Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BÙI HÀNG443

❊ ❊ ❊

Bùi Hình

Trong những năm Trường Khánh, có một tú tài tên Bùi Hàng, vì thi trượt nên đến chơi Ngạc Chử, tiện thể thăm hỏi người bạn cũ Thôi Tướng quốc. Tướng quốc tặng chàng hai mươi vạn tiền làm lộ phí trên đường xa trở lại kinh. Chàng bèn thuê một chiếc thuyền lớn đi tới vùng Tương Hán. Cùng thuyền có một vị Phàn phu nhân, dung mạo đáng xếp vào bậc quốc sắc thiên hương, trò chuyện đối đáp với người khác qua một bức mành mà vẫn khiến người ta cảm thấy rất gắn gũi. Tuy thân thiết như thế, song Hàng chẳng cách nào mở lời để xin được gặp mặt. Chàng bèn đúc lót cho thị nữ Niểu Yên, nhờ gửi đến nàng một bài thơ. Lời rằng:

Giống như Hồ, Việt còn nhung nhớ

Huống cách nàng tiên chỉ bức mành

Ví phỏng Ngọc Kinh cùng gặp gỡ

Nguyện theo loan hạc tới mây xanh.

Thơ gửi rồi, nhưng rất lâu sau vẫn chưa thấy hồi đáp. Hàng nhiều lần hỏi Niểu Yên. Niểu Yên nói: “‘Nương tử xem xong mà cứ như chưa hề xem, biết làm sao được?”. Hàng hết cách, đành tìm mua rượu ngon, quả quý ở dọc đường biếu tặng nàng. Phu nhân bèn sai Niểu Yên mời Hàng tới gặp. Chàng bước vào trong màn trướng, thấy ngọc sáng rực rỡ, hoa tươi cảnh đẹp, tóc nàng buông xõa như mây, hàng mi như ánh trăng chiếu rọi, cử chỉ thì như người ngoài xứ yên hà, sao xếp ngang với những kẻ nơi trần tục? Hàng lại bái lễ, nhưng ngơ ngác một hồi lâu. Phu nhân nói: “Thiếp có chồng ở Hán Nam, muốn từ quan về ẩn cư chốn thâm sơn cùng cốc, gọi thiếp đến để quyết biệt một lần. Ưu buồn sâu thẳm, chỉ canh cánh nỗi lo không kịp đến đúng kỳ, thiếp còn tâm trạng nào để mắt tới những người bên cạnh, làm vậy mà được hay sao? Thiếp chỉ cảm kích vì chàng đi cùng thuyền và hết lòng chiếu cố, chứ không có ý trêu bỡn gì đâu”. Hàng nói: “Không dám”. Uống xong chén rượu thì chàng từ biệt quay về, biết rõ Phàn phu nhân có tiết tháo tựa băng sương, không thể mạo muội cầu kiến. Sau đó, Phàn phu nhân sai Niểu Yên gửi lại chàng một bài thơ, thơ rằng:

Một chén quỳnh tương dâng cảm xúc

Huyền sương giã hết, thấy Vân Anh

Lam Kiều nơi ấy thần tiên sốngCần chi lên đến tận Ngọc Thanh?

Hàng xem xong chỉ cảm thấy hơi xấu hổ, vì không sao giải thích cho tường tận ý nghĩa trong thơ. Về sau chàng không nhìn thấy nàng nữa, chỉ hàn huyên tâm sự với Niểu Yên mà thôi. Đến vùng Tương Hán, phu nhân sai Niểu Yên dọn gương lược, ra đi mà không nói một lời với Hàng, cũng chẳng ai biết nàng đi đâu. Hàng dò hỏi khắp nơi, nhưng bặt vô âm tín, rốt cuộc vẫn không tìm được tung tích của nàng. Hàng bèn thu xếp hành trang chuẩn bị về.

