Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KHAI HÀ KÝ

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Tuy Dương có vương khí xuất hiện, Cảnh Thuần Thần xem thiên văn, tâu rằng năm trăm năm nữa thiên tử sẽ nổi lên. Tùy Dạng Đế đã u mê dâm hoạn, không tin vào điều ấy. Lúc bấy giờ, vua đang du lãm đình Mộc Lan, sai Viên Bảo Nhi hát “Liễu chi từ”. Nhìn thấy “Quảng Lăng đồ” trên vách điện, vua trừng mắt nhìn chằm chằm, mãi vẫn chưa chịu đi. Khi ấy Tiêu hậu đứng bên cạnh, nói với vua rằng: “Không biết đó là thứ tranh gì mà khiến hoàng đế phải lưu tâm như vậy?”. Vua nói: “Đâu phải trẫm thích bức tranh này, chỉ thấy nhớ chỗ tuần du ngày trước thôi”. Thế là vua đặt tay trái lên vai Tiêu hậu, tay phải thì chỉ vào sông núi với nhà cửa, làng mạc, chùa miếu vẽ trong tranh, mọi thứ đều rõ ràng như hiện ngay trước mắt. Vua nói với Tiêu hậu: “Lúc trẫm còn làm Trần Vương, trấn thủ Quảng Lăng, ngày đêm du ngoạn nơi này. Thuở đó, trẫm xem mây khói như tuyệt cảnh, coi phú quý tựa oan gia. Ai ngờ được sau bao ngày đăng cơ, bận trăm công ngàn việc, khiến lòng mình chẳng thảnh thơi chút nào”. Nói xong thì long nhan ủ rũ. Tiêu hậu bảo: “Vua đã thấy nhớ Quảng Lăng, vậy chi bằng đi một chuyến”. Vua nghe thế thì mở cờ trong bụng.

Hôm sau, vua bàn với các đại thần, muốn dùng cự thuyền đi từ Lạc Thủy vào Hoàng Hà, từ Hoàng Hà ra đến biển rồi theo Hoài Hà tới Quảng Lăng. Quần thần đều thưa: “Nếu vậy thì lộ trình không phải chỉ vạn dặm, hơn nữa dòng Mạnh Tân chảy xiết, biển cả thì sóng lớn nước sâu, đi bằng cự thuyền chỉ e lại xảy ra bất trắc”. Lúc này, Gián nghị Đại phu Tiêu Hoài Tĩnh (em của Tiêu hậu) tâu lên: “Thần nghe nói dưới thời Tần Thủy Hoàng, Kim Lăng có vương khí, Thủy Hoàng sai người chặn đứt Chỉ Trụ, vương khí mới biến mất. Nay Tuy Dương có vương khí, bệ hạ lại quyết ý xuống Đông Nam, muốn băng qua Mạnh Tân nhưng lại lo nguy hiểm. Trong khi ở Tây Bắc Đại Lương còn có tuyến đường thủy đời xưa, do tướng nhà Tần là Vương Ly dẫn nước vào Đại Lương tạo thành[1]. Cúi xin bệ hạ triệu tập nhiều binh phu, lấy Đại Lương làm khởi điểm để khơi đào, phía Tây dẫn nước Mạnh Tần từ Hà Âm, cho chảy về phía Đông và đổ ra Hoài Khẩu. Đoạn này không quá ngàn dặm, huống hồ nếu đi qua địa phận Tuy Dương thì một là tới được Quảng Lăng, hai là chèn được vương khí”. Vua nghe tâu thì vui lắm, còn quần thần đều im lặng. Vua bèn truyền lệnh: “Trong triều nếu có ai dám cản trảm khơi sông, chém!”. Vua xuống chiếu phong Chinh Bắc Đại Tổng quản Ma Thúc Mưu làm Khai hà Đô hộ, phong Đãng khấu Tướng quân Lý Uyên làm Phó sứ, Uyên cáo bệnh chối từ, vua bèn sai Tả Đốn vệ Tướng quân Lệnh Hồ Tân Đạt thay Lý Uyên làm Khai cừ Phó sứ Đô đốc. Bắt đầu từ Đại Lương cho đến đất Lạc Đài, thiết lập phủ đào kênh, gọi là Biện Cừ (thời xưa chỉ có mỗi chữ “Biện”, thành Khai Phong là Biện ấp), nhân đó đặt tên phủ là Biện Cừ Thượng nguyên Truyền xá (truyền xá tức dịch trạm, do Biện Cừ bắt đâu từ đó nên gọi là Biện Cừ Thượng nguyên). Vua hạ chiếu trưng mộ đinh phu khắp thiên hạ, nam giới trên mười lăm và dưới năm mươi tuổi ai cũng bị gọi đến. Nếu như lẫn trốn thì xử chém ba họ. Bởi nước sông chảy qua Biện nên vua ban cho chữ “biện” thêm bộ “thủy”[2]. Đinh phu tổng cộng ba trăm sáu mươi vạn người, ngoài ra cứ năm nhà chọn một người, hoặc già, hoặc trẻ, hoặc phụ nữ để đi đưa cơm nước. Lại sai năm vạn lính tốt tráng niên tới cắm gậy giám sát, còn như số đội trưởng tiết cấp thì hết thảy hơn năm trăm bốn mươi ba vạn người. Thúc Mưu lệnh cho một phần ba phụ trách từ thượng nguồn về phía Tây đến Hà Âm, nối thông đoạn đường thủy ngày xưa (chỗ Vương Ly dìm thành), quanh co tới đài Sầu Tư rồi đi lên phía Bắc. Hai phần ba còn lại phụ trách từ trạm dịch thượng nguồn về phía Đông. Đó là năm Đại Nghiệp thứ năm thời nhà Tùy, khởi công vào thượng tuần tháng Tám. Dụng cụ đào hốt đất đã tập trung đầy đủ, từ Đông sang Tây trải dài mấy ngàn dặm.

