Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LÝ SƯ SƯ NGOẠI TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Lý Sư Sư là con gái của thợ nhuộm Vương Dần ở phường Vĩnh Khánh, Nhị Sương, phía Đông Biện Kinh. Vợ Dần sinh con xong thì mất, Dần phải lấy sữa đậu cho bú thay, nó mới không chết, suốt thời bọc tã nằm nôi chưa kêu khóc bao giờ. Theo phong tục đất Biện, phàm sinh con trai hay con gái, nếu cha mẹ yêu thương thì tất bỏ ở chùa. Dẫn thương con, bèn bỏ tại chùa Bảo Quang. Khi đó đứa bé mới biết cười. Một lão tăng nhìn thấy thì hỏi rằng: “Đây là nơi nào, mà con từ đâu tới?”. Đứa bé nghe hỏi thì bật khóc, nhà sư xoa đầu nó, nó nín ngay. Dần trộm mừng nói: “Đứa con gái này đúng là đệ tử của Phật”. Đệ tử của Phật, thế tục gọi là “sư”, vậy nên đặt tên là Sư Sư. Sư Sư mới bốn tuổi thì Dần phạm tội, bị hạ ngục rồi chết. Sư Sư không biết phải đi đâu, có Lý mỗ[1] treo tên trong xướng tịch thu nhận về nuôi dưỡng. Đến khi trưởng thành thì nhan sắc với tài nghệ đều tuyệt luân, danh tiếng đứng đầu các ca phường.

Tống Huy Tông vừa kế vị, hiếu sự và xa hoa, bọn Sái Kinh, Chương Thuần, Vương Phủ[2] giả danh kế thừa tân pháp[3] khuyên vua tiếp tục thi hành phép thanh miêu[4]. Khắp Trường An đều tô sức để vẽ nên khí tượng ấm no và vui vẻ. Thuế rượu trên phố chợ mỗi ngày tính đến vạn quan, vàng ngọc lụa là thì chất đầy trong kho phủ. Thế rồi bọn Đồng Quán, Chu Miễn[5] còn đem các trò vui như thanh sắc, săn bắn, cung thất, vườn tược đến. Phàm các thứ kỳ hoa dị thảo trong thiên hạ, hết thảy thu gom không bỏ sót. Lại xây dựng Ly cung ở phía Bắc Biện Thành, gọi là Cấn Nhạc, vua thường vui chơi ở đó, nhưng lâu ngày cũng thấy chán, do đó muốn vi hành, du ngoạn khắp hang cùng ngõ hẻm.

Nội áp ban Trương Địch là tự nhân thân cận được nhà vua sủng ái, lúc chưa vào cung từng là khách làng chơi ở Trường An, lui tới mọi ca phường, qua lại thân thiết với Lý mỗ, bèn tâu vua rằng có Lũng Tây thị[6] tài sắc vẹn toàn, vua lấy làm thích thú.

