Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TÙY DẠNG ĐẾ HẢI SƠN KÝ (QUYỂN HẠ)

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Năm Đại Nghiệp thứ sáu, cây cỏ trong hậu uyển càng rậm rạp, chim thú càng sinh sôi đông đúc. Dưới cành đào gốc lý, các con đường rợp bóng mát đan xen nhau, còn vượn vàng với hươu xanh thì tụ tập từng bầy. Mở ngự đạo từ đại nội nối thông ra Tây uyển, hai bên trồng toàn giống tùng liễu cao to. Vua nhiều lần vào đây, không có thời gian cố định, thị vệ hầu hết ngủ bên đường, bởi thường thì nửa đêm vua mới tới.

Một đêm nọ, vua giong thuyền trên Bắc Hải, chỉ dẫn theo chừng mấy chục cung nhân. Vua lên ngôi điện trên ngọn núi giữa biển, khi đó ánh trăng chiếu mông lung, gió đêm nhè nhẹ thoảng, sóng lặng im không tiếng động, muôn loại nhạc khí đều im hơi. Bỗng thấy trên mặt nước xuất hiện chiếc thuyền con, chỉ chở có hai người. Vua cho là mỹ nữ trong mười sáu viện. Khi họ đến, có một người lên trước dẫn đường, hô lớn: “Trần Hậu chủ yết kiến”. Vua hoảng hốt, quên mất là Hậu Chủ chết rồi. Vua từ nhỏ đã rất thân với Hậu Chủ, bèn bước ra đón tiếp. Hậu Chủ lạy hai lạy, vua cũng cúi mình đáp lễ. An tọa xong thì Hậu Chủ nói rằng: “Nhớ năm xưa chơi đùa cùng bệ hạ, tình cảm thắm thiết hơn cả hạng đồng khí. Nay bệ hạ giàu sang nhất bốn biển, thật khiến người khác phải khâm phục. Lúc đầu cứ ngỡ bệ hạ trị nước còn trên bậc Tam vương, nay mới biết bệ hạ rất coi trọng việc tranh thủ hưởng lạc, khiến cuộc đời thêm vui vẻ, như thế cũng rất tốt. Gặp lúc bệ hạ đà khơi thông Tùy cừ, dẫn hồng thủy để du ngoạn Duy Dương, nhân đó xin làm thơ dâng tặng”. Rồi lấy một bài thơ từ trong áo trình lên Dạng Đế. Thơ rằng:

Tùy thất đào con nước

Phải chàng quá xa hoa?

Bắt dân khơi muôn dặm

Ai nấy cũng kêu ca

Nước trôi qua thủy điện

Thuyền long đến đó mà

Chim bay trào sóng trắng

Sóng đục thét kim sa

Hai người nghênh đón khách

Quý xuân cảnh chan hòa

Nắng tắt sau ngọn núi

Tàn cây quạ bay ra

Hôm nay chơi thỏa thích

Ngày sau ắt không nhà

Yên vui nơi trần thế

Thôi tìm Hán Thượng tra

Đỗ thuyền xôn xao bến

Buồm gấm lộng phong ba

Lợi đâu sao chẳng thấy?

Thiên cổ tựa yên hà.

Vua xem xong, phất tay áo tức giận nói: “Sống chết là mệnh vậy, còn hưng vong thì do số thôi. Ngài sao biết được khơi sông là làm lợi cho hậu thế?”. Vua phẫn nộ rồi quát tháo. Hậu Chủ nói: “Tráng khí của bệ hạ kéo dài được mấy ngày? E là trước sau vẫn không thể bằng ta”. Vua đứng dậy đuổi đi. Hậu Chủ vừa đi vừa nói: “Ta đi, ta đi vậy. Một năm nữa, gặp lại nhau ở dưới Ngô Công Đài”. Dứt lời thì nhảy ngay xuống nước. Vua chợt nhớ ra Hậu Chủ nay đã chết, ngây người ngồi đó không còn biết gì nữa, ngơ ngẩn một hồi lâu.