Mới đào, chưa tới hơn một trượng thì phát hiện nhà cửa thời cổ đại, khoảng vài gian, uy nghiêm và sạch sẽ. Đèn đuốc quét sơn vẫn rực rỡ, chiếu sáng tựa ban ngày. Trên bốn bức tường đều có tranh vẽ hoa, trúc, rồng, quỷ dầy màu sắc. Bên trong có quan tài, giống như nơi an táng của gia đình hào phú. Đốc công báo lại với Thúc Mưu, Thúc Mưu truyền lệnh khai quan, tháy một người có dung mạo như còn sống, da thịt đầy đặn mà trắng trẻo như bạch ngọc, tóc từ trên đầu rũ xuống, che kín mặt rồi băng qua ngực bụng phủ tới chân, sau đó lại cuốn lên, đến dưới lưng mới hết. Tìm được tấm bia đá, chữ trên đó hình như là kiểu chữ Triện chân chim do Thương Hiệt[3] chế ra. Bèn tuyên bố: dân phu nào đọc được mấy chữ này thì sẽ miễn lao dịch. Một người ở Hạ Phi tới đọc rằng: Ta là Đại Kim Tiên, đã chết một ngàn năm. Đủ số một ngàn năm, dưới lưng có lưu tuyến. Gặp phải Ma Thúc Mưu, an táng ở cao nguyên. Tóc dài đến Nê Hoàn[4]. Đợi thêm ngàn năm nữa, mới lên Đâu Suất thiên[5]. Thúc Mưu bèn đích thân đi chuẩn bị áo quan, an táng ở góc phía Tây thành (nay là chùa Đại Phật vậy).

Kế đến thì đào tới Trấn Lưu. Dạng Đế sai sứ phi ngựa mang ngọc chúc do chính vua ký tặng cùng với đôi bạch bích và một cỗ thiếu lao, cúng tế tại miếu Lưu Hầu[6] nơi đoàn người đi qua.

Cúng xong thì chợt có gió lớn từ cửa điện thổi tới, cào rát cả mặt người. Sứ giả vội lui đi. Từ Trần Lưu tiếp tục đào về phía Đông. Người lo đào bới thì đi đi lại lại như gió cuốn chớp giật, nơi nào cũng có người tụ tập đông đúc như bầy ong, cứ thế mà tiến đến Ưng Khâu. Lúc bấy giờ, có dân phu người Trung Mâu bị mắc chứng gù lưng, không thể đi tới được, bị bỏ lại một mình ở cuối đoàn. Đêm ấy ánh trăng chiếu sáng rực, phía sau nghe thấy tiếng quát rất uy nghiêm. Anh ta cung kính đứng nép bên vệ đường rất lâu mới thấy đội mở đường xông tới, còn nghi vệ thì vây quanh. Có một quý nhân đội mão của bậc vương hầu, mặc áo của hạng vương giả, cưỡi ngựa trắng, sai tả hữu cho gọi đến và nói: “Thay ta nói với Thập nhị lang của ngươi: ‘Trả lại đôi bạch bích, mời ngươi làm khách trên trời’ (Dạng Đế trị vì thiên hạ mười hai năm)”. Nói xong thì lấy bạch bích đưa cho, anh dân phu nhận rồi, muốn bái lạy lần nữa nhưng quý nhân đã thúc ngựa về hướng Tây đi mất. Tới Ưng Khâu, anh dâng lên Ma Đô hộ, Thúc Mưu xem kỹ thì thấy đó chính là vật mang cúng tế Lưu Hầu. Hắn gặng hỏi, anh dân phu thưa trình hết mọi chuyện. Thúc Mưu tính tình tham lam, bèn giấu lấy bạch bích. Song hắn không hiểu được lời mà quý nhân đã nói, sợ anh dân phu tiết lộ ra ngoài, bèn xử chém để bịt miệng.

