PHỤ LỤC

Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHẨM TRUNG KÝ42

❊ ❊ ❊

Thẩm Ký Tế

Năm Khai Nguyên thứ bảy, có đạo sĩ Lữ ông học được tiên thuật, đi trên đường Hàm Đan, vào nghỉ ở quán trọ, vén mũ buông đai, dựa vào túi mà ngồi. Thoáng nhìn thấy một lữ khách thiếu niên tên Lư sinh, chàng ta mặc áo ngắn vải thô, cưỡi ngựa xanh, vừa bước qua cánh đồng, cũng dừng lại trong quán, đến ngồi chung chiếu với Lữ ông, nói cười rất sảng khoái. Hồi lâu, sinh nhìn đến quần áo dơ bẩn trên người mình, bèn thở dài và than: “Đại trượng phu sống trên đời chẳng được vui vẻ, khốn quẫn thế này đây!”. Lữ ông nói: “Xem tướng mạo của anh, không khổ sở cũng chẳng bệnh tật, sống tốt như vậy, mà lại than khốn quẫn là cớ làm sao?”. Sinh nói: “Tôi tạm bợ thế này, sao gọi là đáng sống?”. Lữ ông nói: “Thế này mà còn không đáng sống, vậy đáng sống là thế nào?”. Sinh nói: “Nhân sĩ sống trên đời nên kiên lập công danh, ra vào triều, không phải tướng quân thì cũng là tướng quốc, bày đỉnh mà ăn, chọn nhạc mà nghe, khiến gia tộc ngày càng vinh hiển, còn nhà mình thì ngày càng giàu sang, cái đó mới gọi là đáng sống. Tôi từng quyết chí học hành, tinh thông du nghệ[1], tự nghĩ năm nay có thể làm đến chức quan cao. Giờ đang lúc tráng niên, vẫn phải chăm lo cày ruộng, hỏi không khốn quẫn sao được?”. Nói xong, chàng cảm thấy mắt mờ và buồn ngủ. Khi đó, chủ quán vừa nấu một nồi kê. Lữ ông bèn lấy một chiếc gối trong túi ra, đưa cho chàng và nói: “Anh gối lên đây, nó sẽ giúp anh hiển đạt thỏa chí”. Chiếc gối đó làm bằng sứ màu xanh, có hai lỗ ở hai đầu. Sinh cúi đầu tựa lên gối, thấy lỗ càng to ra và sáng rực, bèn đưa người vào trong, thế là về tới nhà mình. Mấy tháng sau, chàng cưới con gái nhà họ Thôi ở Thanh Hà, nàng xinh đẹp tuyệt trần, cũng có rất nhiều gia sản. Sinh vui lắm, y phục với ngựa xe ngày càng thêm sung túc. Năm tới, chàng đỗ Tiến sĩ, đăng tên bảng vàng và cởi bỏ áo thường dân, nhậm chức Bí hiệu, ứng chế xong thì chuyển làm Vị Nam úy, không bao lâu lại lên chức Giám sát Ngự sử, rồi tới Khởi cư xá nhân Tri chế cáo. Ba năm nữa, chàng ra quản lý Đồng Châu, lại chuyển đi làm quan mục ở đất Thiểm. Tính sinh thích thổ công từ Thiểm Tây khơi sông tám mươi dặm, giải quyết vấn đề giao thông. Dân xứ đó được lợi, khắc đá ghi công đức. Lại dời sang làm Tiết độ sứ Biện Châu, lĩnh Thái phỏng sứ đạo Hà Nam, rồi được gọi về làm Kinh Triệu doãn.