Hôm khác, mỹ nhân viện Minh Hà là Dương phu nhân vui mừng báo với vua: “Ngọc lý do ấp Toan Táo dâng lên sau một đêm đã vươn cành che mát đến mấy mẫu”. Vua trầm mặc rất lâu rồi mới hỏi: “Sao bỗng dưng lại rậm rạp như thế?”. Phu nhân đáp: “Đêm ấy, trong viện dường như có cả trăm ngàn người giữa không trung, họ xôn xao nói rằng: ‘Cây lý ắt rậm rạp’. Sáng ra xem thử thì quả nhiên đúng thế”. Vua muốn chặt đi nhưng tả hữu tâu lên: “Đó là điểm báo mộc đức đến tương trợ vua đấy”. Lại một đêm, Chu phu nhân ở viện Thần Quang đến tâu vua: “Dương mai chợt nở rộ sau một đêm”. Vua mừng hỏi: “Dương mai cũng nở rộ giống như ngọc lý chăng?”. Nàng đáp: “Dương mai tuy có nở nhưng không được rậm rạp như ngọc lý”. Vua đích thân tới hai viện xem thử, cũng thấy rõ ngọc lý trông tươi tốt vô cùng. Về sau thì mai lý kết quả cùng một lúc, viện phi hái dâng vua. Vua hỏi quả nào ngon hơn, viện phi đáp: “Dương mai tuy chín nhưng hương vị còn chua, rốt cuộc vẫn không ngọt bằng ngọc lý. Người trong Tây uyển đa phần ưa ngọc lý”. Vua than rằng: “Ghét dương chuộng lý[1]“, há phải nhân tình đâu, đó là ý trời vậy”. Sau này, khi Dạng Đế sắp băng tại Dương Châu, hôm ấy viện phi tới báo dương mai đã khô chết. Quả nhiên vua băng hà ở Dương Châu. Kỳ lạ thay!

Ngày nọ, ngư dân Lạc Thủy bắt được một con cá chép sống, vẩy vàng đuôi đỏ, sinh động và đáng yêu. Vua hỏi ngư dân họ gì. Anh ta đáp minh họ Giải, chưa có tên. Vua bèn lấy bút son viết lên trán cá hai chữ “Giải sinh” để ghi nhớ, rồi thả cá vào Bắc Hải. Hôm khác, khi vua du ngoạn Bắc Hải thì cá chép đã dài hơn một trượng, trôi lên mặt nước nhìn vua, lại không chịu lặn xuống. Lúc bấy giờ, vua đứng xem cùng với Tiêu viện phi, thấy chữ son trên trán cá vẫn còn, nhưng chữ “giải” đã mất đi một nửa, chỉ còn lờ mờ chữ “giác”[2] thôi. Tiêu hậu nói: “Cá chép có sừng (giác), tức là rồng vậy[3]“. Vua bảo: “Trẫm là bậc nhân chủ, há không biết điều đó ư?”. Bèn lấy cung bắn, cá liền lặn mất.

Năm Đại Nghiệp thứ tư, Đạo Châu tiến cống một người lùn tên Vương Nghĩa, người này mi thanh mục tú, ứng đối rất lanh lợi, vua đặc biệt sủng ái. Nghĩa thường theo vua xuất tuần, nhưng không được vào cung. Vua nói: “Ngươi chẳng phải thứ trong cung”. Nghĩa bèn tự cung. Vua thấy vậy càng yêu thích, nên cho phép ra vào. Dạng Đế ngủ trong tẩm điện, Nghĩa thường nằm dưới long sàng. Vua tuần du ngũ hồ, tứ hải về, Nghĩa nhiều lần được ở lại mười sáu viện. Có lần, vua lẳng lặng tới viện Thê Loan lúc nửa đêm. Bầy giờ, khí trời mùa hạ đang oi bức, viện phi Ngưu Khánh Nhi nằm dưới rèm. Ánh trăng mới mọc chiếu xuống hiên sáng rực. Khánh Nhi bị ác mộng làm kinh hãi, như không còn hồn phách. Vua sai Nghĩa gọi Khánh Nhi, còn mình thì đỡ nàng dậy, rất lâu nàng mới tỉnh. Vua nói: “Nàng mơ thấy gì mà lại đau khổ thế?”. Khánh Nhi đáp: “Thiếp vẫn mơ như thường ngày, bệ hạ cầm tay thiếp, cùng ngao du mười sáu viện. Khi đến viện thứ mười thì bệ hạ ngồi trên điện, chợt có lửa cháy, thiếp chạy đi, ngoảnh mặt nhìn thì thấy bệ hạ đang ngồi trong biển lửa, thiếp hoảng hốt gọi người lại cứu giá, rất lâu mới tỉnh giấc”. Tính cách vua kiên cường, giải thích rằng: “Mơ chết thì được sống. Lửa có khí thế uy liệt, ta ngồi trong đó, tức là uy phong vậy”. Năm Đại Nghiệp thứ mười, nhà Tùy bị diệt vong[4], Dạng Đế vào viện thứ mười và ngồi trong biển lửa, giấc mộng đã linh ứng.

