Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 1 - CỔ KÍNH KÝ

❊ ❊ ❊

Vương Độ

Thời nhà Tùy có Hầu sinh người Phấn Âm là một bậc kỳ nhân trong thiên hạ. Vương Độ từng lấy lễ sư đó thờ ông. Lúc lâm chung, Hầu sinh tặng Độ một chiếc gương cổ, nói rằng: “Giữ chiếc gương này thì bách tà đều tránh xa”. Độ nhận lấy và xem như bảo vật. Chiếc gương có bề ngang tám tắc, mũi gương khắc hình con kỳ lân đang ngồi, xung quanh kỳ lân là rùa, rồng, phượng và hổ đứng ở bốn phía, đúng theo phương vị[1]. Bên ngoài lại bày ra bát quái, ngoài bát quái sắp đặt mười hai thần vị, có loài thú tương ứng[2]. Bên ngoài mười hai thần vị lại có hai mươi bốn chữ tạo thành vòng vây quanh, văn tự trông giống kiểu chữ Lệ, một chấm hay một nét đều không thiếu, nhưng lại không phải những chữ đang dùng trong sách vở. Hầu sinh nói: “Đây là tượng trưng cho hai mươi bốn tiết khí[3]“. Để ánh nắng chiếu vào thì chữ viết và đồ hình trên lưng gương hiện ra như được quét mực vậy, không mảy may thiếu sót. Gõ lên gương thì nghe thấy âm thanh trong trẻo từ từ vang ra, dư âm hết một ngày mới dứt. Than ôi, chiếc gương này quá thật không giống những chiếc gương bình thường, chỉ dành cho bậc cao hiền ngắm nghía, đáng gọi là vật linh thiêng. Hầu sinh từng nói: “Xưa ta nghe rằng Hoàng Đế đúc mười lăm chiếc gương[4]. Chiếc thứ nhất có bề ngang một thước năm tấc[5] lấy theo số trăng tròn. Những chiếc tiếp theo, cứ mỗi chiếc thì giảm đi một tấc. Cái này là chiếc thứ tám đó”. Tuy năm tháng quá xa xôi, đồ hình và chữ viết lại mờ mịt, song cao nhân đã kể vậy thì ắt không sai rồi. Thuở trước họ Dương được chiếc vòng mà mấy đời vinh hiển[6], Trương công[7] mất kiếm thì chẳng giữ được thân. Nay Độ sinh vào buổi nhiễu nhương, lòng thường ôm uất ức. Vương thất bị hủy thì biết đâu là chốn sinh nhai? Thế mà gương báu còn bỏ ta đi mất, thương thay! Nay ta viết lại những dị tích quanh chiếc gương, để ngàn năm sau nếu có ai tìm được thì cũng biết lai lịch.