Năm ấy, Thần Vũ hoàng đế đang đối phó với Nhung Địch, cần thu đất khai cương, gặp lúc các Thổ phiên Tất Mạt La và Chúc long Mãng Bố Chi công chiếm Qua Sa, Tiết độ sứ Vương Quân Sàm vừa bị giết, vùng Hoàng Hà, Hoàng Thủy chấn động. Vua muốn tìm người có tài tướng soái, bèn phong sinh là Ngự sử Trung thừa, Tiết độ sứ Hà Tây. Sinh phá được Nhung Lỗ, chém bảy ngàn thủ cấp, mở đất chín trăm dặm, xây ba thành lớn để phòng thủ chỗ hiểm yếu. Dân chúng biên cương dựng đá trên núi Cư Diên ca tụng chàng. Sinh hồi triều được xét công ban thưởng, ân lễ cực hậu, chuyển làm Lại bộ Thị lang, thăng chức Hộ bộ Thượng thư kiêm Ngự sử Đại phu. Lúc bấy giờ, chàng ở ngôi cao được trọng vọng, quần thần lại nể nang, Tể tướng đương triều đố kỵ, tung lời ra tiếng vào để hãm hại, khiến chàng bị biếm làm Thứ sử Đoan Châu. Ba năm sau, chàng được triệu về kinh làm Thường thị, không lâu thì thăng lên chức Đồng Trung thư môn hạ Bình chương sự, cùng Trung lệnh Tiêu Tung, Thị trung Bùi Quang Đình nắm đại quyền hơn mười năm, mưu hay lệnh mật, một ngày tiếp ba lần, dâng điều hay, trừ lẽ xấu, được xưng tụng là hiền tướng. Đồng liêu hãm hại, vu cáo chàng cấu kết với tướng lĩnh biên thùy, âm mưu làm loạn. Vua xuống chế hạ ngục, cho phủ lại dẫn tùy tùng tới tận nhà bắt gấp. Sinh sợ hãi không biết làm thế nào, chàng nói với vợ con: “Nhà ta ở Sơn Đông, có ruộng tốt năm khoảnh, đủ để phòng mùa đói rét, sao lại khổ sở cầu tước lộc làm gì? Chuyện tới nước này, dẫu muốn mặc áo ngắn vải thô, cưỡi ngựa xanh, đi trên đường Hàm Đan thì cũng không được nữa”. Bèn rút dao tự vẫn, nhưng được vợ cứu sống. Những người có liên quan đều chết hết, chỉ có sinh được trung quan[2] bảo lãnh cho, nên xá miễn tội chết và lưu đày tới Hoan Châu[3]. Mấy năm sau, vua biết chàng bị oan, lại triệu về phục chức Trung thư lệnh, phong tước Yên Quốc Công, ban ân điển rất hậu. Con của sinh là Kiệm, Truyền, Vị, Thích, Ỷ đều có tài cán. Kiệm thi đỗ Tiến sĩ, làm Khảo công viên. Truyền làm Thị Ngự sử, Vị làm Thái thường thừa, Thích làm Vạn niên úy. Ỷ giỏi nhất, năm hai mươi tám tuổi làm Tả tương. Bọn họ đều kết hôn với con gái vọng tộc trong thiên hạ, cháu có mười mấy đứa. Sau hai lần suýt chết và lưu lạc khắp nơi, chàng lại bước lên đài huyền[4], ra vào đều là bậc danh gia, lui tới đều là nơi đài các, hơn năm mươi năm, sống trong sự tôn quý tột cùng. Tính chàng xa xỉ và phóng đãng, cực thích âm nhạc buông thả, thanh sắc ở hậu đình luôn là thứ diễm lệ hàng đầu. Ruộng đất, giáp đệ, giai nhân, ngựa quý chàng có được thì nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Về sau chàng ngày càng già yếu, nhiều lần xin từ quan nhưng vua đều không cho. Lúc lâm bệnh, trung nhân nối gót nhau trên đường đến thăm hỏi, danh y thuốc quý không có thứ nào chưa dùng qua. Khi sắp chết, chàng dâng sớ tâu rằng:

