Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN PHỤ426 - ĐỖ TỬ XUÂN427

❊ ❊ ❊

Lý Phục Ngôn

Đỗ Tử Xuân là người sống giữa thời Chu với thời Tùy. Lúc trẻ ăn chơi phóng đãng, không lo đến sản nghiệp, tâm khí an nhàn phiêu dật, mê rượu và hay du hành trên khắp các phố phường. Khi tán gia bại sản thì nhờ vả bè bạn, nhưng ai nấy đều nghĩ rằng Tử Xuân không phải hạng làm nên được việc lớn, cho nên bỏ mặc chàng. Trời vừa sang đông, áo rách bụng trống, Tử Xuân lang thang giữa Trường An, đến tối vẫn chưa ăn gì, bàng hoàng chẳng biết phải về đâu, đến cửa Tây chợ Đông thì cơn đói rét càng không sao chịu nổi, chàng ngửa mặt kêu trời. Có ông lão chống gậy bước tới hỏi: “Cớ sao quân tử lại than vãn?”. Tử Xuân kể nỗi lòng, căm phẫn vì thân thích khinh bạc, trên nét mặt lộ rõ sự cảm kích. Ông lão hỏi: “Mấy quan thì đủ dùng?”. Tử Xuân đáp: “Năm ba vạn là có thể sống được”. Ông lão nói: “Chưa chắc, nói thêm đi”. “Mười vạn”. Ông nói: “Cũng chưa chắc”. Tử Xuân bèn nói: “Một trăm vạn”. Vẫn bảo: “Chưa đủ”. Bèn nói: “Ba trăm vạn”. Ông lão nói: “Được rồi”. Bèn lấy một quan tiền từ trong tay áo ra và nói: “Đêm nay cho ngài, giờ Ngọ ngày mai lão đợi ngài tại phủ Ba Tư ở chợ Tây, nhớ đừng đến trễ đấy”. Đúng giờ, Tử Xuân tới, quả nhiên ông lão cấp cho chàng đủ ba trăm vạn tiền, rồi chẳng nói họ tên mà bỏ đi.

Tử Xuân giàu có thì tính phóng đãng lại bùng cháy, cho rằng cả đời không bao giờ lang bạt nữa, liền cưỡi ngựa béo mặc áo nhẹ, tụ tập với bạn rượu, tới lầu ca xướng mà vui chơi đàn hát, không hề có ý định làm ăn. Trong vòng một hai năm, tiền dần tiêu cạn. Y phục ngựa xe từ loại đắt đổi sang dùng hàng rẻ, bỏ ngựa cưỡi lừa, chẳng mấy chốc đã trở lại như xưa. Không còn lối nào khác, Tử Xuân đành tự than vãn nơi cửa chợ. Vừa cất tiếng thì ông lão đi tới, nắm tay chàng bảo: “Ngài lại ra thế này, lạ thay! Ta sẽ cứu ngài lần nữa, bao nhiêu quan mới đủ?”. Tử Xuân thẹn không đáp, ông lão hỏi đi hỏi lại, Tử Xuân chỉ biết xấu hổ đáp tạ thôi. Ông lão nói: “Giờ Ngọ ngày mai, ngài hãy đến chỗ hẹn”. Tử Xuân muối mặt tìm tới, được một ngàn vạn tiền.