Tháng Năm năm Đại Nghiệp thứ bảy, Độ từ chức Thị Ngự sử về Hà Đông, vừa khéo gặp lúc Hầu sinh mất mà có được gương này. Đến tháng Sáu năm đó, Độ quay lại Trường An. Khi tới dốc Trường Lạc thì tá túc trong nhà Trình Hùng. Hùng vừa mới thu nhận một tỳ nữ, trông rất đoan trang xinh đẹp, tên là Anh Vũ. Độ xuống xe, muốn chỉnh sửa mão giày nên lấy gương ra soi. Anh Vũ từ xa trông thấy liền dập dầu đến chảy máu, nói rằng: “Tôi không dám ở nữa”. Độ bèn gọi chủ nhà hỏi nguyên do, Hùng bảo: “Hai tháng trước, có một vị khách dắt theo Anh Vũ từ phía Đông tới đây. Lúc đó nàng ta mắc bệnh rất nặng, khách bèn để lại, nói chừng nào về sẽ dẫn đi, nhưng giờ vẫn chưa thấy đến nên tôi cũng không biết lai lịch của nàng”. Độ nghi ngờ là tinh linh quỷ mị, bèn dùng gương bức bách. Anh Vũ nói: “Xin tha mạng, tôi sẽ hiện hình”. Độ liền che gương và nói: “Ngươi kể đầu đuôi trước đã, sau đó hẵng hiện hình, ta sẽ tha mạng cho”. Nàng lạy hai lạy rồi tự mình kể lại: “Tôi là con ly già ngàn năm sống dưới gốc trường tùng phía trước miếu Hoa Sơn Phủ quân, do cả gan biến hóa lừa đời nên bị khép tội chết. Phủ quân cho bắt, tôi bèn bỏ trốn đến vùng đất giữa Vị Thủy với Hoàng Hà, làm nghĩa nữ của Trần Tư Cung người Hạ Khuê. Anh Vũ chịu ơn nuôi dưỡng rất sâu nặng, được gả cho người đồng hương tên Sài Hoa. Anh Vũ với Hoa không tâm đầu ý hợp nên lại chạy về phía Đông, ra khỏi huyện Hàn Thành, bị một kẻ qua đường là Lý Vô Ngạo bắt giữ. Vô Ngạo tính tình nóng nảy, ép Anh Vũ theo hắn du hành suốt mấy năm. Mấy hôm trước đến đây, đột nhiên để tôi ở lại. Ngờ đâu gặp phải gương trời, không còn đường ẩn thân nữa”. Độ lại hỏi: “Ngươi vốn là con ly già biến hóa thành người, chẳng lẽ không hại ai hay sao?”. Nàng đáp: “Tôi biến hình để thờ người chứ không hề gây hại, song lẩn trốn và làm ra ảo tướng thì thần đạo ghét lắm, tự biết chỉ còn nước chết mà thôi”. Độ lại nói: “Có muốn ta thả ngươi không?”. Anh Vũ nói: “Ân công ban phúc, há dám quên ơn? Nhưng gương trời một khi đà chiếu thì chẳng thể đào thoát nữa. Có điều làm người bao lâu nay, giờ thấy hổ thẹn cho hình thể cũ. Xin cất gương vào tráp, cho phép tôi say khướt mà chết đi”. Độ lại hỏi: “Ta cất gương vào tráp rồi, ngươi không chạy hay sao?”. Anh Vũ cười đáp: “Ân công vừa cho lời hay, còn hứa sẽ thả tôi. Nếu nhân lúc ngài cất gương bỏ chạy thì chẳng phải trọn đức ấy rồi ư? Song gương trời đã đến thì không còn đường trốn, chỉ mong sao mấy khắc cuối đời được hưởng trọn niềm vui của nhân sinh”. Độ liền cho gương vào tráp rồi sai bày tiệc rượu, gọi hết người trong nhà Hùng và cả hàng xóm đến chung vui. Phút chốc thì Anh Vũ say túy lúy. Nàng phất tay áo múa và ca rằng: Gương báu, gương báu, thương thay mạng mình! Tự buổi thoát hình, làm dâu trăm họ. Vui khi sống thọ, nhưng chết buồn chi? Quyến luyến làm gì, phương trời đang ở? Hát xong thì nàng lạy hai lạy rồi hóa thân thành con ly mà chết, ai nấy đều kinh ngạc thở dài.

Mồng một tháng Tư năm Đại Nghiệp thứ tám, mặt trời bị khuyết. Độ đang trực ở Ngự sử đài, nằm nghỉ trong sảnh các, cảm thấy ngày như dần tối. Bọn lại báo với Độ có nhật thực. Lúc chỉnh áo thì lấy gương ra, trông gương cũng tối đi, không còn vẻ sáng nữa. Độ cứ tưởng gương báu được làm cho khéo hợp với quang cảnh âm dương. Nếu không, cớ sao vầng nhật tối đi thì gương cũng mờ vậy? Độ lấy làm lạ và than thở mãi chưa thôi. Bỗng chốc gương phát ra ánh sáng, ngày cũng dần rõ hơn. Đến khi mặt trời trở lại như lúc đầu thì chiếc gương cũng lấp lánh y như cũ. Từ đó về sau, mỗi khi nhật nguyệt bị khuyết thì gương cũng tối mờ. Ngày mười lăm tháng Tám năm ấy, có người bạn tên Tiết Hiệp được một thanh kiếm đồng dài bốn thước. Kiếm liền với chuôi, chuôi đúc hình rồng phượng cuộn mình, hoa văn bên trái như lửa cháy, hoa văn bên phải như sóng gợn. Kiếm sáng rực rỡ, chắc chắn không phải vật tầm thường. Hiệp mang đến cho Độ xem và nói: “Hiệp thường thử kiếm, mỗi tháng cứ đến ngày mười lăm, trời đất sáng sủa, đặt kiếm trong phòng tối thì tự dưng có ánh sáng phát ra, chiếu xa tới mấy trượng xung quanh. Hiệp giữ kiếm đã lâu rồi, biết minh công hiếu kỳ và ưa thích cổ vật như cần cơm ăn nước uống, xin thử cho ngài xem ngay đêm nay”. Độ thích lắm. Đêm ấy trời đất quả sáng trong, gian phòng đóng kín không có lấy một khe hở, ngồi cùng với Hiệp, Độ cũng để gương báu ngay bên cạnh. Chốc lát thì gương tỏa ra ánh sáng và soi chiếu khắp phòng, trông giống hệt ban ngày. Nhưng kiếm đặt gần đấy thì không còn thấy ánh sáng. Hiệp ngạc nhiên lắm, bèn nói: “Xin cho gương vào trong tráp”. Độ y lời. Sau đó thì lưỡi kiếm cũng phát sáng trở lại, song chỉ rọi xa một hai thước mà thôi. Hiệp vuốt kiếm than rằng: “Thần vật trong thiên hạ cũng có lẽ tương phục vậy”. Từ ấy, cứ mỗi dịp trăng tròn thì Độ lại đặt gương trong phòng tối, ánh sáng thường chiến xa đến mấy trượng, nhưng nếu ánh trăng len vào thì lập tức biến mất ngay. Phải chăng vẻ rực rỡ của thái dương, thái âm[8] là không sao sánh kịp?