Khi qua tới phụ cận trạm Lam Kiều, chàng khát nước nên xuống đường tìm nước uống. Thấy ba bốn gian nhà tranh vừa thấp vừa chật hẹp, có một bà lão đang chắp sợi gai. Hàng vái chào và xin bà chén nước. Bà gọi lớn: “Vân Anh, mang vại nước ra đây, mời ngài ấy uống”. Hàng lấy làm lạ, nhớ đến “Vân Anh” trong câu thơ của Phàn phu nhân, nhưng ý nghĩa sâu xa trong đó thì chàng vẫn chưa hiểu hết. Một lúc sau, chàng thấy đôi tay ngọc hiện ra dưới rèm sậy, đưa cho chàng chiếc bình. Chàng nhận lấy và uống, quả nhiên trong mát vô cùng. Nhưng chàng còn ngửi thấy một mùi hương kỳ lạ lan tỏa khắp gian nhà. Chàng nhân lúc gửi trả lại chiếc bình để vén bức rèm lên, liền gặp một cô gái đẹp như sương thấm quỳnh anh, như hương xuân ngậm tuyết, gương mặt xinh như ngọc, tóc bồng bềnh tựa mây. Nàng nũng nịu xoay người che lấy mặt, dẫu là đóa hoa lan trong u cốc cũng không thể sánh với nhan sắc của nàng. Hàng ngây cả người, chân như mọc rễ xuống đất không sao nhấc lên được. Sẵn đó bèn thưa với bà lão: “Cả người hầu của tôi và ngựa đều đã đói lắm rồi, xin cụ cho nghỉ lại nơi đây, nhất định sẽ hết lòng hậu tạ, mong đừng từ chối”. Bà lão nói: “Ngài cứ tự nhiên đi”. Bèn cho họ cơm ăn và cỏ cho ngựa dùng. Rất lâu sau, Hàng mới nói với bà lão: “Vừa nãy tôi gặp được lệnh ái, thấy nàng xinh đẹp tuyệt trần, khiến người ta sửng sốt, tư dung vượt hơn hẳn mọi người, sở dĩ tôi còn do dự chưa đi là vì có ý muốn mang hậu lễ đến xin hỏi cưới, chẳng biết được hay không?”. Bà lão nói: “Nó đã hứa gả cho người khác rồi, chỉ là chưa tới lúc xuất giá thôi. Ta già yếu hay bệnh, chỉ có mỗi đứa cháu này. Hôm qua có vị thần tiên ban cho một đạo khuê thuốc linh đan, nhưng phải dùng chày và cối ngọc để giã, qua hết trăm ngày mới có thể dùng, khi đó sẽ thọ ngang trời đất. Giờ thế này vậy, nếu ngài tìm được chày và cối ngọc thì ta sẽ gả nó cho ngài. Còn vàng bạc gấm vóc, ta cần gì đến chúng”. Hàng bái tạ thưa: “Vậy xin lấy kỳ hạn một trăm ngày, tôi nhất định sẽ mang chày và cối ngọc đến dây, trong thời gian đó, xin cụ chớ hứa gả nàng cho ai khác”. Bà lão nói: “Được”.

Hàng hối tiếc ra đi. Về kinh thành thì tuyệt nhiên chẳng để ý gì đến chuyện khoa cử nữa. Chàng chỉ chạy tới các ngõ phường, thị trấn, ghé qua những con phố náo nhiệt để hỏi thăm chày và cối ngọc, song chẳng được một chút thông tin gì. Chàng lại tìm đến bạn bè, họ đều coi chàng như người không quen biết, ai nấy đều bảo chàng là người điên. Hơn một tháng mấy ngày, chàng vô tình gặp một ông lão bán ngọc và được ông cho biết: “Gần đây tôi nhận được thư của lão Biện ở tiệm thuốc Quắc Châu, nói rằng có chày và cối ngọc muốn bán. Ngài cần gấp như thế, để tôi viết lá thư chỉ cho ngài”. Hàng cảm tạ rồi mang theo nhiều lễ vật quý, quả nhiên tìm được cối với chày. Nhưng lão Biện nói: “Không có hai trăm xâu tiền thì không được”. Hàng dốc hết túi, bán cả ngựa lẫn người hầu mới đủ số tiền lão đòi hỏi. Rồi một mình chạy tới Lam Kiều.