Thuyền rồng bị Dương Huyền Cảm[5] thiêu rụi, sau đó, Dạng Đế ra lệnh cho Thứ sử Dương Châu đóng thuyền khác, chế tác hoa lệ hơn, đã vậy còn dài và rộng hơn thuyền cũ. Thuyền vừa hạ thủy, vua lâm hạnh Duy Dương ở phía Đông, mười sáu viện hậu cung đều tháp tùng. Tây uyển lệnh Mã Thủ Trung nói riêng với nhà vua: “Xin bệ hạ sớm quay lại kinh khuyết, thần sẽ chỉnh đốn Tây uyển đợi xa giá trở về. Tây uyển có phong cảnh và điện đài như vậy, chẳng lẽ bệ hạ không lưu luyến, nỡ từ bỏ mà lên đường viễn du sao?”. Nói xong thì rơi lệ. Vua cũng thấy đau lòng, nói với Thủ Trung rằng: “Hãy vì ta mà trông coi tốt Tây uyển, chớ để hậu nhân chê cười ta không hiểu lạc thú chăm chút cho cảnh vật”. Tả hữu cũng lấy làm kinh ngạc. Vua ngự thuyền rồng, trên đường đi, nghe thấy tiếng ca rất bi thảm giữa canh khuya. Ca rằng:

Anh trai đánh Liêu Đông

Đói chết ngay chân núi

Nay ta kéo thuyền rồng

Nhà Tùy đê mở vội

Thiên hạ đang khốn đốn

Lương ăn chẳng được bao

Đi hết ba mươi đoạn

Chôn thân tự thuở nào

Sa mạc run tủy cốt

Đồng hoang quỷ khóc kêu

Vợ cô đơn phòng trống

Mẹ cha ngóng sớm chiều

Tìm đâu trang dũng sĩ

Thương xót khắp dân quê

Đưa cô hồn trở lại

Dẫn xương trắng quay về.

Vua nghe được lời ca, liền sai người đi tìm, nhưng tới sáng vẫn không thấy. Vua bàng hoàng đến mức suốt đêm không chợp mắt. Bá quan Dương Châu ra triều kiến, cống sứ trong thiên hạ đều tới đủ. Có người đi giữa đường bị binh sĩ cướp cống vật, nhưng vua lại bàn bạc với quần thần, xuống chiếu sai mười ba đạo khởi binh, tru diệt những kẻ không triều cống. Vua biết quốc tộ đã mất, ý muốn lâm hạnh Vĩnh Gia, song quần thần không ai muốn theo. Mấy ngày trước khi bị hại, vua vẫn nhận ra huyền tượng, nhiều đêm thức dậy xem thiên văn. Bèn triệu Thái sử lệnh Viên Sung vào hỏi: “Thiên tượng như thế nào?”. Sung nằm phục ra đất khóc lóc tâu: “Tinh văn rất xấu, Tặc tinh bức Đế tọa rất dữ dội, e có họa trong sớm chiều. Xin bệ hạ mau sửa đức để diệt chúng”. Vua thấy không vui, liền đứng dậy bỏ đi, tới tiện điện thì ôm gối cúi đầu chẳng nói gì. Vua quay lại bảo Vương Nghĩa: “Ngươi có biết thiên hạ sắp loạn không? Cớ sao người im lặng mà chẳng nói ta hay?’’. Nghĩa khóc đáp: “Thần là phế dân của phương xa, may nhờ ơn trên thương đến, từ lúc vào thâm cung, nhận thánh ân bao ngày, thần còn tự cung để được gần bệ hạ. Nhưng thiên hạ đại loạn vốn đâu phải từ hôm nay, đạp sương băng cứng[6], chuyện đó đã lâu rồi. Thần thấy họa lần này không thể nào cứu vãn”. Vua hỏi: “Sao ngươi không báo ta biết sớm?”. Nghĩa đáp: ‘Thần không nói sớm, bởi nếu nói thì đã chết từ lâu”. Vua khóc nói: “Khanh hãy vì ta tâu rõ lẽ thành bại, biết được điều đó, ta lấy làm quý lắm”. Ngày hôm sau, Nghĩa dâng thư viết rằng:

