Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LINH ỨNG TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Cách Kính Châu hai chục dặm về phía Đông có cổ thành của Tiết Cử[1], ở góc thành có cái đầm Thiện Nữ, diện tích khoảng mấy dặm, kiêm lau mọc xanh biếc, cây cối cũng hoang sơ tiêu điều. Nước thăm thẳm màu lục bích, chẳng ai đo được độ nông sâu, lại thường xuyên bắt gặp đám thủy tộc kỳ quái, nên hương nhân lập miếu thờ ngay bên cạnh, gọi là “Cửu Nương tử thần”. Hằng năm, khi muốn giải trừ nạn lũ lụt hay hạn hán, người người lại đến đây cúng bái, đều được như ý nguyện. Cách Kính Châu hơn hai trăm dặm về phía Tây, ở mặt Bắc trấn Triều Na, có một vị thủy thần khác, được đặt theo tên đất, gọi là “Triều Na thần”, sự linh thiêng cảm ứng còn hơn cả bên Thiện Nữ.

Năm Càn Phù thứ năm, lúc Tiết độ sứ Chu Bảo đang trấn thủ nơi này, bắt đầu từ tháng Trọng hạ[2], thấy từng lớp mây nhạt nổi lên từ hai cái đầm kia, mang đủ những hình dạng khác nhau, có đám trông như núi cao, có đám trông như mỹ nữ, cũng có đám trông như hổ, như chuột. Đến khi gặp gió lớn rồi sấm động chớp vang thì thổi bay nhà cửa và bật gốc cây cối, sau mấy khắc mới ngưng. Người bị thương, mùa màng bị phá hoại, thiệt hại nhiều vô số. Bảo tự trách bản thân, cho rằng mình lo chính sự không tốt, đến nỗi bị âm linh trách phạt. Tới mồng năm tháng Sáu, trong phủ rảnh việc, thấy mơ màng muốn ngủ, Bảo bèn tháo khăn để gối đầu. Chưa ngủ say thì đã gặp một võ sĩ đội mũ trụ, mặc áo giáp, cầm búa lớn đứng bên dưới bậc thềm nói: “Có vị nữ khách ở trước cửa, muốn vào đây gặp mặt, cho nên sai tôi vào báo trước”. Bảo hỏi: “Ngươi là ai vậy?”. Đáp: “Tôi là người gác cửa của lang quân, phục dịch ở đây mấy năm rồi”. Bảo định hỏi nguyên do thì thấy hai cô gái áo xanh theo bậc thềm bước lên, quỳ trước mặt và nói: “Cửu Nương tử từ ngoại thành đặc biệt tới đây xin bái yết, nên sai chấp sự tới báo trước với minh công”. Bảo nói: “Cửu Nương tử hoàn toàn không phải thông gia hay thân thích của ta, sao dám mạo muội tương kiến?”. Chưa nói hết thì mưa bụi mây lành đã xuất hiện, hương lạ cũng ùa vào, thoáng chốc lại nhìn thấy một cô gái, tuổi chừng mười bảy, mười tám, áo quần trắng sạch thanh nhã, thần thái yểu điệu, từ tầng không bay xuống và đứng ở giữa sân. Dung mạo nàng ôn nhu diễm lệ, quả đúng là giai nhân tuyệt thế. Thị tùng mười mấy người, ai nấy đều mặc trang phục sáng tươi và thanh khiết, chẳng khác chi nghi tiết của công chúa với vương phi. Nàng lướt nhẹ vào, tiến lại gần phòng ngủ.

Bảo định tránh đi, xem nàng tới làm gì. Nhưng thị tùng đuổi theo và nói: “Chủ nhân tôi thấy ngài có phẩm chất cao thượng nên mới thành tâm đến nhờ cậy, đem oan khuất trong lòng thưa hết với minh công. Minh công nhẫn tâm không cứu người nguy khốn hay sao?”. Bảo bèn mời nàng bước lên thềm gặp mặt, lễ nghi chủ khách rất cung kính nghiêm trang. Cô gái ngồi trên giường, mây lành bao phủ bốn bên, khí tím tràn ngập cả sân, nhưng nàng trầm mặc cúi đầu, dường như đang có chuyện đau khổ. Bảo sai châm rượu bày tiệc, dùng hậu lễ tiếp đãi nàng.

Được một lúc, nàng thu tay áo và rời ghế, nói với vẻ do dự: “Thiếp sống ở khu vườn bên ngoài thành, người ta lễ bái mấy năm nay, được ăn no mặc ấm, chịu ơn huệ sâu dày, tuy chăn đơn gối chiếc nhưng đến già vẫn cam tâm. Thân quả phụ ký thác, ân tình càng thêm nặng, nhưng âm dương khác biệt, đâu thể làm trái phép. Hôm nay vì tình thế bức bách, không che giấu được nữa, ngài minh giám cho u tình, thiếp đây mới dám thưa”.

