Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 2 - BIÊN THỨ TRỊNH KHÂM DUYỆT BIỆN ĐẠI ĐỒNG CỔ MINH LUẬN

❊ ❊ ❊

Lý Cát Phủ

Trong những năm Thiên Bảo, có ẩn sĩ ở Thương Lạc tên Nhậm Thăng Chi từng gửi thư cho Hữu Bổ khuyết Trịnh Khâm Duyệt, viết rằng:

Thăng Chi thưa: Từ khi về Thương Lạc, lâu rồi không trao đổi văn thư, một mình sống giữa núi rừng, tin tức đành gián đoạn. Nay tỏ ý thăm hỏi, hôm khác sẽ ghé chơi. Tổ năm đời của Thăng Chi làm Thái thường cho nhà Lương. Ban đầu nhậm chức dưới trướng Nam Dương Vương, tìm được một tấm bia cổ trong ngôi mộ bỏ hoang ở huyện Chung Sơn, không thấy đề tên họ. Mấy chữ Tiểu Triện trên đó viết: “Mai rùa nói thổ, cỏ thi nói thủy, điện phục hoàng chung sẽ lật nền. Táng vào tam thượng Canh, ngả lúc thất trung Tỵ, sáu ngàn ba trăm giáp thần giao, đổ khi hai chín hai ba bốn trăm”. Văn tự tuy hao mòn nhưng vẫn rất rõ ràng, sau cơn mưa lớn mới lộ ra và tổ tôi tìm thấy. Bấy giờ là năm Đại Đồng thứ tư đời Lương Vũ Đế. Vài ngày sau thì đến thắng hội Vu Lan, người theo xa giá đi đến chùa Đồng Thái, chép lại và đưa cho sử quan họ Diêu cùng mấy vị học giả bàn bạc qua nhiều tháng nhưng không ai hiểu được. Nay di văn vẫn còn trong khuông quỹ. Túc hạ trời sinh tài trí, học rộng biết nhiều, vận trù như thánh, tiên hiền e là thua kém, cận cổ chưa thấy ai bằng. Xin chỉ ra ý tư của văn bia, nêu lên nguyên nghĩa, để viết lên di giản, ngõ hầu hoàn thành cái chí của tổ tiên, đó cũng là điều tôi mong đợi.

Lạc An Nhậm Thăng Chi bạch.

Mấy hôm sau, Khâm Duyệt đưa thư phúc đáp nói:

Sứ đến, chợt nhận được lá thư, lòng này như tắm gội. Ngài không quên tình cũ mà cúi xuống hỏi thăm, đã vậy lại cho xem bia cổ Đại Đồng.