Hôm sau, vua sai Địch lấy hai súc nhung tím, hai cuộn gấm mây, hai viên châu nhỏ, hai mươi dật bạch kim, nói dối là phú thương Triệu Ất muốn ghé qua thăm một chuyến. Lý mỗ nhìn thấy nhiều tiền vàng nên vui vẻ bằng lòng ngay. Chiều tối, vua thay áo, dẫn theo hơn bốn mươi tên nội thị, rời Đông Hoa Môn khoảng hai dặm thì tới phường Trấn An. Phường Trấn An là nơi ở của Lý mỗ vậy. Vua ngăn mọi người lại, một mình cùng với Địch thong thả đi tới. Cửa nhà thấp và chật hẹp, Lý mỗ ra nghênh đón, bước xuống sân thi lễ, hỏi thăm chu đáo, sau đó mời vào và dâng lên mấy loại quả theo mùa, có ngó sen hương tuyết, tần bà thủy tinh, táo tươi thì to như quả trứng, đó đều là những món đại quan chưa từng dâng. Mỗi thứ nhà vua nếm một trái. Mụ lại tiếp chuyện một hôi lâu, nhưng chưa thấy Sư Sư ra chào. Vua đành tiếp tục đợi. Lúc bấy giờ, Địch đã cáo lui rồi, mụ bèn dẫn vua ra hiên nhỏ, có vài chiếc rương kê bên song cửa sổ, bày biện mấy pho sách, ngoài song có mấy bụi tre non đang rợp bóng um tùm. Vua thơ thẩn ngồi yên, ý tình bay bổng, nhưng vẫn chưa thấy Sư Sư ra hầu mình. Phút chốc, mụ lại dẫn vua tới hậu đường, bày sẵn các món nem hươu, gà hấp, gỏi cá, dê xiên, cơm cũng nấu bằng gạo thơm. Vua ăn một bát, mụ đứng bên hầu hạ chuyện trò được một lúc, vậy mà cuối cùng Sư Sư vẫn chưa ra gặp mặt. Vua lấy làm nghi hoặc, mụ bỗng mời vua đi tắm. Vua từ chối, mụ ghé tai vua bảo rằng: “Tính cháu nó ưa sạch sẽ, xin chớ làm trái”. Vua bất đắc dĩ theo mụ đến phòng tắm ở bên dưới tiểu lâu mà tắm gội. Xong xuôi, mụ lại dẫn vua lên ngồi giữa hậu đường rồi dâng hoa quả thủy lục, ly chén mới tinh tươm tất, khuyên vua nên hoan ẩm, nhưng Sư Sư mãi vẫn chưa xuất hiện. Rất lâu sau, mụ mới cầm ngọn nến dắt nhà vua sang phòng, vua vén màn bước vào, chỉ có một ngọn đèn nhấp nháy, tuyệt chẳng thấy Sư Sư đâu, vua càng lấy làm lạ, đành tựa bàn rồi nằm xuống giường chờ. Thêm một hồi lâu nữa, vua mới thấy Lý mỗ đỡ cô gái từ từ đi tới, nàng trang điểm qua loa, mặc áo lụa trắng tinh chứ không khoác xiêm y rực rỡ. Nàng mới tắm xong, trông kiều diễm như đóa phù dung trồi lên khỏi mặt nước. Thấy vua, nàng dường như không để mắt, dáng vẻ vô cùng kiêu ngạo, không thèm thi lễ. Mụ nói nhỏ với vua: “Cháu nó tính tình ương bướng, xin đừng trách”. Dưới ánh đèn, vua ngưng mắt nhìn kỹ, thấy nàng u nhã thanh cao, dung nhan thì xinh đẹp rạng ngời. Vua hỏi tuổi nàng, nàng không đáp, gặng hỏi thì nàng dời sang chỗ khác. Mụ lại ghé tai vua bảo: “Tính cháu nó ưa ngồi yên tĩnh mịch, đường đột như thế này, xin đừng trách tội”. Bèn buông rèm rồi đi ra. Sư Sư đứng dậy, cởi áo khoác lụa đen, chỉ mặc áo cánh nhẹ, vén tay áo bên phải với lấy cây đàn treo trên vách, sau đó ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn, gảy khúc “Bình sa lạc nhạn”. Nàng vuốt phím nhẹ nhàng và chậm rãi, âm vận thánh thót mà vang xa, vua lắng tai nghe, bất giác quên đi mệt mỏi. Đánh hết ba khúc thì gà đã gáy sáng, vua vội vén rèm đi ra. Lý mỗ nghe thấy cũng tỉnh dậy, dâng các món điểm tâm như mứt hạnh, bánh táo, bánh bột. Vua uống một ly mứt hạnh rồi đứng dậy quay về. Bọn nội thị tùy tùng âm thầm đợi bên ngoài, gặp vua thì hộ giá hồi cung ngay. Chuyện xảy ra vào ngày mười bảy tháng Tám năm Đại Quan thứ ba vậy.