Sau đó lại khởi công từ Ung Khâu. Đến một khu rừng lớn, giữa rừng có ngôi miếu bé nhỏ. Thúc Mưu hỏi thăm ông lão sống trong thôn, ông nói: “Từ xưa đã truyền rằng, nơi đó gọi là mộ ẩn sĩ. Vị thần này thiêng lắm”. Thúc Mưu không tin, sai thắp đuốc đào lên. Được mấy thước, chợt phát hiện một hố trũng mọi người kéo tới xem, thấy có ánh đèn lấp lánh. Không một ai dám vào. Thúc Mưu bèn hỏi các võ tướng, Vũ Bình Lang tướng Địch Khứ Tà xin xuống đó xem xét. Thúc Mưu vui mừng nói: “Đúng là hạng Kinh Nhiếp[7] đây mà”. Rồi sai buộc ngang lưng Khứ Tà và thả dây, xuống khoảng mấy chục trượng mới chạm đất. Khứ Tà tháo dây, đi được chừng trăm bước thì vào đến một thạch thất. Phía Đông và phía Bắc mỗi nơi đều có bốn cột đá, có hai sợi xích buộc lấy một con thú, trông giống hệt con trâu, nhưng nhìn kỹ thì hóa ra đó là con chuột lớn. Thoáng chốc, ở phía Tây thạch thất có cánh cửa mở toang, một đồng tử xuất hiện nói: “Ngài chẳng phải Địch Khứ Tà hay sao?”. Đáp: “Đúng vậy”. Đồng tử nói: “Hoàng Phủ quân đã đợi ngài lâu rồi”. Sau đó dẫn vào. Thấy một người mặc áo son, đội vân quan, đang ngồi trên cao đường. Khứ Tà lạy hai lạy, người kia chẳng nói gì, cũng không đáp lễ. Viên lại áo xanh đưa Khứ Tà tới đứng dưới bậc thềm phía Tây đường. Rất lâu sau, người trên đó mới gọi lực sĩ hãy dắt A Ma ra (A Ma là tiểu tự của Tùy Dạng Đế[8]). Mấy tên võ phu cao lớn, tướng mạo như quỷ dữ, đang kéo con chuột mà Khứ Tà vừa nhìn thấy. Khứ Tà vốn là thần tử, biết tiểu tự của vua, nhưng lại chẳng hiểu chuyện gì, đành nín thở đứng yên. Người trên kia trách con chuột: “Ta sai ngươi tạm thời thoát xác để làm chủ Trung Quốc, cớ sao ngươi lại ngược đãi dân chúng, tàn hại sinh linh, không tuân theo thiên đạo?”. Con chuột chỉ gật đầu với vẩy đuổi mà thôi. Người đó càng thêm giận, lệnh cho võ sĩ lấy gậy lớn đánh mạnh vào đầu nó. Chỉ một gậy đã vỡ đầu, âm thanh như tường đổ, con chuột rú lên không khác gì tiếng sấm. Đang tính vung gậy để đánh thêm đòn nữa thì bỗng thấy một đồng tử cầm thiên phù bay xuống. Người kia kinh hãi rời khỏi ghế, vội bước ngay xuống thềm, nằm phủ phục chờ nghe lệnh. Đồng tử bèn tuyên đọc:

Số của A Ma vốn một kỷ, nay đã hết bảy năm, cứ đợi năm năm nữa, tới lúc đó dùng dải khăn buộc quanh cổ giết chết.

Đồng tử đi rồi, người kia lại truyền lệnh trói con chuột vào chỗ cũ. Sau đó bảo Khứ Tà: “Thay ta nói lại với Ma Thúc Mưu: ‘Tạ ơn ngươi không phá hủy mộ ta, năm tới ta dâng tặng hai đao vàng, chớ bảo rằng ta không báo đáp trọng hậu’”. Dứt lời, viên lại áo xanh dẫn Khứ Tà ra ngoài theo cửa khác. Đi khoảng mười mấy dặm thì vào đến khu rừng, cứ đạp lên đá và bám lấy dây leo tiến tới. Quay lại nhìn thì sứ giả biến mất rồi. Lại đi tiếp hơn ba dặm, thấy một gian nhà cỏ, một ông lão đang ngồi trên ụ đất. Khứ Tà hỏi đây là nơi nào, ông lão đáp: “Nơi này là dưới chân ngọn Thiếu Thất của Tung Dương”. Ông hỏi Khứ Tà từ đâu đến, Khứ Tà kể hết mọi chuyện. Ông lão bèn giải thích đầu đuôi cho Khứ Tà. Khứ Tà biết Dạng Đế không sống được bao lâu. Ông lão còn nói: “Ngài có thể từ quan để thoát khỏi miệng hổ”. Khứ Tà đi về hướng Đông, gian nhà cỏ cũng biến mất chẳng để lại dấu vết. Lúc này Ma Đô hộ đã tới huyện Ninh Dương. Khứ Tà gặp Thúc Mưu báo cáo lại chuyện ấy. Sau khi Khứ Tà vào ngôi mộ thì mộ liền sụp đổ, mọi người tưởng Khứ Tà đã chết, nay bỗng trở về, Thúc Mưu không tin lời ông, cho là nói xằng. Khứ Tà bèn giả vờ mắc bệnh cuồng, ở ẩn tại núi Chung Nam. Bấy giờ, Dạng Đế đang bị đau đầu, hơn một tháng không thiết triều. Hỏi nguyên nhân, ai cũng bảo rằng vua nằm mộng bị người ta đánh vào sọ, sau đó đau nhức suốt mấy hôm. Đấy cũng chính là ngày Khứ Tà gặp con chuột.