Lúc chưa nhận, chàng quyết chí từ nay phải ra sức làm ăn, vượt hơn cả Thạch Quý Luân hay Y Đốn[1]. Nhưng tiền đến tay thì đổi dạ thay lòng, vẫn mặc sức buông thả y như cũ. Chưa tới ba bốn năm, chàng còn nghèo khó hơn hồi trước. Rồi vẫn gặp lại ông lão tại nơi xưa, Tử Xuân vô cùng hổ thẹn, che mặt mà đi, ông lão kéo vạt áo chàng và bảo: “Than ôi, mưu toan kém quá”, sẵn đó đưa cho ba ngàn vạn, nói rằng: “Lần này mà không khỏi thì coi như ngài nghèo tại cao hoang[2] rồi”. Tử Xuân nói: “Tôi phóng đãng chơi bời, sinh nhai khánh kiệt. Thân thích hào tộc không ai dòm ngó đến, duy có cụ là ba lần chu cấp cho, tôi làm gì mới phải đây?”. Nhân nói với ông: “Tôi được thế này, có thể đứng giữa nhân gian, phải làm sao để cô nhi quả phụ có cái ăn cái mặc, ngõ hầu cứu vãn lại danh giáo. Tôi cảm ân sâu của cụ, sau này mà lập nên nghiệp lớn thì đều nhờ cụ hết”. Ông lão nói: “Đó là lòng ta vậy. Ngài lo liệu cơ nghiệp rồi, tiết Trung Nguyên năm sau hãy gặp ta dưới hai gốc cối chỗ Lão Quân”. Tử Xuân thấy cô nhi quả phụ đa phần sống tại Hoài Nam, bèn chuyển gia tài về Dương Châu, mua trăm khoảnh ruộng tốt, xây giáp đệ trong thành, dựng hơn trăm gian nhà trên yếu lộ, hết thảy đều dành cho cô nhi quả phụ vào ở, còn họ hàng thân thích thì bất kể xa gần, hễ có ơn báo ơn, có oán trả oán.