Bảo nói: “Ta xin lắng nghe, mong nàng cho ta biết về tông hệ của mình, nếu có thể giúp được, ta nào dám vì âm dương khác biệt mà từ chối? Bậc quân tử sát thân thành nhân, có chết cũng oanh liệt, xông vào dầu sôi lửa bỏng để rửa sạch bất bình, đó là chí hướng của Bảo vậy”.

Nàng nói: “Nhà thiếp ở huyện Mậu thuộc Cối Kê, sống tại đầm nước Đông Hải, tổ nghiệp đã truyền hơn trăm đời. Về sau gặp bất hạnh, mang tai họa cả nhà, năm trăm người đều bị họ Dữu thiêu chết hết, gia tộc xem như tuyệt hậu. Nhưng vẫn còn kẻ bất nhẫn đội trời, ẩn mình giữa thâm sơn cùng cốc, ngậm nỗi oan chưa gột rửa bấy lâu. Đến năm Thiên Giám nhà Lương, Vũ Đế hiếu kỳ, tìm người dám băng qua long cung vào tới đảo Khô Tang dùng món mỹ vị thịt én quay để kết giao với cô con gái thứ bảy của Động Đình Quân – chủ nhân của kho báu – nhằm hỏi xin dị bảo. Nghe đâu kẻ thù Dữu Bì La làm Bạch Thủy lang ở huyện Mậu đã từ quan treo ấn, muốn nhận mệnh xin đi, âm mưu chuyện bất chính, nhân dịp xuất sứ đến long cung lấy cớ hỏi thăm bảo vật mà tiêu diệt họ nhà thiếp. Nhờ Kiệt công soi xét, biết hắn xin đi vì chuyện riêng rắp tâm hãm hại người vô tội, không khéo còn gây thêm phiền phức, làm nhục quân mệnh, nên tâu lên Vũ Đế, Vũ Đế không chọn hắn nữa, liền sai La Tử Xuân người Âu Việt ở huyện Lạc Lê quận Hợp Phố đi thay. Tiên nhân thiếp xấu hổ vì đội trời chung với kẻ thù, lo lắng cho đời sau, đành dẫn cả tộc đi lẩn trốn, thay tên đổi họ, lánh nạn tại An Thôn, huyện Ninh Chân thuộc Tân Bình, chặt cây đào động rồi xây nhà trên đó, tệ xá của cha ông ngày xưa bây giờ đã cách xa như Hồ, Việt. Đến nay đã sống được ba đời, tiên nhân chính là Linh Ứng Quân, thụ phong ứng Thánh Hầu, sau này nhờ hiển linh cứu vớt lấy muôn dân, công đức lưu truyền, nên được phong làm Phổ Tế Vương. Ngài trị người bằng uy đức, thế gian hết sức kính trọng. Thiếp là con thứ chín của Phổ Tế Vương, đến tuổi cập kê thì gả cho con trai của Thạch Long người Tượng Quận. Lương nhân[3] thừa hưởng tính hung mãnh, máu nóng bừng bừng, hiến pháp[4] không thể nào câu thúc, nghiêm phụ cũng không quán giáo nổi. Chàng xử sự ngang ngược, khinh miệt lễ giáo, chưa tới một năm thì quả nhiên bị trời cao trách phạt, cho dòng họ tuyệt tự, tước bỏ hết linh danh, duy mỗi mình thiếp được xá miễn. Phụ mẫu ép tái giá nhưng thiếp chẳng nghe theo. Vương hầu lũ lượt mang sính lễ hỏi cưới, nhưng ý thiếp đã quyết, muốn tự cắt mũi. Phụ mẫu nổi giận vì khí chất cương liệt đó, cho thiếp ra ở ẩn tại biệt ấp thuộc đất này. Từ đó thì bặt vô âm tín, giờ dây đã ba kỷ trôi qua. Tuy phụ mẫu chưa nguôi giận, thân tình thì ngăn cách lâu năm, phải xa nhà sống cô độc một mình, song thiếp vẫn không hề đổi chí. Mấy năm gần đây, tiểu long đầm Triều Na có quý đệ chưa thành thân, nên âm thầm chuẩn bị sính lễ, không quản đường xa tới cầu hôn. Dù tan xương nát thịt thiếp cũng không chấp nhận. Để hoàn thành chuyện ấy, Triều Na bèn giao hảo với gia quân. Hắn cho quý đệ tạm đóng ở phía Tây kinh đô, muốn mua chuộc cha thiếp, nhằm dễ kết thông gia. Gia quân biết thiếp chẳng đổi ý, bèn sai Triều Na dẫn binh sang bức bách. Thiếp cũng giao