Nhưng tiên hiền còn không hiểu thì kẻ văn sinh sao biết được, đâu dám nói càn để tự bôi xấu mình? Gặp lúc đang đi giữa đường, kiếm đâu ra sách vở, ngồi trên yên suy nghĩ, cũng ngộ ra mấy điều. Kẻ nằm dưới mộ tuy chưa rõ, song người bói nơi an táng thì quả thật là nhân tài tuyệt thế, chuyện cổ kim nắm rõ như bàn tay, tính trước luận sau không mảy may sai lệch, chuyện Ngỗi Chiếu biết sứ giả họ Cung[1] chẳng qua chỉ thế thôi. Không nói năm tháng chôn cất nhưng cho biết ngày giờ đổ, từ thời điểm đó suy ngược lại, tạm hiểu như vậy. Sử quan họ Diêu cũng là bậc thông đạt đương thời, lại thêm mấy vị thâm Nho cùng nghiên cứu, trầm ngâm nhiều tháng nhưng vẫn không hiểu nổi, do đó mới bỏ cuộc. Nguyên ý của người bói là ẩn số, phải dò xét những lời này, bảo tôi làm Cung sứ đúng không? Nếu không thì sao đột nhiên ngài nhớ đến? Nay tra cứu lịch pháp, kiểm chứng với ngôn từ và đọc kỹ thêm một chút, ắt sẽ hiểu ngay thôi. Bấy giờ là năm Đại Đồng thứ tư đời Lương Vũ Đế, tức năm Mậu Ngọ. “Điện phục” tức năm trăm[2], “hoàng chung” là mười một[3], năm trăm mười một năm sẽ đổ. Cách năm Đại Đồng thứ tư 511 năm chính là năm Mậu Tý, niên hiệu Kiến Vũ thứ tư đời Hán Quang Vũ Đế[4]. “Tam thượng Canh” tức ngày Canh trong thượng tuần tháng Ba. Tháng Ba năm đó, ngày mồng một là Tân Tỵ, ngày mồng mười là Canh Dần, chính là ngày táng ở Chung Sơn. Còn về “thất trung Tỵ”, mồng một tháng Bảy là Mậu Ngọ, ngày mười hai là Kỷ Tỵ, chính là ngày mà bia ngã, đó là ngày Kỷ Tỵ chắc chắn rồi. “Giáp thần” là mười hai[5]. Từ tháng Ba năm Kiến Vũ thứ tư đến tháng Bảy năm Đại Đồng thứ tư, tổng cộng có sáu ngàn ba trăm mười hai tháng, cứ mỗi tháng một giao, cho nên mới nói “sáu ngàn ba trăm giáp thần giao”. “Hai chín” là mười tám, “hai ba” là sáu, cuối cùng viết “bốn trăm”, vậy sáu là hàng ngàn, mười tám là hàng vạn. Tính từ lúc chôn cất vào ngày Canh Dần, mồng mười tháng Ba năm Kiến Vũ thứ tư tới ngày Kỷ Tỵ, mười hai tháng Bảy năm Đại Đồng thứ tư, tổng cộng có mười tám vạn sáu ngàn bốn trăm ngày, cho nên nói “đổ lúc hai chín hai ba bốn trăm”. Từ “tam thượng Canh” đến “thất trung Tỵ”, dựa vào lịch rồi tính toán thì không sai vào đâu. Năm ghi trên đó, nếu ngày tháng mà lệch đi một số thì không thể ăn khớp. Nguyên ý của người bói theo tôi là như vậy. Làm quan lâu rồi, tài nghệ xếp xó, ý của cổ nhân thật khó để suy lường. Túc hạ nên hỏi thêm người tài trí, lúc đó xin báo tôi biết với. Sứ về, tôi không nhắn gì nữa.

Trịnh Khâm Duyệt gửi.

Thời niên hiệu Trinh Nguyên, Lý Cát Phủ nhậm chức Thượng thư Đồn điền Viên ngoại lang kiêm Thái thường Bác sĩ. Khi ấy tông nhân tên Tốn làm Hộ bộ Thị trung, lúc nhàn nhã ở Nam cung có bàn luận về Nho sĩ đương thời, nói với Cát Phủ rằng: “Xưa kia, Hữu Bổ khuyết Tập hiền điện Trực Học sĩ Trịnh Khâm Duyệt tinh thông thuật số, am hiểu huyền môn, sư Nhất Hạnh[6] cũng không bằng. Nhưng ông ấy chết trẻ cho nên người đời ít ai nghe tiếng. Đệ có biết không?”. Cát Phủ hỏi: “Sao huynh tra ra được?”. Tốn nói: “Trong những năm Thiên Bảo, ẩn sĩ ở Thương Lạc tên Nhậm Thăng Chi nói ông tổ năm đời của mình làm quan Thái thường cho nhà Lương, tìm thấy tấm bia cổ dưới Chung Sơn vào năm Đại Đồng thứ tư. Lời văn nghe bí ẩn, những Nho sĩ bác học thời ấy không ai hiểu. Bèn niêm phong tấm bia và dặn các con rằng: ‘Con cháu mỗi đời nhà ta nhớ phải mang văn bia này đi bái phỏng người thông đạt, biết đâu có ai đó hiểu được, có vậy thì ta chết cũng không còn gì hối tiếc’. Đến đời Thăng Chi là kẻ học rộng và yêu thích đạo thánh hiền, nghe danh Khâm Duyệt, bèn nói cho ông biết lời dặn của tổ tiên. Khâm Duyệt bảo: ‘Ngài chép lại giùm tôi. Tồi sẽ xem và nghĩ thử’. Thăng Chi liền ghi lại văn bia. Gặp lúc Khâm Duyệt đang phụng mệnh triều đình đi sứ thì nhận được thư tại dịch trạm Trường Lạc. Ông dọc di văn rồi diễn dịch, đi hai chục dặm tới Tư Thủy thì ngộ ra án nghĩa. Cho nên thư phúc đáp nói rằng: ‘Ngồi trên yên suy nghĩ, cũng ngộ ra mấy điều’. Không phải kỳ dị lắm hay sao?”.