Thúc Mưu đến huyện Ninh Lăng thì trúng gió, không thể ngồi dậy được. Vua sai Thái y lệnh Sào Nguyên Phương tới khám. Thái y nói: “Phong nhập vào thớ da, mắc bệnh ở trong tâm, nên dùng thịt dê non béo hầm nhừ, hòa với thuốc rồi ăn thì sẽ khỏi”. Thúc Mưu bèn bắt con dê nửa tuổi đem giết, giữ lại xoang, hòa thuốc uống, uống chưa hết đã dứt bệnh. Từ đó thường sai người giết dê, mỗi lần giết mấy con, nhồi sữa hạnh với ngũ vị chưng vào xoang bàn của nó, tự dùng tay xé lấy thịt mà ăn, gọi là Hàm tô luyến. Mấy ngàn người trong thôn xóm tới dâng dê đều được thưởng rất hậu. Nhà Đào Lang Nhi ở thôn Hạ Mã của Ninh Lăng là một gia đình cự phú, anh em hắn ai nấy cũng dữ tợn. Bởi mộ phần của tổ phụ hắn chỉ cách đoạn đường thủy hơn hai trượng, hắn lo bị khai quật, bèn trộm đứa bé ba bốn tuổi con người khác đem giết chết, chặt đầu bỏ chân, hầm chín rồi dâng lên Thúc Mưu. Thúc Mưu ăn thấy mùi vị thơm ngon, khác hẳn với thịt dê, nên thích thú vô cùng. Gọi Lang Nhi tới hỏi, hắn uống say tiết lộ chuyện, khi tỉnh lại thì Thúc Mưu thưởng cho mười lượng vàng, còn sai dịch phu đào một khúc quanh sông để giữ gìn mộ nhà hắn. Anh em Lang Nhi sau đó hễ trộm được trẻ con thì lại dâng Thúc Mưu, lần nào cũng được trọng thưởng. Dân nghèo có kẻ biết chuyện, cũng tranh nhau trộm con nhà người khác đem dâng để nhận thưởng. Trong địa phận các vùng như Tương Ấp, Ninh Lăng, Tuy Dương, hàng trăm người mất con, tiếng khóc than ai oán vang vọng suốt đêm ngày không dứt. Hổ bôn Lang tướng Đoàn Đạt làm Trung môn sứ, nhận biểu của bốn phương tâu lên, Thúc Mưu sai gia nô Hoàng Kim Quật mang vàng đến biếu tặng. Phàm có kẻ dâng biểu tố cáo việc ăn con, không cần hỏi sự tình, cứ cho đánh lên lưng bốn mươi roi rồi áp giải về Lạc Dương. Dọc đường, họ chết hết bảy tám phần. Lệnh Hô Tân Đạt biết chuyện, ngầm sai người đi thu gom xương cốt, chưa được mấy ngày thì xương đã chất đầy xe. Thế là các hộ có con nhỏ ở thành thị với thôn phường, nhà nào cũng đóng rương gỗ và lấy sắt bao lại. Mỗi đêm, họ cho mẹ con vào trong rương và cài khóa, cả nhà thắp đuốc đứng vây quanh trông chừng. Đến sáng mở rương mà vẫn nhìn thấy con thì già trẻ đều mừng vui.