Mùa đông năm nọ, Độ kiêm chức Trước tác lang, phụng chiếu biên soạn Chu sử, sắp viết truyện về Tô Xước[9]. Nhà Độ có lão bộc tên Báo sinh, tuổi đã thất tuần, vốn là bộ khúc[10] của họ Tô. Ông am hiểu chuyện sử và cũng biết chút văn chương, thấy bản thảo của Độ thì đau thương khôn xiết. Độ hỏi nguyên do, ông nói: “Báo sinh từng nhận hậu đãi từ Tô công, nay được thấy lời nói và tôn nhan của Tô công nên mới đau xót đó thôi. Gương báu mà lang quân đang sở hữu là do người bạn Miêu Quý Tử người Hà Nam của Tô công tặng ông ấy, Tô công thích lắm. Vào năm Tô công tạ thế, ông thường phiền muộn không vui. Tô công có mời Miêu sinh đến nói: ‘Ta tự cảm thấy ngày chết đã không còn xa nữa, chẳng biết sau đó chiếc gương sẽ thuộc về tay ai. Nay muốn lấy cỏ thi ra bói một quẻ, mong tiên sinh hãy cùng xem’. Liền sai Báo sinh mang cỏ thi đến, Tô công tự mình gieo quẻ, gieo xong thì nói: ‘Ta chết được mười năm thì nhà ta mất gương này, không rõ đi về đâu, nhưng đã là thần vật trong trời đất, hễ động tĩnh ắt có điềm. Giữa Hoàng Hà với Lạc Thủy thường hay có bảo khí tương ứng với quẻ bói, chắc gương tới đó rồi’. Quý Tử hỏi: ‘Vậy người nào có được?’. Tô công đáp: ‘Xem kỹ thì thấy quẻ cho hay, trước vào nhà họ Hầu, sau về chỗ họ Vương. Sau nữa thì không biết’”. Báo sinh nói xong thì khóc nức nở. Độ hỏi họ Tô, quả nhiên ngày trước họ từng có gương ấy, Tô công mất thì gương cũng mất luôn, đúng như lời Báo sinh. Cho nên khi viết truyện Tô công, Độ có chép chuyện này ở cuối thiên, phép bói cỏ thi tuyệt luân không ai không biết của Tô công chính là việc này vậy.

Sáng mồng một tháng Giêng năm Đại Nghiệp thứ chín, có một vị Hồ tăng hành khất đi ngang qua nhà Độ. Em Độ là Tích[11] ra gặp mặt; cảm thấy thần thái bất phàm, bèn dẫn vào nhà và mời cơm. Ngồi trò chuyện một hồi lâu, vị Hồ tăng nói với Tích: “Nhà đàn việt[12] dường như cất gương báu vô song, có thể cho xem được hay chăng?”. Tích hỏi: “Sao pháp sư lại biết?”. Nhà sư nói: “Bần tăng từng học Minh Lục bí thuật, nên cũng hiểu đôi chút về bảo khí. Trên nhà đàn việt, mỗi ngày thường thấy tia sáng biếc nối liền với mặt trời, có luồng hơi đỏ thẫm hướng về phía mặt trăng, đó là khí của gương báu. Bần tăng quan sát hai năm rồi. Nay chọn ngày tốt, muốn đến xem một chút”. Tích lấy ra, nhà sư quỳ xuống nâng gương xem với vẻ vui sướng. Lại nói với Tích: “Gương này có mấy loại linh tướng, chưa thể thấy hết đâu. Nếu lấy cao vàng bôi lên, dùng bột châu chà xát rồi đưa ra ánh nắng thì bóng tất sẽ chiếu xuyên tường vách”. Nhà sư lại thở dài nói: “Còn một cách khác, có thể khiến gương soi thấu đến lục phủ ngũ tạng, chỉ tiếc là không thể cho ra thuốc mà thôi. Nếu lấy muội vàng hun lên, dùng nước ngọc rửa đi, rồi lau bằng cao vàng với bột châu thì dù có để trong bùn, ánh sáng cũng không tắt”. Bèn để lại muội vàng và nước ngọc, làm thử thì không có phép nào không linh nghiệm. Nhưng chẳng thấy vị Hồ tăng kia đâu nữa.