vũ khí cho gia đồng rồi thống lĩnh hơn năm mươi người ra phản công, giao chiến trên cánh đồng bên ngoài thành, nhưng ít không thể địch nhiều, đánh ba lần thì ba lần thất bại, ai nấy mệt nhừ, ỷ giốc không cách nào tương trợ. Thiếp tính thu thập tàn quân quyết một trận sau cùng, nhưng lo cảnh nước cuốn Tần Dương[5] ngày trước, lửa cháy Đài Thành[6] năm xưa, một khi thất thủ ắt sẽ bị thằng ranh kia vũ nhục, chết xuống cửu tuyền còn mặt mũi nào gặp lại con trai nhà họ Thạch nữa đây? Cho nên Kinh Thi nói: ‘Chiếc thuyền gỗ bách linh đinh, giữa dòng sông nọ mặc tình nổi trôi. Trái đào để tóc rủ đôi, thật thì người ấy với tôi là chồng. Đã thề đến chết một lòng. Mẹ tôi ơn nặng sánh cùng trời cao. Há không tin được lòng sao?[7]. Đó là lời mà quả phụ của Vệ Thế tử tự thề vậy. Lại nói: ‘Ai rằng con chuột không răng? Tường em nó đã xoi ngang bằng gì? Ai rằng anh chẳng lễ nghi? Đem em trực tố lấy gì hỡi anh? Kiện thưa em được đã đành, rốt cùng về ở với anh chẳng thèm[8]. Đây là lời thẩm án của Thiệu bá, dù phong khí suy loạn đã nổi lên, nhưng giáo hóa trinh tín vẫn còn đó, gã đàn ông dữ tợn chẳng thể nào xâm hại được trinh nữ. Nay giáo hóa trinh tín của minh công đã vang động tới thiên địa quỷ thần, làm điển phạm của cổ kim, không thua kém gì Cơ Thích[9]. Thiếp muốn cậy dư lực ngài, mượn ít binh phong để đẩy lui bọn hung hãn, cứu lấy kẻ góa bụa, giúp tiện thiếp hoàn thành câu thề của đời mình, cũng là nhằm biểu dương tấm lòng trượng nghĩa của minh công. Thiếp đã nói hết mọi thành ý trong lòng, xin minh công đừng từ chối!”. Tuy Chu Bảo đã hứa, nhưng ông thấy kinh ngạc trước tài biện bác của nàng, muốn mượn chuyện khác để chối từ, nhằm thăm dò những lời ấy, bèn nói: “Biên cảnh lắm việc, khói bụi trước mắt, triều đình vì để mất Tây bưu về tay giặc mà phải từ bỏ ba mươi Châu. Các tướng bàn đến chuyện động binh thu hồi lại lãnh thổ, sớm tối đều cung kính đợi mệnh, không một chút lơ là. Chẳng đêm nay thì sáng mai, quân tiên phong phải xuất phát. Tuy bất bình thay cho nàng, nhưng quả thật chưa rảnh để cứu nguy”. Nàng nói: “Khi xưa Sở Chiêu Vương lấy Phương Thành làm thành, lấy Hán Thủy làm hào, chiếm hết đất Kinh Man, kế thừa di sản của cha anh để lại, ngoài thì liên kết với cường quốc, trong triều có tam lương phò trợ. Vậy mà quân Ngô vừa khởi binh thì chim tản mây bay, không kịp thủ thành, bị bức chạy như thỏ, ngọc bảo bị chuyển đi, tông miếu bị san bằng, uy linh của một nước vạn thặng cũng không che chở nổi hài cốt của tiên vương[10]. Đợi Thân Tư gặp họ Doanh cầu cứu, khóc ra máu nước sân đình nước Tần, gào thét hết bảy hôm, cả ngày làn đêm không nghỉ, khiến Tần bá xót thương cho nước Sở gặp họa và thua trận, quyết định xuất binh, khôi phục đất Sở và đánh lui quân Ngô, khi đó mới bảo tồn được vong quốc[11]. Họ Mị[12] là liệt quốc đời Xuân Thu, Thân Tư là đại phu nước Sở buổi suy lạc, gặp lúc binh lực tàn hơi cũng phải cúi mình bỏ khí tiết, chịu gan óc lầy đất để khiến nước Tần hùng mạnh kia cảm động. Huống chi thiếp là phận gái, bị phụ mẫu quở trách vì kiên trinh, bọn cuồng đồ lại khinh khi vì thế cô sức yếu, tình thế nguy cấp như vậy, há không lay động tấm lòng của người nhân nghĩa chút nào ư?”