Lý mỗ nói với Sư Sư: “Họ Triệu lễ ý không bạc, sao ngươi lại tiếp đãi sơ sài thế?”. Sư Sư giận nói: “Hắn là thứ con buôn, con biết phải làm sao?”. Mụ cười bảo: “Con cứng cổ thật, lẽ ra nên làm quan Ngự sử”. Người dân Trường An đồn ầm ĩ, ai cũng biết xa giá lâm hạnh chỗ của Lũng Tây thị. Lý mỗ nghe vậy thì vô cùng sợ hãi, kêu than suốt cả ngày. Mụ khóc bảo Sư Sư: “Đúng là tru di cả họ rồi!”. Sư Sư nói: “Mẹ đừng sợ, vua chịu ngó tới con thì há nhẫn tâm giết con ư? Vả lại đêm hôm trước, vua lâm hạnh mà không bức ép gì, tất có ý thương con vậy. Duy có điều khiến con trộm buồn lòng, đó là mạng mình đen đủi, lưu lạc thấp hèn, nếu cái danh không sạch này mà liên lụy đến bậc chí tôn thì dẫu có chết cũng không hết được tội. Còn như thiên uy nổi giận, tru lục cả nhà mình chỉ vì chuyện rong chơi, đó là điều mà nhà vua phải hết sức kiêng tránh, cho nên chắc không tới mức ấy đâu, xin mẹ chớ lo”.

Tháng Giêng năm sau, vua sai Trương Địch tới ban cho Sư Sư đàn xà phụ. Đàn xà phụ ấy cổ xưa mà màu sơn cũng phai rồi, có hoa văn như bụng rắn, vốn là bảo vật được cất giữ trong đại nội. Còn thưởng cho năm mươi lượng bạch kim. Tháng Ba, vua lại vi hành đến nhà Lũng Tây thị. Sư Sư vẫn trang điểm qua loa, mặc áo trắng phủ phục trước thềm cửa nghênh giá. Vua vui mừng cầm tay đỡ nàng dậy. Vua thấy nhà cửa bỗng hoa lệ rộng rãi, những chỗ từng ngự giá khi trước đều dùng gấm có thêu hình rồng cuộn phủ lên trên. Hiên nhỏ cũng sửa thành gác lớn, cột nhà thì sặc sỡ và lan can rực sắc son, hết thảy đã không còn vẻ u tịch. Lý mỗ thấy vua tới bèn tránh đi, vua tuyên triệu thì toàn thân run rẩy không dậy nổi, còn đâu bộ dạng tươi cười mời khách của buổi đầu. Vua không vui, nhưng chẳng đổi sắc mặt, gọi mụ là “lão nương”, hạ dụ bảo cả nhà đừng lo sợ. Mụ bái tạ, bèn dẫn vua tới đại lâu. Lầu vừa mới hoàn thành, Sư Sư nằm phục ra đất xin vua ban cho bức hoành phi. Lúc bấy giờ, hoa hạnh phía trước lầu nở rộ, vua bèn viết ba chữ “Túy hạnh hoa” rồi ban cho. Chốc lát đã bày xong rượu thịt, Sư Sư đứng cạnh hầu, Lý mỗ bò lê dưới đất dâng ly chúc nhà vua. Vua truyền Sư Sư ngồi kế bên, bảo nàng đánh đàn xà phụ vua ngự tứ, gảy khúc “Mai hoa tam điệp”. Vua nâng ly, vừa nghe vừa uống, cứ khen hay mãi không thôi. Vua thấy các món ăn mang lên đều có hình rồng hình phượng, như chạm hoặc vẽ, hết thảy đều giống với cách thức trong cung. Nhân đó vua hỏi thử, mới biết là do đầu bếp của Thượng thực phòng nấu, chính Lý mỗ đã bỏ tiền vàng ra thuê về. Vua cũng không vừa lòng, liền dặn mụ sau này cứ làm như hồi trước, chớ bày vẽ làm gì. Tiệc chưa tàn thì xa giá đã hồi cung.