Mùa thu năm nọ, Độ ra kiếm chức Nhuế Thành lệnh. Trước lệnh sảnh có một cây táo thân to đến mấy trượng, không biết đã mấy trăm năm rồi. Mỗi quan lệnh đến nhậm chức đều phải khấn vái cây này, nêu không thì ắt gặp họa ngay. Độ cho rằng yêu khí nhờ người mà hưng vượng, tệ cúng bái phải bỏ đi. Các huyện lại đều dập đầu xin Độ. Độ bất đắc dĩ phải khấn, nhưng bụng đoán chắc cây này có tinh linh quỷ mị nương náu, người ta không trừ được nên thế lực mới thành ra như vậy, bèn bí mật treo gương lên giữa cây. Canh hai đêm ấy, nghe trước sảnh có âm thanh vang vọng tựa như tiếng sấm rền, liền chạy ra xem, thấy mưa gió tối tăm vây chặt quanh cây táo. Ánh chớp lóe rực, chợt nháy chợt tắt. Đến sáng thì có con rắn lớn, vảy tím đuôi đỏ, đầu xanh sừng trắng, trên trán có chữ “vương”, mình nó bị mấy vết thương và nằm chết dưới gốc cây. Độ thu gương về, sai bọn lại kéo con rắn ra thiêu trước cửa huyện đường. Rồi cho quật cây lên, thấy trong cây có cái hang, càng sâu xuống đất thì càng lớn, có dấu vết rắn từng ở, lấp hang ấy đi thì yêu quái bị diệt ngay.

Mùa đông năm đó, Độ làm Ngự sử kiếm Nhuế Thành lệnh, trì tiết đạo Hà Bắc, mở kho lương, phát chẩn cho Thiểm Đông. Bấy giờ thiên hạ gặp nạn đói to, trăm họ lại bệnh tật, giữa vùng Bồ, Thiểm là dịch bệnh nặng nhất. Có người Hà Bắc tên Trương Long Cầu làm tiểu lại cho Độ, nhà nghèo con đông, mười mấy người đều đồng loạt mắc bệnh. Độ thương xót, đưa gương cho mang về, bảo Long Câu cầm gương chiếu ban đêm. Những người mắc bệnh nhìn thấy gương đều kinh ngạc, họ nói: “Thấy Long Câu cầm vầng nguyệt soi vào, ánh trăng rọi tới thì như băng nhập thể, lạnh thấu đến phủ tạng, sau đó thì ấm ngay”, đến khuya thì khỏi hẳn. Nghĩ gương không bị hư hại gì, trái lại còn cứu được bách tính, thế là bí mật sai cầm gương đi quan sát từng nhà. Đêm ấy, gương nằm trong tráp phát ra tiếng rít chói tai, rất lâu mới chịu ngừng. Độ lấy làm lạ lắm. Sáng hôm sau, Long Câu đến nói với Độ: “Đem qua Long Câu mơ thấy một người đầu rồng thân rắn, đội mão son, mặc áo tím đến nói với Long Câu: ‘Ta chính là thần gương, tên Tử Trân. Ta từng ban đức cho nhà ông nên nay đến cậy ông thay ta báo lại Vương công rằng: Trăm họ có tội, trời giáng bệnh tật, sau lại bắt ta trái ý trời mà cứu người? Vả lại dịch bệnh đến tháng sau là bớt rồi, cần chi làm khổ ta nữa?’”. Độ cảm thấy rất quái dị, nhưng cũng tin theo. Tới tháng sau, dịch bệnh quả nhiên giảm bớt y như lời thần nói.

Năm Đại Nghiệp thứ mười, em Độ là Tích từ chức Lục Hợp thừa trở về, lại sắp du sơn ngoạn thủy, tính làm một chuyến đi dài. Độ can em: “Nay thiên hạ đại loạn, giặc cướp khắp nơi, muốn đi mà yên được hay sao? Vả lại xưa nay ta với đệ đồng khí[13], chưa từng xa nhau lâu ngày. Chuyến này hình như đệ sẽ đi xa lắm. Xưa Thượng Tử Bình[14] vân du Ngũ Nhạc rồi không ai biết tung tích. Nếu đệ mà nối gót tiên hiền thì sao ta chịu nổi?”. Liền khóc trước mặt Tích. Tích thưa: “Ý đệ đã quyết, huynh đừng giữ nữa. Huynh là người thông đạt, lẽ ra phải thấu hiểu. Khổng Tử nói: ‘Không thể cướp cái chí của thất phu[15]’. Đời người trăm năm, thoáng chốc như bạch câu qua khe cửa[16]. Được tình thì vui, thất chí thì buồn, để họ toại chí, đó là đạo nghĩa thánh nhân vậy”. Độ bất đắc dĩ để em đi. Tích nói: “Lần này ly biệt, đệ còn có thỉnh cầu. Chiếc gương huynh giữ không phải đồ trần tục, Tích muốn giong chí đường mây, dạo bước yên hà, mong huynh tặng cho gương báu”. Độ nói: “Ta nào tiếc với đệ”. Rồi đưa cho. Tích cầm lấy gương và đi, không nói thêm gì nữa.