. Bảo nói: “Cửu Nương tử là dòng dõi linh thiêng, hít mây thở gió, hạng phàm nhân ngu xuẩn vốn nằm cả trong tay nàng. Cớ sao nàng lại đến van xin cõi tục, tự làm khó bản thân tới mức này?”. Nàng đáp: “Thiếp là con nhà vọng tộc, thiên hạ không ai không biết. Ví như Bành Lãi với Động Đình đều là bậc ngoại tổ, Lăng Thủy với La Thủy đều là người một nhà. Anh em nội ngoại hơn trăm người phân bố khắp Ngô Việt, ai cũng có địa phận riêng. Trong Hàm Dương bát thủy thì một nửa là thân thích nhà thiếp. Thiếp chỉ cần sai viên lại chuyển đi phong thư ngắn, báo cho Bành Lãi, Động Đình biết, mời Lăng Thủy, La Thủy sang, thống lĩnh quân tinh nhuệ của Duy Dương, kêu gọi hết lính chiến trong bát thủy, sau đó truyền hịch đến Phùng Di[13], kể lại với Cự Linh[14], khơi dậy sóng gió của Tử Tư, hô hào quỷ quái chỗ Dương Hầu[15], điều động liệt khuyết, chỉ huy Phong Long[16], rồi thổi gió cuộn dòng, trăm đạo cùng tiến, sáu lộ xông lên, như vậy chỉ một trận là toàn thắng. Thứ lân trùng như Triều Na sẽ lập tức thành cát bụi, còn thành Kinh ngàn dặm cũng hóa ra đầm lầy. Ngài nghĩ xem thiếp có nói sai không? Nhưng gần đây, Kinh Dương Quân và ngoại tổ Động Đình mấy đời kết thông gia. Về sau do cầm sắt bất hòa nên bỏ rơi thiếu phụ, khiến Tiền Đường nổi giận, làm hại sinh linh rồi phá hoại mùa màng, dâng nước bọc gò trùm núi, thủy tộc Kinh Thủy phải chết trong miệng ngoại tổ[17]. Nay dấu xe vết ngựa hai bên bờ Kinh Thủy vẫn đó, sử sách cũng còn truyền, đâu phải chuyện hư hão. Song gia tộc chồng thiếp đã đắc tội với trời, Thượng Đế còn chưa gột rửa, cho nên thiếp mới im tiếng dấu hình, tự làm khó bản thân như vậy. Nếu ngài không hiểu cho lòng thành, vì bận việc mà từ chối thì những lời thiếp mới thưa chắc hẳn không tránh khỏi bị Thượng Đế trách phạt rồi”. Bảo nhận lời. Tiệc tan rượu cạn, Cửu Nương lạy hai lạy rồi đi. Bảo ngủ đến quá trưa mới tỉnh, những gì tai nghe mắt thấy vẫn còn nhớ rõ ràng. Hôm sau, Bảo phái một ngàn năm trăm binh sĩ tới canh phòng bên miếu. Ngày mồng bảy tháng đó, khi gà vừa cất tiếng thì Bảo đã thức dậy, ngoài song trời còn tối, chợt thấy có ai đi đi lại lại phía trước màn, hình như là người hầu mang khăn lược. Ông sai châm nến, nhưng hắn không đáp lời, ông nghiêm giọng quở trách. Người đó thưa: “Âm dương khác biệt, xin đừng lấy đèn nến để bức bách”. Bảo nhủ thầm là quái dị, bèn nén khí ngưng giọng, từ từ hỏi: “Đó chẳng phải Cửu Nương tử hay sao?”. Đáp rằng: “Tôi là chấp sự của Cửu Nương tử. Hôm qua nhờ ngài cho mượn binh, cứu khỏi cơn nguy khốn, nhưng âm dương trở ngại, không sao sai khiến được. Nêu ước định vẫn còn, mong ngài nghĩ cách khác giúp cho”. Thoáng chốc rèm cửa sổ sáng dần, Bảo nhìn kỹ thì không còn thấy ai nữa. Bảo nghĩ ngợi một hồi lâu mới hiểu thông ý nghĩa, bèn gọi viên lại đến, sai căn cứ vào binh tịch, tuyển ra những binh sĩ đã chết, được năm trăm ky binh, còn bộ binh thì một ngàn năm trăm người, trong số này lại chọn Áp nha Mạnh Viễn sung làm Hành dinh Đô ngu hầu. Sau đó gửi điệp văn đến nữ thần đầm Thiện Nữ.