Thần vốn sinh trưởng ở đất Nam Sở bạc màu, gặp được thời vận có thánh minh trị quốc, nên chẳng tiếc thân này, chịu tiến cống nhập cung. Thần chỉ là hạng chu nho[7], tố chất cực kỳ ngu muội, song được ra vào kim mã suốt một thuở hoa niên, thánh ân sâu nhường ấy, quả thật vượt xa với mong ước ban đầu, đã vậy còn theo hầu xa giá du lãm bao đài các. Tuy thần thô lậu nhưng lại rất thích xem kinh điển, cũng biết khá rõ căn nguyên của thiện ác, ít nhiều hiểu được hưng vong từ đâu ra. Đi giữa dân gian thì thấy ngay lợi hại, bệ hạ cúi mình hỏi đến, thần mới dám thưa lên. Từ lúc bệ hạ kế tự nguyên phù, sống giữa cảnh giàu sang, cậy uy minh mà độc đoán, không nghe lời can gián, chỉ hành sự theo diệu kế của bản thân, không dung nạp ngu kiến của người khác. Cho khởi công Tây uyển, hai lần xuất chiến Liêu Đông, thuyền rồng thì có hơn ngàn chiếc, cung khuyết thì trải khắp thiên hạ, binh giáp thường huy động tới trăm vạn, khiến cho sơn cốc cũng thiếu vắng bóng dân, chinh Liêu thì trăm phần chẳng tồn mười, những kẻ được an táng thì mười phần chưa tới một. Quốc khố nay trống rỗng, giá thóc gạo tăng cao, bệ hạ vẫn ngồi xe xuất tuần, đi đi lại lại không biết bao nhiêu lượt, binh sĩ tháp tùng lần nào cũng ngót cả vạn người. Điều đó khiến bốn phương thất vọng, thiên hạ thành ra đống tan hoang. Của cải của bách tính sót lại giơ tay lên là đếm đủ, con em họ thì chết vì binh dịch, những ai già yếu thì khốn đốn trong cỏ bồng, xác lính chất cao như núi, kẻ chết đói phơi thây khắp ngoại ô, chó lợn còn ngao ngán thịt người, quạ điểu tới rỉa phần thừa mứa. Mùi hôi thối bay ngàn dặm, xương góp lại thành gò, máu nhuộm hết nội đồng, chỉ lũ chuột chồn được béo phệ. Gió âm man mác nơi hoang vắng, hồn ma kêu khóc giữa cỏ hoang. Giương mắt nhìn quanh hết bình địa, ngàn dặm không có làn khói bếp. Tàn dân giờ lưu lạc, biết sớm tối thế nào, cha lìa bỏ con thơ, vợ khóc thương chồng mất. Kẻ cô khổ quá nhiều, nạn đói rét nghiêm trọng. Cơn loạn mới manh nha, sống chết nào ai biết? Bậc nhân chủ yêu người sao lại như thế này? Bệ hạ tính tình cứng rắn, kẻ nào dám can vua? Ví phỏng nói lời ngay thì lại được ban chết, chúng thần nhìn nhau, đành khóa miệng giữ lấy mình. Dẫu Long Phùng[8] tái sinh cũng há dám khuyên ngăn? Đám cận thân ở ngôi cao thì chỉ biết a dua xu nịnh, đón lấy ý vua mà chặn lời can gián. Tất cả đều đi con đường này để tận hưởng phú quý, vậy lỗi lầm của bệ hạ nghe được từ đâu đây? Như hiện giờ quân chinh phạt Liêu Đông đã đại bại, bệ hạ còn du hành Đông thổ thêm lần nữa, xã tắc lâm nguy như tuyết giữa mùa xuân, can qua dấy động bốn phương, sinh dân không ngừng đồ thán, quan lại vẫn chưa dám nói ra. Bệ hạ thử nghĩ xem, giờ phải tính thế nào? Bệ hạ muốn lâm hạnh Vĩnh Gia để kéo dài năm tháng thần võ uy nghiêm của ngày ấy nay đâu? Bệ hạ muốn hưng binh thì sĩ tốt không thuận ý, muốn tuần du thì thị vệ chẳng chịu theo. Lúc này, bệ hạ tự xử trí làm sao đây? Bệ hạ vẫn có tâm hối cải chịu sửa đức, hết lòng yêu thương dân chúng dẫu cho sự nhân từ minh thánh ấy có thể cứu vớt được thời cục, song thiên hạ không thể trở lại như ngày xưa. Đại thế mất rồi, thời không đến nữa. Lầu cao sắp đổ, một cành cày đâu chống được, hồng thủy cuộn trào, một nắm đất chẳng thể ngăn. Thần vốn là con dân xứ xa xôi, không hiểu lẽ kỵ húy, chuyện đến nước này, há dám không tâu? Hôm nay thần không chết thì ngày mai cũng bỏ mạng trong binh lửa, cho nên liều mình dâng bệ hạ thư này, rồi rướn cổ chờ xử chém.

Vua xem thư của Nghĩa xong thì bảo: “Tự cổ nước nào mà chẳng vong, chúa nào mà không chết?”. Nghĩa nói: “Bệ hạ vẫn muốn che giấu sai lầm ư? Thường ngày bệ hạ luôn nói rằng: ‘Ta phải hơn cả Tam Hoàng, vượt xa Ngũ Đế, cúi xuống nhìn Thương Chu, khiến vạn đời khôn sánh kịp’. Thế cục giờ đã như vầy, còn quay về kinh khuyết được hay sao?”. Vua rơi lệ than thở mãi. Nghĩa nói: “Khi xưa thần không tâu, bởi lẽ còn yêu quý mạng mình, nay đã tâu rõ mọi chuyện, xin lấy cái chết để tạ tội. Thiên hạ đang loạn lạc, mong bệ hạ hãy thương lấy bản thân”. Một lúc sau, tả hữu vào báo lại: “Vương Nghĩa đã tự vẫn”. Vua thương xót vô cùng, truyền lệnh sai hậu táng. Chưa được mấy hôm thì Dạng Đế bị hại.