Tới địa phận Tuy Dương, Hào trại sứ Trần Bá Cung nói rằng: ở nơi đây, nếu đào theo đường thẳng thì sẽ băng qua thành Tuy Dương, còn như muốn giữ thành thì cần xin lệnh chỉ. Thúc Mưu nghe nói giữ thành thì nổi giận, sai lôi ra chém ngang lưng. Lệnh Hồ Tân Đạt cứu lấy. Đương thời, số thị dân giàu có ở Tuy Dương là một trăm tám chục hộ, ai cũng sợ đào sông băng qua nhà cửa với phần mộ tổ tiên, bèn gom góp ba ngàn lượng vàng, định biếu xén Thúc Mưu, nhưng chưa tìm được người dẫn dắt. Chợt đi ngang khu rừng lớn, giữa rừng có ngôi mộ, từ xưa đã truyền rằng đó là mộ của Tư mã Hoa Nguyên[9] nước Tống. Đào qua một gian thạch thất, trong phòng, những đồ dùng như đèn đuốc, quan tài, màn trướng hễ gặp gió là tan thành tro bụi. Tìm được một bia đá viết rằng: Tuy Dương địa hình cao, Biện Thủy đủ làm hào. Nếu như chịu tránh né, xin dâng tặng hai đao. Thúc Mưu nói: “Đây là đồ giả trá, không đáng tin”. Đêm đó, Thúc Mưu nằm mơ thấy sứ giả mời đến trên cung điện, gặp một người mình mặc áo lụa đỏ, đầu đội tiến hiển quan. Thúc Mưu lạy hai lạy, vương cũng đáp lễ. Chào nhau xong thì nói: “Quả nhân là Tống Tương Công[10], Thượng Đế sai trấn thủ nơi đây đã hai ngàn năm rồi. Ví phỏng tướng quân mượn lấy chút phương tiện, đi vòng qua khu vực này, vậy thì già trẻ cả thành đều cảm tạ ơn đức của tướng quân”. Thúc Mưu không đồng ý. Lại nói: “Chuyện giữ thành ban nãy không phải ý của quả nhân, mà là mệnh lệnh của Thượng Đế. Ngài nói trong năm trăm năm tới, đất này sẽ có bậc vương giả gây dựng nên cơ nghiệp muôn đời, há có thể vì vui chơi mà làm đứt đi vương khí?”. Thúc Mưu vẫn không chấp thuận. Rất lâu sau thì có kẻ vào tâu: “Đại Tư mã Hoa Nguyên tới”. Tả hữu dẫn một người mặc áo tím và đội tiến hiền quan bước vào, vái chào trước mặt vương. Vương bèn nói chuyện giữ thành, người đó nổi giận đùng đùng: “Thượng Đế đã truyền lệnh, cớ sao tên ngu muội Thúc Mưu lại không hiểu ý trời?”. Rồi quát tả hữu mang dụng cụ tra tấn đến. Vương hỏi: “Trong các phương pháp tra tấn thì loại nào đau đớn nhất?”. Người áo tím đáp: “Tưới đồng vào miệng cho đốt cháy tỳ vị, thứ đó đứng đầu”. Vua cho phép. Lập tức mấy võ sĩ tới giữ lấy Thúc Mưu, cởi y phục của hắn ra, chỉ để lại quần độc tỵ, dùng xích trói chặt vào cây cột, chuẩn bị rót đồng nung chảy vào. Thúc Mưu hồn bay phách tán. Người trên điện bảo dừng lại và hỏi: “Chuyện giữ thành ngài tính thế nào đây?”. Thúc Mưu đáp ngay: “Xin tuân lệnh Thượng Đế”. Liền cho cởi trói và trả lại y phục. Vương bảo dẫn đi, lúc sắp bước ra thì người áo tím nói: “Thượng Đế ban cho Thúc Mưu ba ngàn lượng vàng, lấy ở dân gian”. Tính Thúc Mưu tham lam, vội hỏi lại sứ giả: “Thượng Đế thưởng vàng, nghĩa là sao vậy?”. Sứ giả nói: “Có bách tính Tuy Dương dâng lên cho tướng quân, cõi âm quyết định, cõi dương nhận lấy”. Chợt tỉnh giấc, chỉ thấy thần hồn không còn trong thân thể. Quả nhiên dân chúng Tuy Dương hối lộ Hoàng Kim Quật đế dâng tặng ba ngàn lượng vàng. Thúc Mưu nhớ lại chuyện trong mộng, bèn thu lấy. Lập tức cho triệu Trần Bá Cung, sai đào kênh từ phía Tây Tuy Dương, uốn cong Nam Bắc, theo hướng Đông băng qua thôn Lưu Triệu rồi cứ thế nối dài. Lệnh Hồ Tân Đạt biết được, nhiều lần dâng biểu, song Đoàn Đạt giấu đi chứ không tâu.