Năm Tân Mùi, Cát Phủ chuyển sang làm Giá bộ Viên ngoại lang, con của Khâm Duyệt là Khắc Quân từ Tư lục phủ Kinh Triệu được phong Ty môn Viên ngoại lang, Cát Phủ nhiều lần cung kính hỏi thăm về chuyện cũ. Tuy đúng như lời kể, song Khắc Quân cho biết mình để mất bản thảo rồi. Mỗi lần nghĩ đến những lời sâu xa huyền diệu ấy, Cát Phủ lại lấy làm tiếc vì không thể tận mắt nhìn.

Nám Nhâm Thân, Cát Phủ bị biếm làm Trưởng sử Minh Châu. Ở nơi hải đảo, có ẩn sĩ họ Trương tên Huyền Dương, vì tinh thông Kinh Dịch nên được châu tướng trọng dụng, mời về dưới trướng. Khi giảng đến phép bói trong “Chu Dịch” thì lấy lá thư của Khâm Duyệt đưa cho Cát Phủ xem. Cát Phủ đọc thư mà cả mừng, vui như tìm được báu vật, liền chép lại ngay.

Bởi thế nên làm thêm bài luận, bàn rằng: Đất trên gò núi là thứ vô tình, gặp mưa trôi đi là lẽ tự nhiên, kẻ tinh thông tượng số đã biết từ mười tám vạn sáu ngàn bốn trăm ngày trước, huống chi những chuyện như thời thế thịnh trị hay hỗn loạn, vận mệnh bế tắc hoặc hanh thông, thánh hiển không thể gặp vận khí, quân thần ngẫu nhiên mà tương hợp?

Như Tử Nha[7] được ngọc hoàng mà trở thành Thượng phụ, Trọng Ni mất chim phượng mà làm khách bôn ba, Phó Duyệt nằm mơ hiển đạt tại Nham Dã[8], Tử Phòng được thần trao sách ở Di Kiều[9], tất thảy đều được định sẵn hết. Nhưng họ Khổng không rảnh ngồi nóng chiếu, họ Mặc[10] không đợi ống khói đen, ai bận rộn giống như họ? Họ Mạnh rời nước Tề trút gạo vo[11], họ Giả đến Tương Giang viết bài điếu[12], lại quyến luyến như vậy. Bậc đại thánh đại hiền há cũng nghi hoặc trước cái lẽ thiên mệnh ư? Chịu xả thân tồn giáo để cho thấy đạo người không thể phế đó ư? Ta chẳng thể biết được. Khâm Duyệt làm từ Hữu Bổ khuyết đến Điện trung Thị Ngự sử, bị Tể tướng đương thời là Lý Lâm Phủ ganh ghét, xua đuổi ra bên ngoài, không thể hiển lộ tài năng. Cho nên ta chép những điều nghe được về ông chung với hai lá thư trên, làm rõ cái thần minh bói cỏ thi, cái huyền giải đầy minh triết cũng như cái kỳ diệu ngẫu nhiên của thuật số, đem chuyện lý thú ấy tặng cho hậu học cùng thưởng lãm.

Khi đó là ngày hai mươi tám tháng Mười một năm Trinh Nguyên thứ chín.

Lý Cát Phủ người Triệu Quận viết.