Đó là lúc nửa đêm, bên ngoài nghe thấy tiếng xôn xao. Vua vội dậy, mặc áo mão lên nội điện. Mới ngồi xuống chưa lâu thì phục binh thảy xông vào, Tư Mã Kham giương kiếm chỉ vào vua. Vua quát: “Mấy năm nay ta đãi ngươi rất hậu, cũng chưa từng phụ ngươi, sao ngươi lại phản ta?”. Chu Quý Nhi – người luôn được vua sủng ái – khi đó đang đứng ở bên cạnh, nói với Kham: “Ba ngày trước, bệ hạ lo cho thị vệ mặc áo mỏng lạnh người, bèn xuống chiếu: tất cả người trong cung đều được cấp áo quần bông. Vua còn đích thân xem xét, mấy ngàn chiếc áo chỉ hai hôm là may xong. Hôm qua vừa ban thưởng cho ngươi, chẳng lẽ ngươi không biết? Sao các ngươi dám uy hiếp hoàng đế như vậy?”. Rồi lớn tiếng mắng Kham. Kham nói: “Thần quả thật phụ bệ hạ, nhưng trước mắt hai kinh đã bị giặc chiếm cứ, bệ hạ có về cũng hết đường, thần dù chết cũng hết cửa. Thần đã tỏ ý phản nghịch, dầu muốn quay lại cũng không được nữa rồi. Xin lấy đầu bệ hạ tạ thiên hạ”. Bèn cầm kiếm tiến lên điện. Vua lại quát: “Nhà ngươi há không biết máu chư hầu thấm đất còn gây nên đại hạn, huống chi là máu của quân vương?”. Kham liền dâng dải lụa, vua tự kết liễu trong nội các. Quý Nhi do chửi rủa không ngừng nên bị loạn quân giết chết.

Cuối thời Dạng Đế, vua mê đắm trong nữ sắc. Một hôm, vua nói với thị vệ: “Bậc nhân chủ giàu sang nhất thiên hạ cũng nên tận hưởng hết thú vui thuở hoa niên, khiến tâm ý thỏa mãn. Nay thiên hạ thái bình, trong ngoài vô sự, ta có thể yên tâm hưởng lạc rồi. Cung điện bây giờ tuy tráng lệ rộng lớn, nhưng đáng tiếc vẫn chưa có mật thất với tiểu phòng, còn thiếu hiên sâu với các bậc cửa ngắn. Nếu được vậy thì ta sẽ sống đến già trong đó”. Viên thị vệ thân cận vua tên Cao Xương bèn tâu: “Thần có người bạn tên Hạng Thăng, quê ở Chiết Giang, tự xưng là biết xây cung thất”.

Hôm sau, vua cho triệu vào hỏi chuyện. Thăng nói: “Thần xin dâng bản vẽ trước”. Mấy ngày sau thì dâng lên, vua xem xong thấy rất vui, bèn xuống chiếu sai Hữu ty cung cấp ngay vật liệu. Dằn công huy động mấy vạn người, mất một năm mới xây xong. Lầu gác nhấp nhố, hiên song thấp thoáng. Mật thất với tiểu phòng cũng như những lan can son ngọc, tất cả đều san sát nhau, quanh co vây kin cả bốn phía, các phòng ốc lại tương thông. Cửa lớn, cửa sổ thì hàng ngàn hàng vạn, nhìn đâu cũng khảm ngọc dát vàng. Rồng vàng nằm phục ngay dưới cột, thú ngọc khuỵu gối ngồi bên cửa. Tường vách chói lòa, cửa song lấp lánh. Độ tinh xảo đã đạt tới đỉnh cao, xưa nay chưa từng có. Số vàng ngọc chi ra khiến kho đụn trống rỗng. Chẳng may có ai đó lạc vào thì hết ngày không ra được. Dạng Đế đến xem và vui lắm, nói với tả hữu rằng: “Dẫu chân tiên bước vào đây ắt cũng sẽ lạc đường, có thể gọi là Mê Lâu”. Liền xuống chiếu phong Thăng làm quan ngũ phẩm, còn lấy ngàn cuốn lụa trong quốc khố thưởng cho. Vua còn truyền lệnh tuyển chọn ngàn cô gái lương gia của hậu cung đưa vào sống giữa Mê Lâu. Mỗi lần ghé vào thì cả tháng vua cũng chưa rời khỏi.