Xong mọi chuyện, đến hẹn chàng tới nơi. Ông lão đang huýt sáo dưới bóng hai gốc cối, liền dẫn chàng lên ngọn Vân Đài trên Hoa Sơn. Qua hơn bốn mươi dặm thì thấy một căn nhà, phòng ốc trang nghiêm sạch sẽ, chẳng phải nơi ở của người thường. Mây rực rỡ lượn lờ, loan hạc thì bay lượn, trên đó có chính đường, bên trong là lò thuốc cao hơn chín thước đang chiếu sáng cửa song. Chín nàng ngọc nữ đứng quanh lò, thanh long và bạch hổ chia ra giữ trước sau. Khi ấy trời sắp tối, ông lão không còn mặc y phục thế gian nữa mà trở thành một nhân sĩ đội mão vàng khoác áo son, cầm ba viên bạch thạch và một chén rượu đưa Tử Xuân, bảo chàng mau uống hết. Đoạn lại lấy một tấm đệm da hổ đặt dưới tường Tây nội sảnh, ngồi hướng mặt về phía Đông, ông dặn trước: “Chớ có lên tiếng, dù cho thấy tôn thần, ác quỷ, dạ xoa, mãnh thú, địa ngục hay thân quyến của ngài bị bắt trói và chịu muôn vàn đau khổ, tất cả đều không phải sự thật, chỉ cần bất động và im lặng mà thôi, yên tâm đi đừng sợ, không làm hại gì ngài đâu, miễn nhất nhất nhớ những gì ta nói”. Dứt lời thì đi. Tử Xuân nhìn ra sân, chỉ thấy một cái vò to lớn bên trong chứa đầy nước mà thôi. Đạo sĩ vừa đi thì tinh kỳ giáo mác rồi ngàn xe vạn ky kéo tới đầy sơn cốc, tiếng la hét vang động trời, có người tự xưng Đại Tướng quân, thân cao hơn một trượng, người ngựa đều khoác giáp vàng, phát tia sáng lấp lánh. Mấy trăm hộ vệ xung quanh liền rút kiếm giương cung, xông thẳng tới trước nhà, quát tháo rằng: “Ngươi là ai vậy, dám không tránh đường cho Đại Tướng quân ư?”, Tả hữu cầm kiếm lao tới, hết tra hỏi họ tên lại hỏi chàng làm gì, nhưng chàng đều không đáp. Người hỏi nổi giận, giục chém, binh lính tranh nhau bắn, âm thanh tựa sấm rền, chàng vẫn không lên tiếng. Tướng quân đành nuốt giận bỏ đi. Chốc lát thì hàng vạn con mãnh hổ, độc long, toan nghê, sư tử, phúc xà xuất hiện và gào rú, đua nhau lao tới trước, muốn vồ chàng nuốt chửng, có con lại nhảy qua đầu. Thần sắc Tử Xuân vẫn bất động. Được một lúc thì chúng cũng bỏ đi. Mưa to gió lớn lại ào ào kéo đến, sấm sét đấy trời, bốn bề tối đen, ma trơi lượn lờ bên cạnh, trước sau còn lóe rực ánh chớp, mắt không mở nổi. Trong khoảnh khắc, nước giữa sân đã sâu hơn một trượng, chớp giật sấm vang, khí thế như núi đổ sông trào, không thể nào cản được, mới đó mà sóng đã ập đến chỗ ngồi. Tử Xuân ngồi thẳng người không để ý. Chưa bao lâu thì tan ngay. Tướng quân lại đến nữa, dẫn theo bọn ngục tốt đầu trâu và đám quỷ thần có tướng mạo kỳ quái, đem vạc sôi bày trước mặt Tử Xuân, trường thương nhọn hoắt giao nhau, vây kín bốn mặt, truyền lệnh rằng: “Báo họ tên thì thả ngay, còn không nói thì sẽ bị bỏ vạc”. Chàng vẫn không đáp. Chúng bèn lôi vợ chàng tới, nắm tóc nàng dưới thềm, chỉ vào nàng bảo: “Nói họ tên thì ả được tha”. Chàng vẫn không đáp. Chúng liền vung roi đánh đến đổ máu, hết bắn rồi chém, hết nấu lại thiêu, đau khổ không chịu thấu. Vợ chàng gào khóc nói: “Tuy thiếp quê mùa thấp kém, không xứng với quân tử, nhưng may mắn được nâng khăn sửa túi, hầu hạ hơn chục năm nay, giờ rơi vào tay tôn quỷ, khổ sở muôn phần, không dám cúi xin chàng điều chi, chỉ mong chàng nói một lời, vậy là thiếp được toàn mạng. Con người ai lại vô tình thế, chàng nhẫn tâm tiếc rẻ một câu ư?”. Nàng khóc như mưa ở giữa sân, vừa mắng vừa rủa, nhưng rốt cuộc Tử Xuân cũng không chút quan tâm. Tướng quân nói: “Tưởng ta không thể tàn độc hơn với vợ của ngươi sao?”. Rồi sai lấy vạc cối, từ chân chặt từng tấc từng tấc đi. Người vợ càng kêu khóc dữ dội, chàng vẫn không để mắt đến. Tướng quân nói: “Tên giặc này đã luyện thành yêu thuật, không thể để nó ở lâu tại thế gian”. Bèn hạ lệnh sai tả hữu chém chàng. Chém xong thì hồn phách bị dẫn xuống gặp Diêm La Vương, vương nói: “Đây là yêu dân ở ngọn Vân Đài sao? Tống vào ngục ngay!”