Ngày mười một tháng ấy, rút binh tốt canh phòng miếu quay về. Trước sảnh đường, trong lúc đang điều chỉnh, thấy có một giáp sĩ ngã ra đất, miệng vẫn cử động, mắt vẫn cứ chớp, nhưng hỏi thì không đáp, cũng chẳng giống như đang mắc bệnh nặng. Bèn cho nằm nghỉ ở phòng ngoài, sáng hôm sau thì tỉnh lại. Sai người gặng hỏi, anh ta kể: “Mỗ vừa thấy một người mặc áo xanh từ phía Đông tiến tới, chào hỏi rất lễ độ, bảo mỗ rằng: ‘Ơn của tướng công đối với chủ nhân tôi thật không gì sánh kịp, cứu vớt khỏi nước sôi lửa bỏng, song tâm nguyện vẫn chưa thành. Nay mượn óc minh mẫn của anh để gửi gắm u tình, mong đừng từ chối’. Mỗ mượn cớ thoái thác ngay, hắn liền kéo lấy tay áo, thế là hôn mê ngã ra đất, chỉ có cảm giác mình đi theo người áo xanh, chốc lát thì về lại ngôi miếu, hắn giục mỗ bước nhanh tới trước rèm. Chủ nhân hắn nói với mỗ: ‘Hôm trước nhờ tướng công thương xót kẻ thế cô gặp nguy hiểm, phái các ngươi tới canh phòng tệ ấp. Đi về như vậy, quả thật vất vả cho các ngươi. Gần đây, ta lại chịu ơn tướng công cho mượn binh, thành ý đó khiến ta rất thỏa lòng. Binh mã tinh nhuệ, y giáp chỉnh tề, song Đô ngu hầu Mạnh Viễn tài nghệ quá tầm thường, mưu lược rất kém. Ngày mồng chín tháng này, hơn ba ngàn quân địch tới chiếm lấy vùng ngoại ô của ta, ta bèn sai Mạnh Viễn dẫn binh sĩ mới đến ra đón đánh ở bình nguyên, hắn bố trí mai phục không nghiêm mật, khiến toàn quân đại bại. Hiện rất cần một vị tướng quyền mưu, nhờ ngươi quay về chuyển đạt lời thỉnh cầu của ta’. Nói xong mỗ bái lạy cáo từ, rồi mơ màng như say rượu, sau đó không còn biết gì nữa”. Bảo nghiệm lại lời y, thấy đúng như giấc mộng, muốn chứng thực việc đó, bèn sai viên sứ chế Thắng Quan tên Trịnh Thừa Phù tới thay thế Mạnh Viễn. Đêm mười ba tháng ấy, Bảo bày án ở sân cầu phía sau, cho vẩy rượu đốt hương gửi điệp văn xin Cửu Nương tử thu nhận. Đến ngày mười sáu, Chế Thắng Quan về trình: “Đêm mười ba tháng này, canh ba vừa tới thì quan sứ đột tử”. Bảo kinh ngạc thở dài, sai người phi ngựa tới xem, quả nhiên Thừa Phù đã chết, chỉ có ngực với lưng là chưa lạnh. Giữ xác giữa tháng nóng mà cũng không thối rữa, người nhà thấy lạ lùng.