Tháng ấy, Đại phu Hà Trù dâng vua chiếc Ngự đồng nữ xa. Kích thước xe cực nhỏ, chỉ chứa được một người, bên trong còn lắp đặt cơ quan, dùng để khống chế tay chân các cô gái, khiến họ không thể nào cử động. Vua thử nghiệm với xử nữ và cực kỳ thích thú. Liền triệu Hà Trù vào nói: “Đầu óc của khanh sao mà thông minh tuyệt diệu đến như vậy?”. Rồi thưởng cho ngàn vàng để biểu dương trí xảo ấy. Hà Trù ra ngoài kể lại sự tinh tế của chiếc xe, người hiểu biết bảo rằng: “Đó không phải thứ hợp đạo đức”. Trù lại dâng lên Chuyển quan xa, đứng chung quanh kéo thì xe có thể lên lầu gác như đi trên đất bằng, ngự nữ trong xe cũng có thể tự lắc lư. Vua càng thêm yêu thích. Dạng Đế hỏi Trù: “Xe này gọi là gì?”. Trù thưa: “Thần tùy ý chế tạo nhưng vẫn chưa đặt tên, xin bệ hạ ngự tứ cho mỹ danh”. Vua nói: “Khanh tùy ý chế ra xe, trẫm thì tùy ý mà vui vẻ, vậy cứ gọi là Nhậm ý xa (xe tùy ý)”. Hà Trù bái lạy lần nữa rồi lui ra.

Vua sai họa sư vẽ mấy chục bức tranh nam nữ giao hoan rồi đem treo trong gác. Năm đó, Thượng Quan Thời từ Giang ngoại bị điều về, cho đúc mấy chục tấm đồng đen, mỗi tấm cao năm thước, rộng ba thước, còn mài nhẵn như gương và dùng làm bình phong, bình phong này có thể đặt vây quanh phòng ngủ, làm xong thì mang vào cung khuyết dâng vua. Vua đưa bình phong đến Mê Lâu và giao hoan trong đó, từng chi tiết đều hiện rõ trên gương. Vua vui sướng bảo rằng: “Tranh kia chỉ vẽ được tướng mạo, còn thứ này cho thấy cả chân dung con người, hơn tranh ảnh đến vạn lần”. Rồi lấy ngàn vàng ban thưởng cho Thượng Quan Thời.

Đêm ngày vua hoan lạc giữa Mê Lâu, vui chơi đến kiệt sức, cũng cảm thấy mệt nhừ. Vua nói với cận thần: “Trẫm nhớ lúc vừa đăng cơ, vất vả nhiều, không ngủ được, phải gối đầu lên phụ nữ mới có thể chợp mắt, vừa mơ mộng đã tỉnh giấc. Giờ đây hễ ngủ thì hôn mê không tỉnh được, còn gần nữ sắc thì mệt mỏi, đó là vì sao vậy?”. Hôm khác, có người lùn tên Vương Nghĩa vào tâu:

“Thần là phế dân nơi điền dã, chẳng làm được chuyện gì hơn người ta, sinh trưởng tại mảnh đất xa xôi hẻo lánh, may mắn được tiến cống dâng vua, được cho vào hậu cung lo quét tước. Bệ hạ hết mực sủng ái thần, thần còn tự cung để được hầu bệ hạ. Từ đó ra vào khắp ngọa tẩm, đi quanh mọi cung thất, những kẻ thân tín giờ đây không ai sánh kịp thần. Nhờ đó thần được xem trộm sách vở trong nội điện, suy đi ngẫm lại mấy lần thì cũng hiểu ít nhiều. Thần nghe nói tinh khí là thứ khiến con người sáng suốt. Nhớ lúc bệ hạ chưa đăng cơ, tiên đế cần kiệm, bệ hạ cũng ít gần thanh sắc, ngày ngày đều gần gũi người đức hạnh. Tinh khí của bệ hạ sung mãn từ bên trong, thần khí thì sáng rỡ phía bên ngoài, cho nên tối ngày không cần ngủ. Mấy năm nay, bệ hạ vui thanh sắc quá độ, hậu cung chứa đầy người, sớm khuya yến ẩm, không phải Tết nhất hay ngày lành thì có bao giờ bệ hạ đích thân lên tiền điện? Những ngày còn lại phần lớn chẳng thiết triều. Ngẫu nhĩ mới tiếp kiến khách phương xa, hoặc bất ngờ đãi tiệc, phút chốc thì thánh giá đã quay về hậu cung. Lấy cái thân thể hữu hạn mà theo đuổi sự ham muốn vô hạn, thần sớm biết bệ hạ sẽ kiệt sức. Thần nghe thời cổ có ông lão nhà quê ca múa một mình trên bàn thạch. Người ta hỏi: ‘Sao ông lại vui thế?’. Ông lão đáp: ‘Ta có ba chuyện để vui, anh có biết không?’. ‘Đó là gì vậy?’. ‘Kiếp người khó gặp buổi thái bình, nay không thấy nạn binh cách, đó là chuyện vui thứ nhất. Kiếp người mấy ai được thân xác khỏe mạnh, nay ta chẳng khuyết tật, đó là chuyện vui thứ hai. Kiếp người mấy ai được sống thọ, nay ta đã tám chục tuổi rồi, đó là chuyện vui thứ ba’. Người kia khen ngợi rồi cáo từ. Bệ hạ được hưởng phú quý khắp thiên hạ, thánh mạo phiêu dật hiên ngang, có mặt rồng dáng phượng mà không biết tự yêu mình, suy nghĩ còn không bằng được ông lão. Thần thấp bé vô dụng, khó lòng báo đáp thánh ân, lại không biết đạo ky húy, dám mạo phạm long nhan”. Nói xong thì phủ phục khóc lóc. Vua sai người đỡ dậy. Hôm sau, vua triệu Nghĩa vào nói: “Đêm qua trẫm suy xét lời ngươi, thấy đạo lý rất sâu sắc. Ngươi quả thật biết thương đến trẫm vậy”. Bèn lệnh cho Nghĩa lựa chọn một gian phòng yên tĩnh trong hậu cung để nhà vua tới ở, phụ nữ không ai được vào. Qua hai ngày, vua tức giận bước ra nói: “Sao phải khổ sở sống trong đây? Nếu thế thì thọ trăm ngàn tuổi để làm gì?”. Rồi trở lại Mê Lâu.