Tới Bành Thành, băng qua khu rừng lớn, trong rừng có ngôi mộ Yển Vương[11]. Đào mấy thước thì không xuống được nữa, đó là sắt đồng vậy. Bèn xới đất xung quanh lên, chỉ thấy bên mộ sắt có một cánh cửa đá khóa rất chặt, liền dùng mưu kế của dân Toản Dương để mở ra. Thúc Mưu tự mình đi vào mộ, khoảng hơn trăm bước thì có hai đồng tử đến nói: “Yển Vương đợi đã lâu”. Thúc Mưu liền theo chúng. Nhìn thấy cung điện, một người đội thông thiên quan và mặc áo lụa đỏ ngồi trên ấy. Thúc Mưu bái lạy, vương cũng đáp lễ và nói: “Mộ của quả nhân nằm ngay trên tuyến khơi sông, nay dâng tặng tướng quân một ngọc bảo[12], khiến tướng quân có thiên hạ. Nếu như giữ được ngôi mộ thì may lắm”. Thúc Mưu nhận lời. Vương bèn sai sứ giả mang ấn ngọc ra trao cho Thúc Mưu, Thúc Mưu xem ấn văn, ra là “Bách đại đế vương thụ mệnh ngọc ấn”. Thúc Mưu vui lắm. Vương lại nói: “Xin hết sức cẩn thận, dây là điềm “đao đao” đó (“đao đao” là ẩn ngữ, ám chỉ “hai đao vàng”)”. Thúc Mưu ra ngoài, truyền lệnh xuống binh phu giữ mộ này. Khi ấy, Dạng Đế đang ở Lạc Dương, chợt mất đi quốc bảo, cho lục khắp hoàng cung nhưng cũng chẳng tìm ra, song giấu đi không tiết lộ. Dạng Đế thúc khơi sông rất gấp, từ Từ Châu, Thúc Mưu bắt dân công làm việc suốt ngày đêm không nghỉ, số người lao dịch đã giảm bớt hơn một trăm năm mươi vạn, xác chết đầy đồng.

Dạng Đế ngồi trong điện Quan Văn đọc sách, đang xem “Sử ký”, đọc đến chuyện Tắn Thủy Hoàng xây Trường Thành. Vua nói với Tể tướng Vũ Văn Thuật: “Từ thời Thủy Hoàng đến nay đã ngót ngàn năm rồi, Trường Thành e là sắp sụp đổ”. Vũ Văn Thuật theo ý vua tâu lên: “Bệ hạ tình cờ đọc truyện Tần Thủy Hoàng, muốn gây dựng nên cơ nghiệp vạn thế, chi bằng cho tu sửa Trường Thành, khiến tường lũy thêm kiên cố”. Vua vui lắm, bèn hạ chiếu phong Thư Quốc Công Hạ Nhược Bật làm Tu Thành Đô hộ, phong Gián nghị Đại phu Cao Quýnh làm Phó sứ, trưng mộ một trăm hai mươi vạn đinh phu từ các châu Ngô, Sở, Tương, Đặng, Trần, Thái, Tịnh khắp một dải Giang Hoài, sai họ đi tu sửa Trường Thành. Chiếu ban xuống, Nhược Bật can vua: “Thần nghe nói Thủy Hoàng xây Trường Thành ở biên tái xa xôi, kéo dài liên tiếp một vạn dặm, khiến cho trai phải bỏ mạng, gái chẳng lấy được chồng, đẩy bao người rơi vào cảnh vợ góa con côi. Thành chưa xây xong thì cha con đều chết. Bệ hạ lại nghe lời cuồng ngôn, học theo chuyện bại vong của nhà Tần, e rằng xã tắc cũng tan hoang như đời Tần mà thôi”. Vua rất giận, nhưng chưa kịp lên tiếng thì Vũ Văn Thuật đứng kế bên đã quát to: “Tên võ phu ngạo mạn như ngươi biết cái gì, sao dám làm loạn mưu lược lớn?”. Nhược Bật phẫn nộ, lấy thanh giản bằng ngà voi đánh Vũ Văn Thuật. Vua càng giận, bắt giam cả nhà Nhược Bật, đêm đó dùng rượu độc giết chết ông. Cao Quýnh cũng không đi. Vũ Văn Thuật bèn đề cử Tư nông khanh Vũ Văn Bật làm Tu Thành Đô hộ, cử Dân bộ[13] Thị lang Vũ Văn Khải làm Phó sứ.