. Thế là những màn đau đớn như đồng nung, trụ sắt, cối giã, bàn xay, hố lửa, vạc sôi, núi đao, rừng kiếm,… chưa thứ nào Tử Xuân chưa nếm trải. Nhưng lòng chàng vẫn nhớ lời đạo sĩ nên cố chịu, quyết không rên xiết. Ngục tốt báo thụ hình đã xong, vương nói: “Người này âm hiểm giảo quyệt, không đáng mặt nam nhi, phải hóa kiếp làm đàn bà”. Rồi cho sinh vào nhà Huyện thừa Đơn Phụ ở Tống Châu tên Vương Cần. Suốt đời lắm bệnh, ngày nào cũng mệt mỏi vì châm cứu thuốc thang, lại hay có lửa rơi xuống giường, khổ sở vô cùng, nhưng Tử Xuân không thốt ra một tiếng. Đến lúc trưởng thành thì dung nhan tuyệt đẹp, nhưng miệng không nói được, người nhà cho là nàng câm, thân thích thì coi thường và luân phiên hạ nhục, song cuối cùng vẫn chẳng đáp câu nào. Đồng hương có Tiến sĩ Lư Khuê vì ngưỡng mộ nhan sắc, liền nhờ mai mối đến cầu hôn. Người nhà viện cớ nàng câm nên từ chối, Lư nói: “Nếu làm vợ mà hiền lương thì cần chi phải nói, thế cũng đủ răn đe những phụ nữ lưỡi dài”. Họ liền chấp thuận, Lư bèn chuẩn bị đủ lễ thân rước nàng về. Được mấy năm, nghĩa tình sâu đậm, sinh hạ một con trai, chỉ mới hai tuổi nhưng hết sức thông minh. Lư bế con và trò chuyện, Tử Xuân vẫn không đáp. Nhiều lần dẫn chuyện, cũng chẳng nói lời nào. Lư giận bảo: “Khi xưa vợ của Đại phu nước Giả khinh tài ông nhưng không hề cười nhạo, sau thấy ông bắt chim trĩ mới gỡ bỏ sự tiếc nuối[3]. Nay ta thô lậu, không sánh được với họ Giả, nhưng văn chương nào thua kém tài bắn chim trĩ của ông ta, vậy mà nàng cũng không nói lời nào. Đại trượng phu bị vợ mình coi rẻ thì cần gì đứa con của ả nữa?”. Bèn nắm hai chân rồi đập đầu đứa bé lên tảng đá, vừa hạ thủ là chết ngay, máu văng xa mấy bộ. Tử Xuân thương con lắm, chợt quên lời dặn, bất giác thốt lên: “Á”. Tiếng “á” chưa dứt, thân chàng đã ngồi lại chỗ cũ, đạo sĩ cũng đang ở trước mặt, vừa mới sang canh năm. Ngọn lửa tím xuyên qua mái vọt lên trời, lửa bùng lên bốn mặt, thiêu rụi hết gian nhà. Đạo sĩ than rằng: “Hại ta thê thảm thế này đây”, nhân đó nhúng tóc Tử Xuân vào vò nước. Chốc lát lửa đã tắt, đạo sĩ bước lại nói: “Đi đi! Trong lòng ngài, vui, giận, lo, sợ, chán ghét và ham muốn, ngài đều quên được rồi, thứ chưa bỏ được chỉ có yêu mà thôi. Lúc nãy nếu như ngài không thốt “á” lên thì thuốc của ta sẽ luyện thành, ngài cũng được lên tiên vậy. Than ôi, thành tiên mới khó thay! Thuốc của ta có thể đem luyện lại, nhưng thân ngài vẫn cứ ở nhân gian. Cố gắng lên!”. Rồi chỉ con đường về phía xa xa. Tử Xuân cố leo lên nền nhà quan sát, thấy lò đã hỏng rồi, trong đó có trụ đồng lớn bằng cánh tay, dài mấy thước. Đạo sĩ cởi áo, dùng dao đẽo trụ. Tử Xuân xuống núi, thấy xấu hổ vì mình quên lời thề, muốn dốc sức để chuộc lỗi nên đi tới ngọn Vân Đài thêm lần nữa, nhưng tuyệt không bóng người, đành thở dài rồi ôm hận quay về.

[1] Các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng “Đỗ Tử Xuân” được cải biên từ chuyện “Ao Liệt Sĩ và truyền thuyết” ở nước Bà La Nại Tư (nay là thành phố Varanasi, Ấn Độ), chép trong quyển bảy bộ “Đại Đường Tây vực ký” của sư Huyền Trang (602 – 664). Về sau, sách “Tỉnh thế hằng ngôn” của Phùng Mộng Long (1574 -1646) thời Minh cũng có truyện “Đỗ Tử Xuân ba lần vào Trường An”. Năm 1920, nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryunosuke (1892 -1927) lại viết truyện ngắn “Đỗ Tử Xuân” dựa theo cốt truyện này.

[2] Y Đốn là một phú thương thời Chiến Quốc, cuộc đời cụ thể như thế nào thì không rõ, sách “Hoài Nam Tử” nói ông buôn ngọc quý mà giàu, nhưng cũng có thuyết nói ông là người nước Lỗ, đến đất Y chăn dê bò và trở nên giàu có.

[3] Dưới trái tim gọi là “cao” (膏), trên trái tim gọi là “hoang” (肓), đều là những chỗ hệ trọng của con người. Đau hết thuốc chữa được gọi là “bệnh nhập cao hoang”.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.