Vua từng ngự giá họa cung, viết câu thơ thử tài các họa công, mỗi năm chỉ có một hai người hợp cách. Tháng Chín năm ấy, đem bức tranh “Kim lặc mã tê phương thảo địa, ngọc lâu nhân túy hạnh hoa thiên” (cương vàng ngựa hý đồng thơm ngát, lầu ngọc người say giữa hạnh hoa) tặng cho Lũng Tây thị, lại ban cho đèn ngẫu ty, đèn noãn tuyết, đèn phương dĩ và đèn hỏa phụng hàm châu, mỗi món mười chiếc, chén lô tư, chén hổ phách, chén lưu ly với vò rượu dát vàng, mỗi loại mười cái, một trăm cân các loại trà nguyệt đoàn, phụng đoàn và mông đính, mấy hộp bánh bột, bánh hàn cụ, bánh ngân đạm, lại thưởng cho hoàng kim với bạch kim, mỗi thứ một ngàn lượng. Khi đó, chuyện này đã xôn xao khắp cung đình. Trịnh hậu nghe được vội can gián: “Kỹ nữ là hạng thấp hèn, thánh giá không nên cúi mình trông đến chúng. Hơn nữa đêm hôm mà vi hành, chỉ e xảy ra chuyện bất trắc, xin bệ hạ tự quý lấy bản thân”. Vua gật đầu. Trong một năm, vua không ra ngoài chơi, nhưng chuyện hỏi thăm ban thưởng vẫn chưa hề chầm dứt.

Năm Tuyên Hòa thứ hai, vua lại đến chỗ Lũng Tây thị, thấy trên Túy Hạnh Lâu có treo tranh mình ngự tứ, vua thưởng ngoạn một hồi, chợt quay đầu lại nói đùa với Sư Sư: “Người trong tranh có thể gọi ra chăng?”. Hôm ấy, vua ban ngay cho Sư Sư chiếc kim điền tránh rét với vòng châu ánh nguyệt, gương xanh vũ loan và lò hương kim cầu. Hôm sau, lại tặng cho Sư Sư nghiên mỏ phượng Đoan Khê, mực của Lý Đình Khuê, bút tuyên hào ngọc quản và giấy hoa văn Diệm Khê, còn thưởng cho Lý mỗ một trăm ngàn quan tiền. Trương Địch nói riêng với Huy Tông: “Bệ hạ muốn tới nhà Lũng Tây, tất phải đổi áo dạ hành, cho nên không thể đi lại thường xuyên. Nay phía Đông của Ly cung Cấn Nhạc vẫn còn mảnh đất công dài rộng hai ba dặm, tiếp giáp phường Trấn An. Nếu cho đào đường ngầm ngay tại đó thì xa giá lui tới rất thuận tiện”. Vua bảo: “Ngươi cứ lo liệu đi”. Thế là bọn Địch dâng sớ tâu:

Quân túc vệ tại Ly cung xưa nay nhiều chỗ còn bỏ sót. Chúng thân xin quyên góp chút tiền của, lập ra mấy trăm doanh trên mãnh đất công còn trống, lại xây thêm tường rộng vây quanh, để tiện việc canh phòng.

Vua chuẩn tấu. Do vậy, quân canh tuần vũ lâm được bày bố đến tận phường Trấn An, khiến người qua đường phải chuyển đi theo lối khác. Tháng Ba năm thứ tư, vua bắt đầu tới thăm Lũng Tây theo đường ngầm, tặng các món tàng cưu và song lục, lại ban cho bàn cờ ngọc và các quân cờ ngọc với hai màu xanh, trắng, quạt của họa viện trong cung, chiếu cửu chiết ngũ hoa, chiếu lân văn nhục diệp, rèm lụa Tương Trúc, thìa san hô ngũ sắc. Hôm đó, vua chơi song lục với Sư Sư không thắng, chơi cờ vây cũng không thắng, bèn thưởng cho hai ngàn lượng bạch kim. Đến sinh thần của Sư Sư, vua lại ban cho trang sức ngọc với vòng vàng, mỗi món hai cái, một tráp ngọc chuỗi, mấy cuốn gấm mịn, một trăm súc lụa lộ mao với đoạn thúy vũ, một ngàn lượng bạch kim. Sau đó thì ăn mừng vì nước Liêu bị diệt[7], thưởng lớn các Châu quận, gia ân các quan phủ, nhân đó thưởng cho Sư Sư màn lụa tử tiêu, dây tua ngũ sắc, chăn gấm băng tàm thần, đệm gấm khước trần, một ngàn lượng vàng vụn cùng các loại rượu ngon như quế lộ, lưu hà, hương mật, còn thưởng cho phủ Lý mỗ một vạn quan tiền. Tiền của, vàng bạc, lụa là, vật dụng với thức ăn ban thưởng tổng cộng không dưới số mười vạn.