Đến mùa hạ tháng Sáu năm Đại Nghiệp thứ mười ba, Tích trở lại Trường An, mang theo gương về. Tích nói với Độ: “Gương này đúng là bảo vật. Sau khi Tích từ biệt huynh, trước là du ngoạn núi Thiếu Thất ở Tung Sơn, trèo qua Thạch Lương, ngồi trên Ngọc Đàn. Đến chiều tối thì gặp một hang sâu thẳm, trong đó có tòa thạch đường chứa được năm ba người, Tích bèn dừng chân lại đó. Đêm ấy có trăng, sau canh hai thì có hai người tới, một trông như người Hồ, mày râu bạc phếch và gầy ốm, tự xưng là Sơn công, người kia thì mặt rộng, râu trắng mày dài, đen và thấp bé, tự xưng là Mao sinh. Họ hỏi Tích: ‘Người nào ở đây vậy?’. Tích đáp: ‘Là kẻ đi tìm chốn u nhàn và ngao du động núi đây’. Hai người ngồi xuống và trò chuyện với Tích, toàn nói những ngôn từ dị nghĩa. Tích nghi họ là tinh linh ma quái, bèn đưa tay ra sau và mở tráp lấy gương. Gương soi tới thì hai người liền thất kinh phủ phục. Tên lùn hóa thành rùa, lão Hồ hóa thành vượn. Treo kính tới sáng thì cả hai đều chết, xác rùa mang lông xanh, còn xác vượn mang lông trắng. Tiếp đến thì vào Ky Sơn, vượt Dĩnh Thủy, đi qua Thái Hòa, tham quan Ngọc Tỉnh. Bên Ngọc Tỉnh có cái ao, nước trong màu lục bích. Hỏi tiều phu thì họ nói: ‘Đây là Linh Tưu, thôn lư cứ tám tiết đều cúng bái để cầu thần ban phúc. Nếu bỏ sót một lần thì nước ao sẽ cho mây đen xuất hiện, khiến mưa đá đổ xuống hại hoa màu, mưa trắng xóa cuốn trôi đi cây cỏ, đê vỡ gò tan’. Tích lấy gương ra chiếu, nước ao sôi réo, sấm chớp ầm ầm. Chợt nước vọt lên cao, trong ao không còn lại một giọt. Đi được hơn hai trăm bước thì nước tuôn xuống đất. Có con cá dài hơn một trượng, mình rộng hơn cánh tay người, đầu đỏ trán trắng, thân màu vàng xanh, không có vảy nhưng có dãi, mình rắn sừng rồng, miệng nhọn như cá tấm, khi cử động thì phát ra ánh sáng. Nó nằm lại trong bùn, khốn quẫn không thể chạy đi xa. Tích nghĩ đây là giao long, ra khỏi nước thì không làm gì được nữa, liền đâm rồi đem nướng, ăn thấy béo ngậy ngon lành, bụng no tới mấy bữa. Rời nơi đó thì đến Tống Biện. Biện chủ Trương Kỳ có cô con gái ốm trong nhà, đêm đến nghe thấy tiếng kêu la đau đớn, thật lòng không nỡ. Tích hỏi nguyên nhân, được biết nàng bệnh mấy năm rồi; ban ngày không sao, nhưng về đêm thì vậy. Đêm đó Tích ở lại, khi nghe tiếng gào liền lấy gương ra chiếu. Người bệnh nói: ‘Chàng đội mão bị giết’. Dưới giường nàng có một con gà trống chết, đó là gà mà chủ nhân đã nuôi dưỡng bảy tám năm. Rồi du ngoạn Giang Nam. Lúc sắp qua sông Dương Tử ở Quảng Lăng, chợt mây đen che nước, gió cuộn sóng trồi, thuyền không chịu được, e rằng chìm mất. Tích có mang gương lên thuyền, bèn chiếu giữa dòng sông mấy bộ, sáng soi thấu đáy, mây gió bốn mặt yên bình, sóng triều cũng ngưng lại, tất cả chỉ chuyển biến trong chốc lát mà thôi. Sang đến bờ bên kia, đệ lại lên Nhiếp Sơn, đi Phương Lĩnh, hoặc trèo non dốc, hoặc vào hang sâu. Thấy bầy chim vây náo quanh người nọ, mấy con gấu thì nằm đợi bên đường, đệ lấy gương xua đuổi, gấu chim kinh hãi chạy đi cả. Đệ thuận lợi xuống Chiết Giang, xuôi thuyền đi ra biển. Sóng thét gào dữ dội, xa mấy trăm dặm còn nghe thấy. Thuyền nhân nói: ‘Sóng sắp dâng rồi, chưa thể xuống Nam đâu. Nếu không quay thuyền thì chúng ta ắt chết trong bụng cá’. Tích lấy gương ra chiếu, sóng đứng yên không vỗ nữa mà cuồn cuộn như mây. Sông mở thông bốn mặt hơn năm chục bộ, nước cũng trong và chảy êm, ba ba, cá sấu tản đi hết. Buồm lại căng lên và chạy thẳng tới bờ Nam. Sau đó ngoảnh lại nhìn, thấy sóng nước ầm ầm, cao mấy chục trượng, vỗ đến tận bến thuyền vừa đi qua.