Thần vốn là Nho sinh ở Sơn Đông, chỉ biết tự vui với ruộng vườn. May gặp thánh vận, liệt vào quan vị. Đội ơn hoàng đế ban thưởng, hồng ân bao la, ra cửa thì cầm theo cờ tiết, vào triều thì thăng chức quan to, trong ngoài chu toàn, mấy mươi năm sung túc. Thần hổ thẹn với thiên ân, không giúp được gì cho thánh hóa, tài thấp mà ngồi ở ngôi cao, thường sợ hãi như đi trên băng mỏng. Mỗi ngày đều sống trong lo lắng, không biết tuổi già đã ghé thăm. Năm nay thần đã ngoài tám mươi, quan vị thì Tam công tột đỉnh, giọt lậu tính số cũng đã tới, xương cốt đều già cỗi, chỉ còn chút hơi tàn, đợi đến khi chấm hết. Trông lại bản thân chưa lập nên công gì để báo đáp chúa thượng, luống phụ ơn sâu, vĩnh biệt đời minh thánh. Thần cảm luyến không biết đâu mà nói, nay kính cẩn dâng biểu bày tỏ lòng cảm tạ.

Vua ban chiếu rằng:

Khanh có đức hạnh tốt đẹp, là phụ tá hàng đầu của trẫm, ra thì giữ đất và làm nên rường cột, vào thì hòa mục và khai sáng quần thần. Thanh bình được hai kỷ, quả thật đều dựa hết vào khanh. Còn như bệnh tật này, những tưởng sẽ sớm qua, nào ngờ đã trở nặng, khiến trẫm vô cùng thương xót. Nay lệnh cho Phiêu ky Đại Tướng quân Cao Lực Sĩ đến phủ thăm hỏi, khanh cố gắng chữa trị, hãy vì trẫm mà quý trọng bản thân, phải giữ lấy hy vọng, tất có ngày khỏi hẳn.

Chiều hôm đó chàng chết.

Lư sinh duỗi người thức tỉnh, thấy mình vẫn đang nằm ngửa trong quán trọ, Lữ ông ngồi bên cạnh, nồi kê của chủ quán còn chưa chín, những thứ chạm vào đều giống như ban đầu. Chàng sững sờ bật dậy hỏi: “Chẳng lẽ đó là giấc mơ ư?”. Lữ ông nói với sinh: “Cái đáng sống của kiếp người chẳng qua chỉ vậy thôi”. Sinh chán nản một hồi lâu rồi đáp tạ: “Cuộc đời vinh hiển hay hèn mạt, vận khí thông suốt hay khốn quẫn, lý lẽ có được hoặc mất đi, tình cảm lúc sống hay khi chết, tất thảy đều như thế. Nay được tiên sinh giúp kìm hãm sự tham vọng, tôi nào dám không nghe lời giáo huấn”. Chàng dập đầu bái lạy rồi ra đi.[5]

GIẤC MỘNG HOÀNG LƯƠNG

Akutagawa Ryunosuke

Lư sinh nghĩ rằng mình đã chết. Trước mắt thì tối đen như mực, tiếng khóc lóc của con cháu cũng xa dần rồi tắt hẳn. Dường như có một quả cân vô hình đang buộc dưới chân chàng, chàng cảm thấy thân thể mình đang từ từ chìm xuống. Chàng bỗng chốc giật nảy mình, cả hai mắt đều mở toang.

Đạo sĩ Lữ ông vẫn đang ngồi bên chiếc gối, nồi kê vàng chủ quán nấu cũng chưa chín nhừ. Lư sinh xoa xoa mắt, ngáp một hơi rõ dài, nhấc đầu khỏi chiếc gối sứ màu xanh. Ánh mặt trời chiếu rọi lên những cành khô đã trụi lá, buổi chạng vạng mùa thu ở Hàm Đan lúc nào cũng có vẻ thê lương.

- Tỉnh rồi sao? Lữ ông cắn bộ râu, nhịn cười và hỏi.

- Hừm.

- Anh thấy hết trong giấc mộng rồi chứ?

- Tôi đã thấy rồi.

- Vậy anh thấy những gì?