Vua từng tụ tập cung quyến và bày tiệc trong cung, Vi phi hỏi riêng vua: “Đứa con gái nhà họ Lý là thứ gì mà khiến bệ hạ yêu thích đến như vậy?”. Vua đáp: “Chẳng là gì cả. Chỉ có điều, nếu các nàng trăm người đừng điểm trang diễm lệ nữa, chỉ mặc áo màu đen trắng, sau đó bảo nàng ấy đứng lẫn vào, sự khác biệt hẳn rõ ngay, vẻ u nhã thanh cao ấy nằm ngoài nhan sắc vậy”. Không lâu sau, Huy Tông nhường ngôi, tự lấy hiệu là Đạo Quân Giáo chủ, lui về cung Thái Ất, hứng thú rong chơi từ đó mới giảm đi.

Sư Sư nói với Lý mỗ: “Mẹ con mình cứ hý hửng, đâu biết tai họa sắp tới nơi”. Mụ hỏi: “Vậy phải làm thế nào?”. Sư Sư đáp: “Mẹ đừng biết làm gì, mọi chuyện cứ mặc con”. Khi ấy người Kim mới dấy binh, Hà Bắc cấp báo, Sư Sư bèn gom hết tất cả tiền vàng vua ban thưởng trình điệp văn lên Khai Phong doãn, xin đem sung công để trợ giúp quân lương cho Hà Bắc. Lại đúc lót bọn Trương Địch xin giúp với Thượng hoàng mong xuất gia làm đạo cô. Thượng hoàng đồng ý, ngự tứ cho quán Từ Vân nằm ở phía Bắc thành. Chưa bao lâu thì quân Kim công phá Biện Kinh, chủ soái Thát Lãn sai truy tìm Sư Sư, bảo rằng: “Chúa Kim biết danh ả, phải bắt sống đem về”. Bèn lùng sục mấy ngày nhưng không thấy. Bọn Trương Bang Xương[8] lần dò theo tung tích, bắt Sư Sư đem dâng tới doanh Kim. Sư Sư mắng: “Ta chỉ là hạng kỹ nữ thấp hèn, chịu ơn vua thương đến, thà chết cũng nhất quyết không đổi chí. Bọn ngươi thì tước cao lộc hậu, triều đình phụ bạc gì các ngươi, sao lại đi làm những việc chém diệt tông miếu với xã tắc? Nay còn ngoảnh mặt về phía Bắc thờ phụng bọn xú Lỗ, trông chờ đến dịp được vinh thân phì gia. Ta đây há có thể làm dê nhạn cho các ngươi tế lễ ư?”. Bèn rút trâm vàng tự đâm cổ, nhưng không chết, nàng liền bẻ trâm nuốt mà chết. Đạo Quân đế ở tại thành Ngũ Quốc[9] khi biết tình hình về cái chết của Sư Sư thì nước mắt trào tuôn không kìm được.

Bàn rằng: Lý Sư Sư chỉ là một kỹ nữ hạ lưu, thân phận thấp kém mà mấy lần được hậu đãi, có thể nói là hơn những gì mình xứng đáng. Nhưng xem đến khí tiết sau này, thấy phong tư lẫm liệt, có cốt cách hiệp sĩ, không thể nói không phải bậc phi thường ở trong đám tầm thường. Đạo Quân xa xỉ vô độ, cuối cùng chuốc lấy tai họa từ phương Bắc, đáng thay!

[1] Lý mỗ có nghĩa là “bà lão họ Lý”.