Cung nữ thì vô số, những người không được triệu cũng rất nhiều. Hầu phu nhân ở hậu cung có nhan sắc, một hòm bỗng tự tận dưới cột nhà. Trên cánh tay treo túi gấm, trong đó có mấy trang giấy. Tả hữu dâng lên vua, ra là những bài thơ. Ba bài “Tự cảm” viết:

1.

Xa giá rời sân vắng

Cỏ hoang đã mọc nhiều

Tiêu trống vang đâu đó

Ơn vua chả bấy nhiêu.

2.

Muốn khóc, lệ khô đắng

Sầu tuôn lật ý thơ

Đình hoa vừa khoe sắc

Xuân sang cũng hững hờ.

3.

Đất trời xuân nồng thắm

Lê chân thấy ngẩn người

Sao bằng loài hoa cỏ

Mưa móc lại thêm tươi.

Hai bài “Khán mai” viết:

1.

Vách tuyết trơ năm tháng

Cuốn rèm tự thương thân

Đình mai ngoài ấy như thương xót

Để lộ cành sương ngắm dáng xuân.

2.

Trong mát hương se lạnh

Ai biết ấy thiên chân?

Ngọc mai nắng chiếu tuôn rơi cánhBay giữa muôn hoa đắm khí xuân.

Bài “Trang thành” viết:

Điểm trang càng luyến tiếc

Cuộc vui bỗng rã rời

Đâu bằng dương hoa biếc

Ngày xuân lượn khắp nơi.

Bài “Khiển ý” viết:

Khóa xuân trong động kín

Song thưa giữ ngọc nhân

Họ Mao thật đáng giết

Không muốn vẽ Chiêu Quân.

Bài “Tự thương” viết:

Thừa Minh vào hôm ấy

Luôn hướng tới Vị Ương

Trường Môn bảy tám lớp

Chẳng gặp lại quân vương

Xuân lùa hơi rét mướt

Phòng không ngán đêm trường

Dạo bước ngoài hiên vắng

U hoài tự xót thương

Say đắm hình dung khác

Tháng năm mới vô thường

Nhan sắc thôi buông rủ

Mệnh bạc mấy ai lường?

Thánh ân còn xa lắm

Bàng hoàng ngại gió sương

Nhà ai không cốt nhục

Ngoái trông phía Bắc đường?

Thân người đâu mọc cánh

Làm sao thoát cao tường?

Sinh mạng vô cùng quý

Bỏ đi mới đáng thương

Dải lụa treo trên đấy

Máu sôi nhói can trường

Đưa cổ còn tiếc nuối

Tơ lòng ý vấn vương

Dứt tình chọn cái chết

Quay về cõi minh hương.