- Rất nhiều thứ, đó là giấc mộng dài. Trước thì tôi cưới được con gái nhà họ Thôi ở Thanh Hà về làm vợ, dường như nàng rất xinh đẹp và đoan chính. Năm sau, tôi đỗ Tiến sĩ, nhậm chức Vị Nam úy. Sau đó, từng làm qua các chức Giám sát Ngự sử, Khởi cư xá nhân Tri chế cáo, từng bước thăng quan, lên tới Trung thư môn hạ Bình chương sự. Do gặp phải lời gièm pha nên suýt nữa bị giết chết, may sao giữ được mạng và phát phối đến Hoan Châu, lận đận ở đó năm sáu năm. Không lâu sau, mọi oan khuất đều gột rửa, được triệu về kinh, giữ chức Trung thư lệnh, phong làm Yên Quốc Công. Khi đó tôi nghĩ đây chính là năm phúc thọ của đời mình, vì tôi đã có năm người con và mười mấy đứa cháu.

- Sau đó thì sao?

- Tôi chết đi, tôi nhớ mình đã sống hơn tám mươi tuổi.

Lữ ông vuốt râu đắc ý.

- Cái lẽ vinh nhục, thời vận sang hèn, tất cả những mùi vị đó anh đều nếm hết rồi. Kỳ diệu thay! Cái gọi là cuộc đời, so với giấc mộng của anh cũng chẳng khác gì nhiều. Do đó, sự cố chấp và cuồng nhiệt của anh với cuộc đời đã nguội đi chút nào chưa? Lý lẽ được mất, tình cảm sinh, tử, xem ra đều chẳng có ý nghĩa gì hết. Không phải vậy hay sao?

Lư sinh ngưng thần nghe những lời Lữ ông nói, tới lúc thấy ông dặn dò hết sức ân cần như vậy thì gương mặt chàng tựa như trở lại buổi thiếu niên, đôi mắt sáng rực, hỏi rằng:

- Chính bởi đây là giấc mộng, vậy nên tôi vẫn muốn sống. Giấc mộng kia mà thức tỉnh thì cũng chính là lúc tôi thức khỏi giấc mộng này. Cho tới lúc đó, tôi vẫn muốn sống một cách thật chân thành. Ngài cũng nghĩ như vậy chăng?

Khuôn mặt Lữ ông không thể hiện ra điểu gì, nhưng cũng chẳng nói một chữ “không”.

Tháng 10 năm Taisho thứ sáu (1917)

[1] Còn có tên khác là “Hoàng lương ký”. Hoàng lương có nghĩa là “kê vàng”, chỉ tình tiết nồi kê chủ quán nấu vẫn chưa chín sau giấc mộng của Lư sinh, về sau, Mã Trí Viễn (1250 -1321) đời Nguyên cải biên thành vở tạp kịch “Hàm Đan đạo tỉnh ngộ hoàng lương mộng”, Thang Hiển Tổ (1550 – 1616) đời Minh cải biên thành vở “Hàm Đan ký”, trong “Liêu Trai chí dị” của Bồ Tùng Linh (1640 – 1715) đời Thanh cũng có truyện “Tục hoàng lương”.Bài thơ “Ngẫu cảm” của vua Tự Đức có câu:Khôn dại cùng chung ba thước đất,Giàu sang chưa chín một nồi kê.

[2] Tức tài nghệ, học vấn. Xuất xứ từ thiên “Thuật nhi” trong sách “Luận ngữ”: “Y ư nhân, du ư nghệ” (noi theo điều nhân, vui trong lục nghệ).

[3] “Trung quan” tức thái giám.

[4] Hoan Châu thời Đường tương ứng với vùng Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam ngày nay. Sau khi giành độc lập, các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê vẫn giữ tên gọi Hoan Châu.

[5] “Đài huyền” chỉ ngôi vị Tam công. Tam công là tên gọi chung của ba chức quan cao nhất ở trung ương thời cổ. Thiên “Chu quan” trong Kinh Thư chép: “Lập Thái sư, Thái phó, Thái bảo, gọi là Tam công”.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.