Lúc này, Thúc Mưu đã khơi Biện Cừ đến Quán Khẩu, cho điểm lại đinh phu, thấy tổn thất khoảng hai trăm năm mươi vạn người. Binh sĩ dưới quyền hắn ban đầu có năm vạn người, nay mất hết hai vạn ba ngàn quân. Công trình hoàn thành thì tâu lên Dạng Đế, đồng thời truyền lệnh mở Biện Khẩu, dẫn nước vào Biện Cừ. Dạng Đế từ Lạc Dương dời xuống Đại Cừ, ban chiếu sai các châu Giang Hoài đóng năm trăm chiếc thuyền lớn. Sứ mang lệnh tới, gấp như cháy nhà. Dân chúng bị phát phối đi đóng thuyền thì tán gia bại sản, dùng hết của cải vẫn không đủ. Cố đeo gông, lưng chịu đòn, sau đó còn phải bán con cái để cung ứng cho nhà quan sử dụng. Thuyền rồng đóng xong, cho hạ thủy tại Trường Giang và men theo Hoài Thủy tiến xuống. Đến Đại Lương, vua còn cho tu sức thêm, khảm lên đó toàn ngọc vàng thất bảo. Ở Ngô Việt thì chọn năm trăm cô gái tuổi mười lăm, mười sáu, gọi là điện cước nữ, đưa lên thuyền rồng cẩm mái, mỗi thuyền dùng mười sợi cáp sặc sỡ, mỗi sợi giao cho mười điện cước nữ và mười con dê non, sai các cô gái đi lẫn giữa bầy dê và kéo thuyền. Lúc bấy giờ, để tránh cơn oi bức, Hàn lâm học sĩ Ngu Thế Cơ hiến kế, xin trồng thùy liễu ở hai bên đê Biện Cừ, một là gốc liễu tản ra bốn mặt giúp gia cố bờ đê, hai là che mát cho những ai kéo thuyền, ba là có lá để cho dê kéo thuyền ăn. Vua vui lắm, hạ chiếu nói: người nào dâng lên một gốc liều thì ban thưởng một cuốn lụa. Dân chúng tranh nhau dâng lên vua. Dạng Đế lại sai tự trồng, vua đích thân trồng một cây xuống trước, quần thần cũng trồng theo thứ tự, sau đó mới đến lượt bách tính. Đương thời, dân gian lưu truyền câu ca dao: Thiên tử trồng trước, tới lượt lê dân. Trồng xong, Dạng Đế còn ngự bút ban cho thùy liễu họ Dương, gọi là dương liễu. Khi đó, đầu thuyền đuôi thuyền nối tiếp nhau, kéo dài cả ngàn dặm, từ Đại Lương đến Hoài Khẩu, thuyền bè liên miên không ngớt. Nơi buồm gấm đi qua, hương thơm lan tỏa suốt trăm dặm. Tới Ưng Khâu rồi từ từ tiến vào địa phận Ninh Lăng. Nước dần dần chảy xiết, thuyền rồng di chuyển không thuận lợi, những người kéo thuyền cũng tốn rất nhiều sức. Hồ bôn Lang tướng Tiên Vu Câu La giữ chức Hộ lãm sứ, tâu rằng nước nông sông hẹp, thuyền trôi rất khó. Vua bèn hỏi Ngu Thế Cơ. Đáp rằng: “Xin làm con ngỗng gỗ chân sắt, dài một trượng hai thước, thả xuống từ thượng lưu. Ngỗng dừng chỗ nào thì chỗ đó nước cạn”. Vua y lời, liền sai Hữu dực Tướng quân Lưu Sầm đi kiểm tra chỗ nước cạn. Từ Ưng Khâu đến Quán Khẩu, tổng cộng có một trăm hai mươi chín chỗ. Vua nổi giận, sai tra cứu họ tên của viên lại giám sát ở mỗi nơi. Phàm là chỗ ngỗng dừng thì những người hai bên bờ đều bị trói và chôn ngược bên dưới, nói rằng: “Để các ngươi lúc sống thì làm phu đào sông, khi chết thì làm ma ôm cát”. Chôn sống hơn năm vạn người.

Tới Tuy Dương, Dạng Đế hỏi Thúc Mưu: “Nhà cửa phố hường đã đào được bao nhiêu?”. Thúc Mưu đáp: “Tuy Dương là chốn địa linh, không thể nào xâm phạm. Nếu cho đào lên thì ắt có chuyện bất tường. Thần đã giữ lại thành ấy”. Vua tức giận, sai Lưu Sấm ngồi thuyền nhỏ đi dò xét những khúc quanh, thấy dài hơn hai mươi dặm so với đoạn đường thẳng. Vua càng thêm giận, bèn hạ lệnh bắt Thúc Mưu, tống giam vào hậu ngục. Sau đó thì triệu gấp Lệnh Hồ Tân Đạt tới tra hỏi nguyên do. Đạt tâu: “Thúc Mưu từ Ninh Lăng đã phạm pháp. Ban đầu là ăn thịt dê, sau đó nuốt đến trẻ em, dung túng cho tên giặc Đào Lang Nhi cướp con của người khác, lại nhận ba ngàn lượng vàng, tự ý thay đổi đường sông ở Tuy Dương”. Rồi lấy xương trẻ em trình lên vua. Vua hỏi: “Tại sao ngươi không tấu?”. Đạt thưa: “Thần dâng biểu chương mấy lần, nhưng Đoàn Đạt giấu giếm không báo lên”. Vua sai người lục soát hành lý của Thúc Mưu, tìm được số vàng do dân chúng Tuy Dương biếu xén, còn phát hiện ra bạch bích mà Lưu Hầu trả lại cùng với Thụ mệnh bảo ngọc ấn. Vua rất lấy làm lạ, hỏi Vũ Văn Thuật rằng: “Vàng bạc với bạch bích là chuyện nhỏ, nhưng sao ngọc bảo của quả nhân cũng ở đây?”. Vũ Văn Thuật đáp: “Chắc chắn là sai tên giặc lấy trộm rồi”. Vua trừng mắt nói: “Thúc Mưu hôm nay trộm ngọc bảo của ta, ngày mai ắt sẽ trộm đầu ta”. Tân Đạt đứng kế bên nói: “Thúc Mưu từng sai Đào Lang Nhi trộm con của người khác, e rằng quốc bảo cũng là do Lang Nhi trộm”. Vua càng giận, sai Vinh Quốc Công Lai Hộ Nhi, Nội sử Lý Bách Được, Thái bộc khanh Dương Nghĩa Thần thẩm vấn Ma Thúc Mưu, lập phủ đường tại Tuy Dương. Đồng thời bắt cả nhà Đào Lang Nhi, ép Lang Nhi cung khai việc nhập cung trộm ấn. Lang Nhi không chịu được đau đớn, bèn thừa nhận tất cả. Lại truy cứu đến Đoàn Đạt, khép tội nhận tấu chương của Lệnh Hồ Tân Đạt mà không dâng. Lập xong bản án thì trình lên Dạng Đế, vua hỏi Thừa tướng Vũ Văn Thuật. Thuật tâu rằng: “Thúc Mưu đã phạm bốn đại tội: ăn con người khác, nhận vàng hối lộ, sai trộm ngọc bảo, sửa đối đường sông. Xin dùng hình phạt nghiêm khắc để xử tử. Con cháu thì chờ thánh chỉ”. Vua nói: “Tuy Thúc Mưu phạm tội lớn, nhưng khơi sông có công lao, vậy nên miễn cho con cháu”. Chỉ truyền lệnh chém ngang lưng Ma Thúc Mưu bên bờ sông.