[2] Sái Kinh (1047 -1126) tự Nguyên Trường, ông là nhà thư pháp nổi tiếng thời Bắc Tống, dưới thời Huy Tông, làm quan đến Thái sư. Sách “Tông sử” xếp ông vào mục gian thần.Chương Thuần (1035 – 1105) tự Tử Hậu, người ủng hộ tân pháp của Vương An Thạch, được “Tống sử” đánh giá là “hào tuấn, học rộng, giỏi vàn chương”. Thời Triết Tông, ông giữ chức Môn hạ Thị lang (tương đương với Tể tướng). Huy Tông lên ngôi, phong ông làm Thân Quốc Công. Tuy nhiên, do Chương Thuấn từng phản đối Huy Tông kế vị nên vua đâm ra nghi ngờ. Không bao lâu, ông bị biếm làm Tư hộ Lôi Châu rồi lại bị biếm làm Đoàn luyện Phó sứ Thư Châu, chết trên đường đi nhậm chức.Vương Phủ (1079 – 1126) tự Tương Minh, ông là người đầu tiên trong lịch sự nhà Tống được thăng quan liền tám cấp, từ Thông nghị Đại phu lên đến chức Thiếu tể (Hữu Tể tướng) kiêm Trung thư Thị lang. Lúc nhà Tống lên kế hoạch thu hồi mười sáu châu Yên Vân khi xưa bị nước Liêu chiếm, cho Vương Phủ trông coi việc Tam tỉnh, ông đã vơ vét sáu ngàn hai trăm vạn quan tiền của dân chúng rồi mua năm sáu tòa thành trống, báo tin khải hoàn về kinh sư. Huy Tông vui mừng, phong Vương Phủ làm Thái phó, tước Sở Quốc Công, cho dùng nghi trượng ngang ngửa với chư vương. Đến thời Khâm Tông, khi quân Kim đánh Biện Kinh, Vương Phủ dẫn cả nhà bỏ chạy, vua giáng ông làm Tiết độ Phó sứ quân Sùng Tín, tịch biên gia sản, lưu đày đến Vĩnh Châu. Khai Phong doãn Nhiếp Sơn vốn ghét ông, bèn sai người đi giết chết. “Tống sử” xếp Vương Phù vào mục nịnh hạnh.

[3] Tân pháp tức biến pháp do Vương An Thạch khởi xướng và thi hành dưới triều Tống Thần Tông, nhằm cứu vãn tình hình khủng hoàng về mọi mặt của nhà Tống lúc bấy giờ. Biến pháp này động chạm đến quyền lợi của các đại thần, địa chủ và hoàng thân quý tộc, cho nên trong quá trình thực hiện đã gặp phải sự chống đối gay gắt. Năm 1085, Thần Tông mất, Triết Tông lên ngôi, phong Tư Mã Quang – người đứng đầu phe bảo thủ – làm Tể tướng, trong vòng một năm, các biện pháp cải cách của Vương An Thạch bị bãi bỏ hoàn toàn.

[4] Phép thanh miêu là một nội dung trong tân pháp, bắt đầu thực hiện từ năm 1069. Theo đó, vào mùa hạ và mùa thu hằng năm, khi lúa còn xanh (thanh miêu), huyện phủ sẽ cho các hộ tự canh vay tiền và lương thực sinh sống, nửa năm sau thì thu về với lợi tức hai phần (tức 20%).