Hôm chàng đến, bà lão cười và nói: “Nếu có người biết giữ tín như thế thì ta đâu tiếc gì cháu gái để trả ơn”. Cô gái cũng mỉm cười và bảo: “Tuy vậy, người đó phải giúp tôi giã thuốc một trăm ngày rồi mới bàn chuyện cưới hỏi”. Bà lão liền lấy thuốc từ trong vạt áo ra, Hàng bắt tay giã ngay lập tức, ngày làm đêm nghỉ. Đến đêm thì bà lão mang thuốc trở vào phòng, nhưng vẫn nghe tiếng giã thuốc. Chàng nhìn trộm, thấy có con thỏ ngọc đang cầm chày và cối, ánh sáng trắng như tuyết lấp lánh khắp gian phòng, soi sáng đến từng chiếc lông mao của nó. Ý chí của Hàng càng thêm phần kiên định. Cứ như vậy cho tới khi đủ ngày, bà lão uống thuốc xong thì nói: “Ta phải vào động báo hôn ước cho thân thích cùng biết, để còn chuẩn bị màn trướng giúp Bùi lang”. Rồi bà dẫn cô gái vào trong núi, lại bảo Hàng: “Ngài cứ đợi ở đây”. Thoáng chốc, xe ngựa và người hầu đều đã tới trước mặt chàng. Lại thấy một tòa phủ đệ cao ngút trời, cánh cửa nạm ngọc thì lấp lánh trong ánh nắng, bên trong chăng màn trướng dày đặc và có đủ các món đồ quý giá, chẳng thiếu thốn thứ gì, trông cứ như một gia đình thuộc hàng vọng tộc vậy. Các tiên đồng thị nữ dẫn Hàng vào hành lễ xong xuôi. Chàng bái lạy xong thì cảm động đến rơi lệ. Bà lão nói: “Bùi lang vốn là con cháu của Thanh Lãnh Bùi Chân nhân, xuất thân gia thế, không cần phải hổ thẹn với mụ”. Rồi bà dẫn chàng đi gặp gỡ khách khứa, đa phần đều là người trong giới thần tiên. Sau cùng có một tiên nữ bới tóc và mặc xiêm y rực rỡ như cầu vồng, nói mình là chị của vợ chàng. Hàng vái chào rồi, cô gái hỏi: “Bùi lang không nhận ra ư?”. Hàng đáp: “Ngày trước chưa phải là thông gia, nên chẳng nhớ đã gặp gỡ nơi nào”. Cô gái hỏi: “Vậy không nhớ đã đi cùng thuyền từ Ngạc Chử đến Tương Hán hay sao?”. Hàng càng thêm phần kinh ngạc vội khẩn khoản đáp lời, sau mới hỏi rõ nguyên do. Nàng nói: “Ta là chị của nương tử ngài, Vân Kiều phu nhân, vợ của Lưu Cương tiên quân, cũng là bậc cao chân giữ chức nữ quan của Ngọc Hoàng”. Bà lão sai Hàng dẫn vợ vào động Ngọc Phong, sống ở buồng châu lầu quỳnh, lấy tiên đan giáng tuyết quỳnh anh mà ăn, để thế chất thanh hư, da tóc được xanh đỏ rồi chuyển sang màu lục, khi ấy sẽ đạt tới cảnh giới thần hóa tự tại, bước lên cõi thượng tiên.

Đến những năm Thái Hòa, có người bạn tên Lư Hạo gặp được họ tại phía Tây trạm Lam Kiều, nhân đó Hàng kể cho bạn nghe chuyện mình đắc đạo, lại tặng Hạo mười cân ngọc Lam Điền[1] và một viên tử phủ linh đan. Hai người trò chuyện hết một ngày, Hàng nhờ Hạo chuyển thư tới bạn bè cùng thân thích. Hạo dập đầu thưa: “Nay huynh đã đắc đạo, xin dạy bảo một câu”. Hàng nói: “Lão Tử dạy: ‘Tâm trống rỗng, bụng no đầy[2]. Con người ngày nay, tâm càng lúc càng thực thì đắc đạo sao được?”. Thấy Lư tử không hiểu, Hàng lại nói: “Tâm nhiều vọng tưởng thì bụng càng trống không, xem đó cũng đủ biết cái đạo hư thực vậy. Tự mỗi người phàm đều có thuật bất tử, đều có lối hoàn đan[3], có điều là huynh chưa thể học được thôi, mai này tôi sẽ nói tiếp”. Lư tử biết không thể cưỡng cầu, nhưng vẫn ngồi đến lúc tiệc tàn mới từ biệt ra đi. Đời sau không còn ai gặp lại Bùi Hàng nữa.

[1] Truyện này nằm trong tập “Truyền kỳ” của Bùi Hình. Thời Tống có truyện “Bùi Hàng ngộ Lam Kiều Vân Anh” trong “Lục song tân ngữ” của Phong Nguyệt chủ nhân và thoại bản “Lam Kiều ký”, thời Nguyên có tạp kịch “Bùi Hàng ngộ Vân Anh” của Canh Thiên Tích, thời Minh lại có vở “Lam Kiều ký” của Lữ Thiên Thành và “Lam Kiều ngọc chử ký” của Dương Chi Quýnh, đều lấy đề tài từ truyện này.

[2] Lam Điền là một huyện nằm ở tỉnh Thiểm Tây, được đặt ra từ đời Tần, nổi tiếng với các loại ngọc. Tương truyền, Lam Kiều là một cây cầu bắc qua Lam Khê ở phía Tây Nam của huyện này.“Truyện Kiều” có câu:Rằng: Mua ngọc đến Lam KiềuSinh nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?

[3] Câu này trong chương 3 sách “Đạo đức kinh” của Lão Tử.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.