[1] Sách “Tấn thư” chép: “Ngỗi Chiếu người Nhữ Âm, tinh thông Kinh Dịch. Lúc lâm chung đưa thư bản cho vợ và nói. ‘Ta chết rồi thì đói kém, tuy vậy đừng bán nhà đi. Mùa xuân năm năm sau sẽ có chiếu sứ qua đình này, người đó họ Cung, mang theo vàng của ta, hãy lấy thư bản ra đòi, chớ trái lời ta dặn’. Sau khi Chiếu mất thì gia đình khốn quẫn, vợ muốn bán nhà nhưng nhớ lời chồng nên thôi. Đến ngày ấy, có sứ giả họ Cung đến, vợ ông liền lấy thư ra đòi nợ. Sứ giả xem thư mà bối rối, không hiểu nguyên do… Bèn sai lấy cỏ thi, lập quẻ rồi nói với vợ Chiếu: ‘Ta chẳng nợ tiền ai, hiền phu có sẵn vàng, biết sau khi mất gặp loạn lạc, cho nên mới giấu để giữ yên, không nói vợ con hay… Biết ta giỏi bói Dịch, mượn thư bản này để gửi gắm tâm ý. Vàng có năm trăm cân, chứa đầy vò xanh, đậy bằng mâm đồng, chôn ở góc Đông nhà này, cách tường một trượng, dưới đất chín thước’. Vợ về đào lên, quả y như lời quẻ”.

[2] Vùng bán kính 500 dặm chung quanh chỗ vua ở gọi là “điện phục”. Thiên “Vũ cống” trong sách “Thượng thư” viết: “Năm trăm dặm là điện phục”.

[3] “Hoàng chung” là một trong “Thập nhị luật” của âm nhạc cổ Trung Quốc.Thiên “Nguyệt lệnh” trong “Lễ ký” viết: “Tháng Trọng đông… hoàng chung trong luật”. Trọng đông tức tháng Mười một Âm lịch.Cao Dụ chú thiên “Thiên văn huấn” trong sách “Hoài Nam Tử” cũng nói: “Hoàng chung, tức tháng Mười một vậy”.

[4] Năm Đại Đồng thứ tư thời nhà Lương tức năm 538, năm Kiến Vũ thứ tư thời Đông Hán tức năm 28, cách nhau 511 năm.

[5] Hết 12 chi từ Tý đến Hợi gọi là một “giáp thần”.

[6] Nhất Hạnh (683 – 727) có tục danh Trương Toại, sư là một nhà khoa học lớn thời Đường.

[7] Tức Khương Thượng, tự Tử Nha, còn có tên Lữ Vọng, được Chu Văn Vương Cơ Xương bái làm Thượng phụ. Sách “Thượng thư đại truyện” chép: “Chu Văn Vương tới Bàn Khê, gặp Lữ Thượng câu cá Văn Vương bái ông. Thượng nói: ‘Vọng này câu được ngọc hoàng, trên đó khắc Cơ thụ mệnh, Lữ phò tá, hôm nay đức hợp, Xương đến nhận’”.

[8] Vua Vũ Đinh nhà Thương nằm mơ gặp hiền tài, bèn cho vẽ hình đi tìm kiếm, sau đó thì gặp được Phó Duyệt tại Phó Nham, tướng mạo giống y như trong giấc mộng.

[9] Tức Trương Lương, tự Tử Phòng, người phò tá Lưu Bang lập nên nhà Hán. Tương truyền ông được Hoàng Thạch Công truyền cho sách “Thái Công binh pháp’’ ở Di Kiều.

[10] Trọng Ni và họ Khổng đều chỉ Khổng Tử, còn họ Mặc tức Mặc Tử. Cả hai ông đều bận rộn lo toan cho thiên hạ.

[11] Chỉ việc Mạnh Tử đến nước Tề yết kiến Tề Tuyên Vương.

[12] Tức Giả Nghị thời Tây Hán. Lúc đau khổ thất chí, đi ngang qua Tương Giang, ông có viết “Điếu Khuất Nguyên phú”.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.