Vua xem thơ nàng thì không nén được bi cảm, bước đến bên thi thể mà than: “Người tuy đã chết, nhưng nhan sắc vẫn đẹp như đào mận”. Bèn triệu gấp Trung sứ Hứa Đình Phụ tới hỏi: “Lúc trước trẫm sai ngươi lựa chọn từ hậu cung để đưa vào Mê Lâu, sao ngươi chỉ bỏ sót người này?”. Rồi sai hạ ngục Phụ, sau đó ban cho tự kết liễu. Vua dùng hậu lễ an táng Hầu phu nhân. Ngày ngày Dạng Đế đọc thơ kia, thấy rất thích những lời ấy nên truyền lệnh bảo Nhạc phủ phổ nhạc để hát ca. Vua lại đích thân chọn ra trăm phụ nữ ở hậu cung và đưa tới Mê Lâu.

Năm Đại Nghiệp thứ tám, có phương sĩ dâng tiên đan, vua uống xong thì tà niệm càng không thể khống chế, ngày đêm giao hoan với mấy chục người. Mùa hạ đến, vua bức bối khó chịu, ngày uống mấy trăm ly nhưng vẫn không hết khát. Y thừa Mạc Quân Tích tâu lên: “Tâm mạch vua phiền thịnh, chân nguyên quá hư, uống nhiều tất sinh ra bệnh nặng”. Nhân đó dâng vua thuốc chữa trị, đồng thời xin đặt đĩa băng trước mặt vua, ngày đêm vua nhìn thấy thì cơn phiền toái cũng giảm bớt. Từ đó, mỹ nhân các viện ai nấy đều mua băng làm đĩa, mong Dạng Đế lâm hạnh. Băng ở kinh sư tăng vọt giá, nhà nào cất trữ băng cũng thu được ngàn vàng.

Năm Đại Nghiệp thứ chín, Dạng Đế muốn tuần du Giang Đô thêm lần nữa. Có cung nữ ở Mê Lâu nửa đêm cất tiếng ca:

Hà Nam: dương héo úa

Hà Bắc: lý xanh tươi

Hoa dương rơi rụng nào đâu thấy

Cây lý sum sê đúng ý trời.

Vua nghe thấy tiếng ca thì khoác áo thức dậy, triệu cung nữ vào hỏi: “Ai dạy ngươi hát thế? Ngươi tự nghĩ ra ư?”. Cung nữ đáp: “Thiếp có đứa em trai đang sống ở dân gian, cho nên nó biết câu ca này. Nó bảo là trẻ con dọc đường thường hay hát”. Vua trầm mặc một hồi lâu rồi nói: “Trời báo chúng biết hay có người báo chúng biết vậy?”. Vua uống cạn chén rượu và ca hát:

Rợp mát ngự viên cánh én bay

Hưng suy tự cổ trách ai đây?

Mê Lâu ngày tới thêm tươi đẹp

Cung cấm muôn hoa thắm đỏ hây.

Ca xong thì đau buồn khôn xiết. Cận thần tâu: “Bệ hạ bỗng dưng lại ủ rũ, đã vậy còn ca hát, chúng thần không thể hiểu”. Vua nói: “Đừng hỏi, sau này các ngươi tự khắc hiểu ra thôi”. Khi Dạng Đế đang lâm hạnh Giang Đô thì vua Đường tiến quân về kinh sư, nhìn thấy Mê Lâu, Thái Tông kinh ngạc nói: “Đây là thứ được xây trên xương máu của dân vậy”. Bèn ra lệnh đốt đi, lửa cháy một tháng vẫn chưa tắt. Bài ca dao và mấy câu thơ lúc trước nay đã ứng nghiệm rồi. Thế mới biết, chuyện hưng vong của mỗi đời có phải ngẫu nhiên đâu?

[1] Năm 618, nhà Đường của họ Lý đã thay thế nhà Tùy của họ Dương.

[2] Chữ “lý” (鯉) có nghĩa là “cá chép” đồng âm với chữ “lý’’ (李) trong họ Lý, liên tưởng đến tích cá chép hóa rồng, hơn nữa rồng lại tượng trưng cho ngôi vị thiên tử.

[3] Chữ “giác” (角) là một nửa của chữ “giải” (解).

[4] Tùy Dạng Đế mất vào năm Đại Nghiệp thứ mười bốn (618), năm đó nhà Tùy mới diệt vong. Chỗ này có lẽ truyện chép nhầm.

[5] Dương Huyền Cảm là con của Dương Tố Năm 613, ông dấy binh tạo phản nhưng thất bại.

[6] Nguyên văn là “lý sương kiên thủy”, xuất xứ từ Kinh Dịch, quẻ Khôn, hào Sơ lục. “Lý sương kiên thủy chí” (đạp sương, băng cứng đến), ý nói sự vật tuy từ từ phát triển, nhưng cuối cùng dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng.

[7] Chu nho tức người lùn.

[8] Chỉ Quan Long Phùng, một viên quan của nhà Hạ, do thẳng thắn can ngăn mà bị vua Kiệt giết.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.