[5] Đồng Quán (1054 – 1125) tự Đạo Phu, xuất thân từ hoạn quan, giỏi nịnh bợ và lấy lòng nên rất được Huy Tông sủng ái. Đương thời, người ta gọi Sái Kinh là “công tướng” (tướng ông), gọi Đồng Quán là “ảo tướng” (tướng bà).Chu Miễn (1075 -1126) là một đại thần thời Huy Tông, giỏi đắp núi xây vườn nên có hiệu “Hoa viên tử”. Năm 1105, Chu Miễn chủ trì ứng phụng cục Tô Châu, chuyên tìm kiếm các loại kỳ hoa dị thạch, sau đó dùng thuyền theo Hoài Hà, Biện Hà vận chuyển về kinh đô Biện Lương, gọi là “Hoa thạch cương”. Trên đường đi, nếu gặp trở ngại thì cứ cho phá cầu, hủy thành, khiến trăm họ Giang Nam chịu khổ suốt hai mươi năm. Kết quả là năm 1120, Phương Lạp nổi dậy, lấy danh nghĩa diệt Chu Miễn. Đến khi Khâm Tông lên ngôi thì ông bị bãi quan, cho lưu đày đến Tuần Châu rồi xử chém.Sái Kinh, Vương Phủ, Đồng Quán, Chu Miễn, Lý Ngạn và Lương Sư Thành được gọi là “lục tặc” (sáu tên giặc) thời Bắc Tống.

[6] Họ Lý là một dòng họ lớn tại Lũng Tây. Thời Bắc Ngụy, họ Thôi ở Thanh Hà, họ Lư ở Phạm Dương, họ Vương ở Thái Nguyên, họ Trịnh ở Huỳnh Dương và họ Lý ở Lũng Tây được gọi chung là “Ngũ tính”, về sau, họ Lý sáng lập ra nhà Đường cũng tự xưng mình là họ Lý ở Lũng Tây. Sách “Tính thị phả” thời Đường nói: “Họ Lý có mười ba vọng, nhánh Lũng Tây đứng đầu”. “Nguyên Hòa tính toản” của Trịnh Tiêu thời Nam Tống cũng nói: “Gọi người họ Lý là Lũng Tây”. Các tác giả Lý Triều Uy, Lý Công Tá trong tập sách này cũng là người Lũng Tây.

[7] Trong suốt thời Bắc Tống, nước Liêu luôn là mối đe dọa lớn của triều đình. Năm 1115, thủ lĩnh người Nữ Chân ở Đông Bắc là Hoàn Nhan A Cốt Đả xưng đế, lập nên nước Đại Kim, liên tục công đánh nước Liêu. Nhân cơ hội này, nhà Tống muốn thu hồi mười sáu châu Yên Vân nên lập tức cho sứ đến liên minh với quân Kim cùng chống Liêu. Năm 1125, nước Liêu bị tiêu diệt.

[8] Trương Bang Xương (1081 -1127) tự Tử Năng, đại thần nhà Bắc Tống. Diệt xong Bắc Tống, quân Kim đưa ông lên làm vua, định đô ở Kim Lăng, dựng chính quyền Đại Sở bù nhìn. Quân Kim rút lui thì ông cũng thoái vị, sau đó chạy xuống phủ Ứng Thiên. Tại đây, Khang Vương Triệu Cấu đăng cơ, tức Tống Cao Tông, lập nên nhà Nam Tống, biếm chức Trương Bang Xương, không lâu sau thì ông bị vua ban chết.

[9] Năm 1126, Huy Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoàn, tức Tống Khâm Tông, còn mình thì lên làm Thái Thượng hoàng. Khâm Tông đổi niên hiệu Tĩnh Khang. Ngay năm ấy, tức năm Tĩnh Khang thứ nhất, nhà Kim đưa quân Nam hạ, đến cuối năm thì chiếm được kinh đô Biện Lương, triều Bắc Tống diệt vong, Thượng hoàng Huy Tông và hoàng đế Khâm Tông đều bị bắt. Các nhân sĩ đương thời gọi đó là “mối nhục Tĩnh Khang”.Năm 1128, Kim Thái Tông triệu hai vua nhà Tống đến, phong Huy Tông là Hôn Đức Công, phong Khâm Tông làm Trọng Hôn Hầu. Đến năm 1130 thì giải hai người đến giam tại thành Ngũ Quốc. Thành này thuộc huyện Y Lan, thành phố Cáp Nhĩ Tân, tình Hắc Long Giang của Trung Quốc bây giờ. Khi xưa, người Sinh Nữ Chân sống ở đây từng chia thành năm tộc lớn, gọi chung là Ngũ Quốc bộ, do đó mới có tên thành Ngũ Quốc.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.