Một đêm nọ, chợt nổi gió lạnh thấu xương, cát đá tung mịt mù, thổi bay nhà cửa và bật gốc cây cối, lúa má đều héo khô, đến sáng mới chịu ngưng. Mây mù giăng kín hết bốn mặt, suốt cả ngày không tan. Đến chiếu thì một tiếng sấm vang rền, vòm trời trông như bị xé rách. Thừa Phù chợt rên lên mấy tiếng, người nhà mở áo quan coi thử, sau một lúc lâu thì ông tỉnh dậy. Đêm đó, thân thích với láng giềng đều kéo lại, vui buồn đan xen. Qua một đêm, Thừa Phù vẫn y hệt lúc trước, người nhà hỏi nguyên do, ông nói: “Ta vừa gặp một người, hắn mặc y phục có buộc dây thao tím, cưỡi ngựa ô, dẫn hơn chục tùy tùng, tới cửa thì xuống ngựa, mời ta ra gặp mặt. Hai bên vái chào nhau xong, hắn cầm bức điệp văn đưa cho ta và nói: ‘Chủ nhân vừa nằm mộng xuy trần[18], biết ngài là kỳ tài tuyệt thế, muốn noi tích Nam Dương, rửa sạch hết quốc thù. Cho nên phái hạ thần mang theo chút lễ mọn, bày tỏ tấc lòng tôn kính trước quân tử, hy vọng ngài ra sức giúp chúng tôi phục quốc, chớ để phải nhọc lòng tam cố thảo lư[19]. Tá đâu kịp chối từ, chỉ bảo là không dám. Đang lúc nói mấy lời xã giao thì thấy lễ vật bày la liệt dưới thềm, những thứ như yên ngựa, vũ khí, áo giáp, gầm lụa, y phục, cung tên đều xếp đầy trước sân. Ta thoái thác không được, bèn lạy hai lạy nhận lời. Hắn liền giục ta lên xe, con ngựa kéo trông vô cùng to khỏe, trang sức cũng hoa lệ, thị tùng với xa phu thì nghiêm túc chỉnh tề. Thoáng chốc đã đi hơn trăm dặm, ba trăm giáp mã cũng kéo tới, tiền hô hậu ủng, có phong thái của bậc Đại Tướng quân, làm ta cảm thấy đắc chí lắm. Trong lúc nhìn quanh, ta bắt gặp một tòa thành lớn với tường cao hào sâu, ta hoảng hốt không biết đang ở chốn nào. Mới đó thì màn trướng với nhạc đội cũng chuẩn bị xong cả, bày tiệc bên ngoài thành. Tiệc xong thì vào thành, người đứng xem đông nghịt, viên tiểu lại mở đường cũng hòa vào đám đông hỗn loạn đó. Ta băng qua cổng thành, không nhớ mình đi hết bao nhiêu ngả, tới một nơi giống như phủ nhà quan, tả hữu mời ta xuống ngựa thay áo rồi đến gặp chủ nhân. Chủ nhân sai người truyền lệnh, xin lấy lễ chủ khách tiếp đãi. Ta nghĩ bụng mình đã nhận công văn với vũ khí, áo giáp đi đánh trận, tức là bề tôi rồi, cho nên kiên quyết từ chối, còn mặc binh phục vào ra mắt. Chủ nhân sai người báo lại, xin bỏ túi tên xuống, lễ chủ khách giảm đi một chút là được thôi. Ta bỏ vũ khí và bước vào, thấy chủ nhân ngồi trên sảnh, ta bái kiến y như lễ quân thần. Bái xong chủ nhân liền gọi ta lên thềm, ta bái thêm lần nữa rồi bước lên từ bệ Tây. Thấy mấy chục thị nữ mi xanh má hồng, búi tóc cài thoa đứng bên cạnh, mặc trang phục lộng lẫy, lo cầm quản đánh đàn cũng đến mấy chục người, lại có vài người buộc đai tím dát vàng chít dây thao và cài trâm ngồi yên tại một góc, còn những kẻ mặc áo lông nhẹ, hông đeo bạch ngọc, chen chúc đứng dưới thềm thì số lượng càng nhiều. Chủ nhân lại cho triệu năm sáu vị nữ khách, ai nấy đều dẫn theo mười mấy tên tùy tùng chen vai nối gót mà đi tới. Ta chỉ cúi xuống vái dài chứ không dám đa lễ. An tọa rồi, có mấy viên đại hiệu theo lệnh vào ngồi cạnh bồi tiếp, sau đó thì rót rượu và tấu nhạc. Rượu dâng tới chủ nhân, người vén tay áo và nâng chén, đang định giải thích dụng ý cho mời ta, bỗng khói hiệu từ bốn bề bốc lên, tiếng huyên náo cũng truyền tới: ‘Giặc Triều Na dẫn bộ binh với ky binh mấy vạn người công phá bảo trại vào rạng sáng hôm nay, giờ đã vượt khỏi biên cương chia mấy đường cùng tiến, khói lửa liên miên, xin phát binh ứng cứu’. Những kẻ ngồi hầu đều nhìn nhau thất sắc, còn phụ nữ thì không kịp nói ra câu từ biệt, chạy hoảng loạn cả lên. Nhưng ta và các viên hiệu thì xuống thềm bái tạ, sau đó đứng im đợi lệnh. Chủ nhân bước tới lan can nói với ta: ‘Ta chịu ơn sâu của tướng công thương lấy kẻ cô thế, mấy lần ra quân cứu giúp lúc hoạn nạn. Nhưng xa giáp bất lợi, quyền mưu chỉ vậy thôi. Nay ngài ấy không bỏ rơi hạng tầm thường cho nên mới sai tướng quân đến, chính là lo lúc nguy cấp thế này. Xin đừng thấy nơi đây hẻo lánh mà thoái thác, không ra sức tương trợ!’