Rồi lên Thiên Thai, tham quan các hang động quanh đó. Ban đêm đệ mang gương vào thung lũng, không gian sáng sủa trải dài đến trăm bước, những vật nhỏ bé đều thấy hết, chim muông trong rừng kinh hoàng bay tán loạn. Tích tới Cối Kê, gặp dị nhân tên Trương Thủy Loan, được truyền thụ Chu bễ, Cửu chương[17] và minh đường, lục giáp[18] cùng Trần Vĩnh trở về. Lại du lãm Dự Chương. Gặp đạo sĩ Hứa Tàng Bí, nói mình là cháu bảy đời của Tinh Dương[19], có chú thuật lên núi đao, đạp trên lửa. Lúc bàn về yêu quái, ông nói đến Thương đốc huyện Phong Thành Lý Kính Thận, trong nhà có ba người con gái mắc bệnh lạ, không ai biết bệnh gì, Tàng Bí chữa nhưng vô hiệu. Cố nhân của Tích là Triệu Đan có tài cán, được bổ làm Huyện úy huyện Phong Thành, Tích nhân đó ghé chơi. Đan sai người thu xếp cho nơi ở, Tích nói:

‘Muốn đến nghỉ tại nhà Thương đốc Lý Kính Thận’. Đan liền sai bày giường theo lễ chủ khách. Tích hỏi duyên cớ, Kính Thận nói: ‘Ba đứa con gái sống trên gác cùng nhà, mỗi tối đều bôi son phấn, mặc áo đẹp. Sau hoàng hôn thì về gác, không châm nến đốt đèn. Lắng nghe thì thấy tiếng nói cười, nhưng ngủ đến tận sáng, không gọi thì không dậy được. Đã vậy ngày càng gầy đi, chẳng ăn được bao nhiêu. Tôi có cấm điểm trang chải chuốt, nhưng chúng đòi đập đầu nhảy giếng. Thật không biết làm sao nữa?’. Tích nói với Kính Thận: ‘Xin cho tôi xem gác đó’. Phía Đông gác có cửa sổ, lo rằng cửa đóng khó mở được nên ban ngày đã chặt gãy bốn chấn song, sau lại để chắn y như cũ. Đến chiều hôm, Kính Thận báo với Tích: ‘Chúng ăn diện lên gác rồi’. Đến canh một, nghe có tiếng cười nói rất tự nhiên. Tích rút song chấn cửa rồi cầm gương vào gác chiếu. Ba cô gái nói: ‘Giết chồng tôi rồi’. Ban đầu không nhìn ra thứ gì, khi dùng gương rọi tới thì thấy một con chồn, toàn thân nó dài một thước ba bốn tấc, không có răng lông, một con chuột cũng không có răng lông, nhưng to béo, trông nặng đến năm cân, lại có con thằn lằn to như tay người, mình phủ vảy giáp lấp lánh năm màu sắc, đầu mọc hai sừng dài chừng một tấc, đuôi thì dài hơn năm tấc, một tấc ở ngọn đuôi có màu trắng, tất cả đều nằm chết trước lỗ tường. Từ đó bệnh của các nàng kia cũng khỏi. Sau đó đệ đi tìm chân nhân ở Lư Sơn, loanh quanh hết mấy tháng, hoặc nằm nghỉ giữa rừng sâu, hoặc phơi sương trên đồng cỏ. Hổ báo theo đuôi, sài lang bám sát, đệ đưa gương ra chiếu, con nào cũng nằm phục như chuột. Lư Sơn có ẩn sĩ tên Tô Tân là một người học thức uyên bác, ông tinh thông Dịch số, biết trước chuyện tương lai. Ông nói với Tích: ‘Phàm thần vật trong thiên hạ ắt không thể ở lâu tại nhân gian. Nay thiên hạ loạn lạc, tha hương vị tất được yên. Gương này còn đó, đủ để ngài giữ lấy mình, mau chóng về quê cũ đi thôi’. Tích theo lời lập tức về phương Bắc, sẵn ngao du Hà Bắc. Đêm nằm mộng thấy gương bảo Tích rằng: ‘Ta nhận hậu lễ của lệnh huynh, nay phải rời nhân gian đi xa, muốn từ biệt, xin ngài trở lại Trường An ngay’. Trong mơ Tích nhận lời. Đến sáng, lúc ngồi một mình suy nghĩ thì thấy hoang mang lo sợ, lập tức theo đường Tần đi sang Tây. Giờ gặp lại huynh, xem như Tích đã không phụ lời hứa, song món linh vật này e rằng vốn không thuộc về huynh”. Mấy tháng sau, Tích quay về Hà Đông.

