. Hàn bất đắc dĩ viết đưa cho. Tuấn bèn chỉnh đốn trang phục, cưỡi một ngựa và dắt một ngựa phóng đi, tới phủ của Sa Tra Lợi. Biết Sa Tra Lợi đã ra ngoài, bèn xông vào nói: “Tướng quân ngã ngựa, lại không cứu nổi, sai mời Liễu phu nhân”. Nàng Liễu kinh hãi bước ra, Tuấn cho xem trát của Hàn rồi đỡ nàng lên ngựa và lao vội như bay. Tiệc còn chưa tan, Tuấn đã đưa nàng Liễu về cho Hàn và bảo: “May không làm nhục mệnh”. Bốn phía đều kinh ngạc than thở. Khi ấy Sa Tra Lợi vừa lập công, Đại Tông rất khoan dung cho hắn, sợ rằng gây ra họa, mọi người cùng đến gặp Hy Dật thưa rõ chuyện. Hy Dật nắm tay vuốt râu bảo: “Chuyện này ngày trước ta từng làm, mà nay Tuấn cũng làm được”. Lập tức soạn biểu dâng vua, chỉ tội Sa Tra Lợi. Đại Tông khen ngợi hồi lâu, ngự phê rằng: “Sa Tra Lợi thưởng hai ngàn cuốn lụa, Liễu thị thì trả về cho Hàn Hoành”.

Sau Hàn bãi phủ nhàn cư gần mười năm sau, Tướng quốc Lý Miễn trấn Di Môn lại chiêu mộ về trướng. Bấy giờ Hàn đã đến tuổi xế bóng, đồng chức đều là hậu sinh mới tiến cử, không ai biết Hàn, còn chán ghét thơ văn. Hàn buồn bực khó chịu, thường cáo bệnh ở nhà. Duy mạt chức Vi Tuấn quan là kẻ biết nhìn danh sĩ, rất coi trọng Hàn. Một hôm sắp nửa đêm, Vi gõ cửa rất gấp, Hàn ra gặp, Vi chúc mừng rằng: “Viên ngoại đã được thăng làm Bộ Lang trung Tri Chế cáo”. Hàn rất ngạc nhiên nói: “Tất không có chuyện ấy, hẳn là nhầm vậy”. Vi vào nhà ngồi rồi nói: “Có tờ để trạng báo Chế cáo đang khuyết chỗ, Trung thư tiên cử hai người nhưng ngự bút chẳng chấm ai. Lại xin vua ban thánh chỉ mà sung chức, Đức Tông phê: ‘Chọn Hàn Hoành’“. Lúc đó có người cùng tên họ với Hoành, làm Thứ sử Giang Hoài, bèn tiến cử cả hai. Ngự bút lại phê rằng:

Khắp chốn thành xuân lả tả hoa,

Hàn thực tuôn gió liễu la đà.

Cung Hán chiều hôm chuyền ánh nến,Nhẹ hay hơi khói Ngũ hầu gia.

Còn phê tiếp: “Chọn Hàn Hoành này”. Vi lại chúc mừng rằng: “Đây chẳng phải thơ của Viên ngoại hay sao?”. Hàn nói: “Đúng thế”. “Vậy đủ biết là không nhầm”. Sáng ra thì Lý và thuộc hạ đều tới, khi ấy là đầu những năm Kiến Trung. Từ thuở Hàn lại nhậm chức ở đất Biện trở đi, thời niên hiệu Khai Thành, ta bãi chức tại Ngô Châu, có lão tướng người Đại Lương tên Triệu Duy làm Thứ sử Lĩnh ngoại, tuổi đã gần chín mươi, nhưng tai mắt chưa già cỗi, đi qua Ngô Châu kể chuyện cũ xứ Đại Lương, tường thuật rất rõ ràng, bảo tất cả đều là chuyên ông mục kích, cho nên ta bèn chép vào đây.

Mạnh Khải: Bản sự thi, Tình cảm

[1] Nguyên mẫu của Hàn Dực (韓翊) chinh là nhà thơ Hàn Hoành (韓宏) thời Đường. Hàn Hoành tự Quân Bình, đỗ Tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ mười ba (754), ông là một trong “Đại Lịch thập tài tử”.

[2] Thiên “Ngoại thích truyện” trong “Hán thư” chép: “Trong những năm Kiến Chiêu, Nguyên Đế tới chuồng thú xem thi đấu, hậu cung đều ngồi bên. Có con gấu nhảy khỏi chuồng, trèo lan can muốn lên điện. Các quý nhân hai bên như là Phó Chiêu nghi đều kinh hoàng bỏ chạy, Phùng Tiệp Dư đi thẳng tới trước cản con gấu”.

[3] Thiên “Ngoại thích truyện” trong “Hán thư” chép: “Thành Đế đi chơi hậu đình, muốn Ban Tiệp dư đi cùng xe, Tiệp dư từ chối nói: ‘Thiếp xem điển tịch cổ, thấy quân vương hiền thánh đều có bậc danh thần ngồi bên, chỉ mạt chủ thời Tam đại mới có nữ nhân được sủng ái. Nay bệ hạ muốn thiếp đi cùng xe, chẳng phải rất giống vậy hay sao?’. Vua khen lời hay mà từ bỏ”.

[4] Chỉ Tào Mạt nước Lỗ thời Xuân Thu. Khi Lỗ Trang Công và Tề Hoàn Công ăn thề ở đất Kha, Tào Mạt cầm chùy thủ uy hiếp Tề Hoàn Công, buộc nước Tề phải trả đất cho nước Lỗ.

[5] Chỉ Lạn Tương Như nước Triệu thời Chiến Quốc, phò Triệu Huệ Văn Vương hội kiến Tần Chiêu Tương Vương ở Mẫn Trì.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.