Lúc bấy giờ, trong khi Lai Hộ Nhi nhận sắc nhưng chưa đến, Thúc Mưu nằm mộng thấy một đồng tử từ trên trời bay xuống, nói rằng: “Tống Tương Công và Đại Tư mã Hoa Nguyên sai ta đến, cảm tạ ơn đức giữ thành của tướng quân, năm ngoái có hứa hai đao vàng, hôm nay xin trao vậy”. Thúc Mưu tỉnh dậy nói: “Dựa theo điềm báo trước mà xem xét, quả thật không hay rồi. Cổ và lưng ta e khó giữ”. Chưa dứt lời thì Hộ Nhi đã tới, cho giải lên bờ Bắc và chém thành ba đoạn. Huynh đệ Lang Nhi năm người và cả tên gia nô Hoàng Kim Quật đều bị roi đánh chết. Trung môn sứ Đoàn Đạt được tha chết nhưng giáng làm Giám môn lệnh Lạc Dương.

[1] Ở đây truyện chép nhầm, vì người dẫn nước vào Đại Lương là Vương Bôn – con của danh tướng Vương Tiễn và là cha của Vương Ly. Năm 225 trước Công Nguyên, Vương Bôn đưa quân diệt nước Ngụy, ông đã dẫn nước Hoàng Hà, Đại Câu Thủy tràn vào để dìm ngập kinh đô Đại Lương.

[2] Chữ “biện” (卞) thêm bộ “thúy” (氵) thì sẽ thành chữ “biện” (汴).

[3] Thương Hiệt là quan của Hoàng đế Tương truyền, ông đã sáng tạo ra chữ Hán.

[4] Thuật ngữ “Nê Hoàn” mang nhiều nghĩa khác nhau, có thể chỉ não bộ, Đan Điền hoặc Bách Hội. Ở đây miêu tả tóc dài phải cuốn ngược đến dưới lưng, vậy vị trí này tương ứng với Đan Điền.

[5] Theo Phật giáo, Đâu Suất thiên (Tusita) là tầng trời thứ tư trong Dục giới, chư thiên ở cõi trời này luôn sống vui vẻ, an lạc và sung túc.

[6] Lưu Hầu tức Trương Lương, tự Tử Phòng, người phò tá Lưu Bang lập nên nhà Hán.

[7] Chỉ Kinh Kha và Nhiếp Chính, những dũng sĩ thời Chiến Quốc.

[8] Dạng Đế sinh năm 569, rơi vào giữa năm Mậu Tý và năm Kỷ Sửu Âm lịch, do đó A Ma là con chuột nhưng lại giống con trâu.

[9] Hoa Nguyên là đại phu nước Tống thời Xuân Thu, làm quan dưới bốn triều vua, nắm quyền lực rất lớn.

[10] Tống Tương Công từng ôm mộng tranh bá ở Trung Nguyên, tuy thua quân Sở ở Hoàng Thủy nhưng sử sách vẫn liệt ông vào Ngũ Bá.

[11] Tức Từ Yển Vương, họ Doanh, từng khởi binh đánh nhà Chu nhưng bị Chu Mục Vương tiêu diệt, con cháu vẫn được Mục Vương cho kế thừa nước Từ.

[12] Nhà Tần gọi ấn vua là “tỷ” (璽), đến thời Đường thì gọi là “bảo” (寶).

[13] Dân bộ tức Hộ bộ. Dưới thời Đường, Cao Tông kiêng tên húy của Thái Tông (Lý Thế Dân) nên cho đổi thành Hộ bộ.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.