Ngày mười lăm tháng Bảy năm Đại Nghiệp thứ mười ba, trong tráp phát ra tiếng thét nghe bi thảm, âm thanh mảnh mà vang xa, nhưng phút chốc to dần, như rồng gào hổ rống, lâu lắm mới thôi. Lúc mở tráp ra xem thì gương đã biến mất.

[1] Tức năm loại linh thú tương ứng với các phương vị, gồm Thanh long (Đông), Bạch hổ (Tây), Chu tước (Nam), Huyền vũ (Bắc) và Kỳ lân (trung tâm).

[2] Mười hai thần vị với loài thú tương ứng là Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (thỏ), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).

[3] Tức hai mươi bốn tiết khí trong Nông lịch, gồm Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn.

[4] Gương thời xưa đúc bằng đồng.

[5] Một thước bằng 10 tấc. Một thước năm tấc tức là 15 tấc.

[6] Ý nói chuyện Dương Bảo thời Đông Hán được chim sẻ ngậm chiếc vòng mang đến mà gia tộc trở nên hiển hách (xin xem Bổ Di 1).

[7] Chỉ quan Tư không Trương Hoa (232 – 300) thời nhà Tấn. Khi ông bị Triệu Vương Tư Mã Luân giết thì bảo kiếm cũng biến mất.Sách “Tấn thư” chép: “Ban đầu, nước Ngô chưa bị diệt, giữa sao Đẩu và sao Ngưu thường có khí tím … Đến khi bình Ngô xong thì khi tím càng sáng hơn. Trương Hoa nghe nói Lôi Hoán người Dự Chương tinh thông tượng số sấm truyền, bèn mời Hoán đến ở chung … Khi lên lầu xem thiên văn, Hoán nói: Tôi quan sát lâu rồi, chỉ thấy giữa sao Đẩu với sao Ngưu có dị khí. Hoa hỏi: ‘Là điềm gì vậy?’. Hoán đáp: ‘Có tinh khí của bảo kiếm, trên thông tới trời’. Hoa nói: ‘Ngài đúng đấy. Lúc thiếu thời, có người xem tướng bảo ta sống ngoài sáu mươi, ở ngôi vị Tam công, còn đeo bảo kiếm nữa. Lời đó há ứng nghiệm rồi chăng?’. Nhân đó hỏi luôn: ‘Kiếm ở quận nào?’. Hoán đáp: Ở Phong Thành, Dự Chương’. Hoa nói: Để ngài làm quan tể, âm thầm tìm kiếm có được không?’. Hoán đồng ý, Hoa rất vui, bổ nhiệm Hoán làm Phong Thành lệnh. Hoán đến huyện, lật nền nhà ngục, đào sâu hơn bốn trượng thì tìm thấy tráp đá, phát sáng lạ thường, trọng có hai thanh bảo kiếm, còn khắc cả tên, một là Long Tuyền, một là Thái A … sai sứ lấy một thanh dâng lên Hoa, giữ một thanh lại để mang … Hoa bị giết, kiếm cũng không biết đi đâu”.

[8] Thái âm tức mặt trăng.

[9] Tô Xước (498 – 546) tự Lệnh Xước, cháu chín đời của Tô Tắc nước Ngụy đời Tam Quốc, làm quan cho triều đình Tây Ngụy thời Nam Bắc triều. Ông là người hiếu học, tinh thông thuật bói toán.