. Nói xong thì ban hai con chiến mã, một bộ áo giáp vàng, còn tinh kỳ, cờ mao, phủ việt với châu báu, đồ dùng thì chắt đầy dưới sân, không sao đếm xuể. Hai thái nữ trao cho ta binh phù, tưởng thưởng rất hậu. Ta bái lạy rồi mang binh phù ra trận, hô truyền chư tướng, chỉ huy bộ ngũ, trong ngoài đều đồng loạt hưởng ứng. Đêm ấy xuất thành, thám báo lần nào cũng nói thế giặc ngày càng mạnh. Ta vốn quen thuộc địa lý núi sông của vùng này, biết hình thế hư thực, bèn đưa quân xuất phát ngay trong đêm. Đi hơn trăm dặm thì phân chia binh sĩ vào những nơi hiểm yếu, công bố rõ thưởng phạt, hiệu lệnh ba quân, bày ra ba chỗ mai phục để đợi giặc. Đến sáng thì việc bố trí cũng hoàn tất. Giặc còn say sưa với chiến thắng ban đầu, vẫn nghĩ kẻ thống lĩnh quân tướng là Mạnh Viễn. Ta tự mình dẫn khinh kỵ lên chỗ cao quan sát, thấy khói bụi mù mịt cả bốn bên, trận hình bên địch rất chỉnh tề và nghiêm túc. Ta bèn phái khinh binh khiêu chiến, ra vẻ yếu ớt để dụ địch. Tiếp đến thì dùng đoản binh, vừa đánh vừa lui. Chuông trống vang dội như trời long đất lở. Ta dẫn quân giả thua, chúng cũng ra sức đuổi tới, chợt nghe tiếng reo hò, phục binh của ta đều xuất hiện, chuyển chiến ngàn dặm, bốn mặt giáp công. Quân địch đại bại, chết như ngả rạ, vừa đánh vừa chạy, thằng lỏi Triều Na thì lọt lưới đào tẩu, nhưng binh tốt trốn theo hắn bất quá cũng chỉ mười mấy tên. Ta chọn ba mươi ky binh khỏe mạnh sai truy kích, quả nhiên bắt sống được, mang hắn đến tổng doanh. Trận này máu chảy thành sông, thây phơi đầy đồng, tanh trôi vạn dặm, binh khí chất cao như núi. Ta dùng khinh xa áp giải tướng giặc về cho chủ nhân xử trí, chủ nhân lên lầu Bình Sóc tiếp nhận đầu hàng. Sĩ dân cả nước đều tụ tập lại xem. Dân Triều Na tới trước lầu, lấy lễ trách cứ hắn, hắn chỉ bảo mình đã phạm tội chết, chẳng chịu nói gì thêm. Bèn truyền lệnh giải hắn ra giữa chợ chém ngang lưng. Lúc chuẩn bị hành hình thì sứ của Phố Tế Vương đánh truyền xa mang chiêu tới, giục chủ nhân xá miễn cho hắn ngay. Chiếu nói: ‘Tội của Triều Na thực chất chính là tội của ta. Nay con tha cho nó, tức là giảm nhẹ lỗi của ta vậy’. Chủ nhân thấy phụ mẫu liên lạc thăm hỏi mình thì vui mừng khôn xiết, nói với chư tướng: ‘Triều Na manh động, đó là lệnh của cha ta, nay cha lại truyền lệnh bảo xá tội cho hắn. Năm xưa ta trái lệnh vì trinh tiết, nếu bây giờ trái lệnh nữa thì không nên’, rồi sai cởi trói, cho đơn kỵ đưa về. Trên đường đi, chưa tới trấn Triều Na thì hắn đã xấu hổ mà chết. Ta đuổi giặc lập công nên được thưởng rất hậu, bái làm Bình nan Đại Tướng quân, phong thực ấp một vạn ba ngàn hộ tại phương Bắc, ngoài ra còn ban cho nhà cửa, ngựa xe, châu báu, y phục, nô bộc, vườn cảnh, phủ đệ, cờ lọng, giáp mũ. Tiếp đến thì phong thưởng cho các tướng theo thứ tự. Hôm sau, chủ nhân bày đại yến, nhưng chỉ mời năm sáu người. Sáu bảy nữ tỳ lần trước cũng ngồi bên hầu hạ, ai nấy đều xinh đẹp lộng lẫy, khiến kẻ khác động lòng. Mọi người uống đến thâu đêm, vô cùng vui vẻ. Rượu dâng tới chủ nhân, người nâng chén và nói: ‘Thiếp bất hạnh, từ nhỏ đã lẻ bóng khuê phòng, tính cách lại cô ngạo kiên trinh, không tuân mệnh nghiêm phụ, ẩn cư hết ba kỷ tại nơi này. Tuy rối tóc nguội lòng nhưng vẫn còn chưa chết. Thằng nhãi lân trùng kia uy hiếp, mấy phen nguy khốn lâm đầu. Nếu không nhờ đại ân của tướng công và sự uy vũ của tướng quân thì chắc thiếp đã trở thành người quả phụ nước Tức[20], bị Triều Na cầm tù. Thiếp mãi ghi nhớ huệ trạch này, suốt đời không quên’. Bèn rót rượu vào chén thất bảo, sai người mời Trịnh Tướng quân. Ta liền rời khỏi chỗ, lạy hai lạy rồi uống. Ta cảm thấy muốn về nhà nên tha thiết khẩn cầu, chủ nhân cho ta nghỉ một tháng, tiệc tan thì cáo lui. Ngày hôm sau, từ biệt xong, ta dẫn hơn ba mươi thuộc hạ quay về theo đường cũ, những chỗ đi qua, nghe gà gáy chó sủa mà khiến lòng chua xót. Ta nhanh chóng trở về nhà, thấy ai nấy tụ tập lại khóc lóc, linh đường thì trang nghiêm. Một thuộc hạ giục ta mau chui vào kẽ hở của quan tài, ta vừa định bước lên thì tả hữu đã đấy tới. Rồi chợt nghe tiếng sấm, thế là ta tỉnh dậy”. Từ đó, Thừa Phù không còn quan tâm gia sản, chỉ dặn dò hậu sự với vợ con. Một tháng sau, quả nhiên không bệnh mà mất. Khi sắp đột tử, ông có báo thân nhân biết: “Ta nhờ cơ trí mà được dùng, hết lòng theo binh nghiệp, tuy chưa lập kỳ công nhưng đã dốc cạn sức khuyển mã. Từ lúc gặp tai họa, bị biếm trích đến đây, chí khí một đời cứ uất ức trong bụng. Bậc trượng phu rốt cuộc vẫn nên quạt gió lớn, đẩy sóng cao, nâng Thái Sơn mà ép trứng, khơi Đông Hải dập lửa tàn, lòng này phải hăng hái xông pha, vì người khác rửa sạch chuyện bất bình. Sớm tối ta nhận mệnh, chia ly với các người chắc hẳn không lâu đâu”.