[10] Bộ khúc là đơn vị biên chế trong quân đội thời xưa, sau dùng để chỉ quân lính hay bộ hạ.

[11] Vương Tích (khoảng 589 – 644) tự Vô Công, hiệu Đông Cao Tử, một ẩn sĩ thời Tùy Đường.Thiên “Ẩn dật” trong “Cựu Đường thư” viết rằng: “Anh của Vương Tích tên Thông, tự Trọng Yêm, là một danh Nho trong những năm Đại Nghiệp thời Tùy, hiệu Văn Trung Tử”.Thiên “Ẩn dật” trong “Tân Đường thư” thì chép: “Lúc trước, anh của Vương Tích là Ngưng làm Trước tác lang cho nhà Tùy, soạn “Tùy thư” chưa xong thì chết, Tích kế tục công việc, cũng chưa thể hoàn thành”.“Văn Trung Tử thế gia” của Đỗ Yêm lại nói: “Năm Vũ Đức thứ tư triều Đại Đường, thiên hạ yên định, tiên phu nhân quay trở về cố cư, đem sách của Văn Trung Tử truyền thụ cho em ông là Ngưng”.Như vậy, Vương Thông, Vương Ngưng và Vương Tích là ba anh em, Vương Ngưng cũng từng giữ chức Trước tác lang, đúng như tác giả “Cổ kính ký” tự thuật, còn tư liệu về Vương Độ lại quá ít. Bởi thế, học giả hiện đại Uông Tịch Cương cho rằng Vương Độ và Vương Ngưng chỉ là một người. Chính Lỗ Tấn cũng đặt nghi vấn: “Tích với Ngưng trong “Tân Đường thư” có lẽ là Tích với Độ trong truyện này, hoặc Độ có tên khác là Ngưng, hoặc “Tân Đường thư” chép nhầm, chưa thể biết rõ được”.

[12] “Đàn việt” được dịch từ chữ danapati trong tiếng Phạn, có nghĩa là thí chủ.

[13] “Đồng khí” chỉ anh em ruột thịt. “Thiên tự văn” có câu: “Khống hoài huynh đệ, đồng khí liên chi” (anh em nhung nhớ và giúp đỡ nhau, cùng chung huyết thống, như cây liền cành).

[14] Tức Hướng Trường, tự Tứ Bình, một ẩn sĩ thời Đông Hán. Thiên “Dật dân liệt truyện” trong “Hậu Hán thư” chép: “Trong những năm Kiến Vũ, cưới vợ gả chồng cho con xong, Trường không hỏi đến việc nhà nữa, nói: ‘Xem như ta đã chết’. Rồi tùy ý hành sự, cùng bạn thân là Cầm Khánh người Bắc Hải vân du khắp danh sơn Ngũ Nhạc, không ai biết sau đó thế nào”.

[15] Câu này trong sách “Luận ngữ”, thiên “Tử hãn”.

[16] Thiên “Tri Bắc du” trong “Nam Hoa kinh” viết: “Con người ở trong khoảng trời đất cũng giống như bạch câu (ngựa trắng) qua khe cửa, thoáng chốc rồi thôi”.

[17] Chu bế tức “Chu bế toán kinh”, còn Cửu chương tức “Cửu chương toán thuật”, đây là hai tác phẩm toán học kinh điển của Trung Quốc cổ đại, đến thời Đường được đưa vào danh mục “Toán kinh thập thư”.

[18] “Minh đường” với “lục giáp” vốn có rất nhiều nghĩa, ở đây, Vương Tích được truyền thụ minh đường, lục giáp cùng với sách toán kinh, vậy chắc hẳn đó là những thuật ngữ sử dụng trong phong thủy, tướng thuật hoặc thiên văn.Trong phong thủy, minh đường dùng để chỉ vị trí có địa khí tụ hội trước ngôi mộ.Trong tướng thuật, nếu vạch một đường chia đôi lòng bàn tay theo phương vị bát quái thì minh đường nằm ngay chính giữa lòng bàn tay.Trong thiên văn cổ của Trung Quốc, Lục Giáp là sáu ngôi sao thuộc nhóm Tử Vi viên trong Tam viên. Sách “Cam Thạch tinh kinh” nói: ‘‘Sáu sao Lục Giáp nằm bèn dưới Hoa Cái, bên cạnh sao cống, chủ phân âm dương, xuất nhập tương ứng với từng mùa và khi hậu, cho nên ở kế Đế tọa, ban bố chính giáo và cho biết vụ mùa vậy”.‘

[19] Tức Hứa Tốn (239-374), tự Kính Chi, một đạo sĩ nổi tiếng thời nhà Tấn, được người đời gọi là Tinh Dương tổ sư.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.