Ngày mười ba tháng ấy, có người xuất phát từ thành Tiết Cử vào sáng sớm, đi được hơn mười dặm, lúc vừa rạng đông, bỗng thấy phía trước bụi xe tung mù mịt, tinh kỳ thì chói lóa, mấy trăm giáp mã đang vây quanh một người, khí thế bừng bừng. Tới gần nhìn kỹ, ra là Trịnh Thừa Phù. Anh ta kinh ngạc một hồi lâu, cứ đứng mãi bên vệ đường. Trong chớp mắt, tất cả kéo tới đầm Thiện Nữ như gió mây. Thoáng chốc đã không thấy gì nữa.

[1] Tiết Cử là vua nước Tần cuối thời Tùy, nhân lúc nhà Tùy suy yếu, ông nổi dậy và tự xưng Tây Tần Bá Vương, đặt niên hiệu Tần Hưng, sau lại xưng Tần Đế. Khi ông chết, con là Tiết Nhân Cảo kế vị, bị Lý Thế Dân đánh bại nên phải đầu hàng, cuối cùng bị Đường Cao Tổ xử tử.

[2] Tức tháng Năm Âm lịch.

[3] Từ phụ nữ gọi chồng mình thời xưa.

[4] Thiên “Tấn ngữ – cửu” trong sách “Quốc ngữ” nói: “Thưởng thiện phạt gian, đó là hiến pháp của một nước vậy”. Chữ “hiến pháp” này không giống với cách hiểu bây giờ.

[5] Trí Bá là một trong Lục khanh của nước Tấn thời Xuân Thu, muốn tiêu diệt cả ba họ Hàn, Triệu, Ngụy, trước tiên ép họ Hàn với họ Ngụy hợp sức với mình đánh họ Triệu. Triệu Tương Tử cố thủ tại Tấn Dương. Trí Bá dẫn nước Tấn Thủy dìm ngập thành. Hàn Khang Tử và Ngụy Hoàn Tử lo sau này Trí Bà diệt tới mình, từ đó nảy ra ý phản Trí Bá.

[6] Chỉ việc Hầu Cảnh nhà Lương tạo phản, công phá Đài Thành.

[7] Đây là bài “Bách chu” thuộc mục “Dung phong” trong Kinh Thi, bản dịch của Tạ Quang Phát.

[8] Đây là bài “Hành lộ” thuộc mục “Thiệu Nam” trong Kinh Thi, bản dịch của Tạ Quang Phát.

[9] Cơ Thích là tên của Thiệu Bá. ông là tông thất nhà Chu, được Vũ Vương phong cho nước Yên.

[10] Chỉ việc quân Ngô tấn công vào Dĩnh Đô nước sở năm 506 trước Công Nguyên. Trận này do Tôn Tử và Ngũ Tử Tư chỉ huy, vua Hạp Lư cũng đích thân xuất chiến. Nước Sở thua trận, Ngũ Tử Tư đào mộ Sở Bình Vương (cha của Chiêu Vương), đánh vào thi thể ba trăm roi để trả thù cho cha là Ngũ Xa và anh là Ngũ Thượng khi xưa bị Bình Vương xử tử.

[11] Thân Bao Tư là bạn của Ngũ Tử Tư. Quân Ngô đánh Sở, ông chạy sang nước Tần (vua nước Tần họ Doanh) cầu cứu, đứng khóc bảy ngày bảy đêm trước sân đình, đến mức mắt chảy máu, khiến cho Tần Ai Công cảm động, sai hai đại phu là Tử Mãn và Tử Hổ xuất binh đi cứu Sở. Sau khi nước Sở được khôi phục, Chiêu Vương ban thưởng rất hậu nhưng Thân Bao Tư quyết không nhận.

[12] Vua nước Sở vốn họ Mị, sau đổi sang họ Hùng.

[13] Thần sông Hoàng Hà, còn được gọi là Hà Bá.

[14] Vị thần sông khai phá Hoa Sơn trong truyền thuyết.

[15] Thần sóng nước trong truyền thuyết cổ Trung Quốc.

[16] Liệt khuyết tức sấm chớp, còn Phong Long là lôi thần trong thần thoại Trung Quốc.

[17] Xin xem “Liễu Nghị truyện” (quyển 2).

[18] Sách “Sử kỳ chính nghĩa” của Trương Thi) Tiết nói: “Hoàng Đế nằm mộng thấy gió lớn, bụi bẩn (trần cấu) trên mặt đất (thổ) bị cuốn sạch .. Vua tỉnh dậy than rằng. ‘Gió (phong) là hiệu lệnh, làm người chấp chính vậy. Chữ “cấu” (垢) bỏ “thổ” (土) thì sẽ thành chữ “hậu” (后), thiên hạ há có người họ Phong tên Hậu chăng?’… Tìm được Phong Hậu bên bờ biển, phong cho làm Tướng”.Về sau, “xuy trần” (thổi bụi) trở thành điển tích chỉ điềm báo có được người hiền tài.

[19] Cuối thời Đông Hán, Gia Cát Lượng ở ẩn cày ruộng tại Nam Dương, Lưu Bị ba lần đến nhà tranh (tam cố thảo lư) mời ông ra giúp sức.

[20] Tức Phu nhân còn được gọi là Đào Hoa Phu nhân. Sở Văn Vương diệt nước Tức rồi cưới bà làm vợ, sau đó lại phong làm vương hậu, nhưng bà luôn hổ thẹn vì mình lấy hai chồng, nên không nói chuyện với Văn Vương.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.