Khuyết danh
Tiền Tiến sĩ Vương Thù tự Học Nguyên, tổ tiên là người Lang Da, đỗ đạc vào năm Nguyên Hòa thứ mười ba, từng sống ở danh sơn vùng Trâu Lỗ để học tập. Thù kể rằng, bốn năm trước, khi ghi tên ứng hương cổng lên kinh, nghỉ chân trong quán trọ Huỳnh Dương lúc tối trời, gặp được vị Tú tài Bành Thành tên là Thành Tự Hư. Tự Hư vì việc nhà nên không thể ứng thí, đang quay về cố hương, gặp được Thù, nhân đó kể lại sự vất vả bôn ba của chính mình. Tự Hư tự Trí Bản, lúc trò chuyện có đề cập đến những việc lạ lùng từng mục kích giữa nhân gian.
Ngày mồng tám tháng Mười một năm ấy (tức năm Nguyên Hòa thứ tám), Tự Hư về phía Đông. Ngày hôm sau thì tới huyện Vị Nam, lúc đó trời âm u nên chẳng biết mấy giờ. Huyện tể Lê Vị giữ ông lại mời uống mấy tuần rượu, Tự Hư cậy vật cưỡi của mình khỏe, bèn sai nô bộc mang hành lý, bảo tới quán trọ Xích Thủy đợi trước, còn mình thì thong thả đi sau. Khi ra khỏi cửa Đông huyện thành thì gió lạnh quét đất, tuyết bay mù trời, đi chưa được mấy dặm mà trước mặt đã tối om. Tự Hư đã bảo nô bộc đi cả rồi, trên đường cũng vắng bóng người qua lại, nên chẳng thể hỏi thăm, không rõ mình đã đến nơi nào. Qua trạm dịch Đông Dương xuống hướng Nam, tìm lối ra cửa khẩu Xích Thủy. Rời trạm dịch ba bốn dặm thì gặp một hố đất trũng xuống, nhờ có ánh trăng nhạt đang chiếu khắp cánh rừng, ông nhận ra đó là ngôi đền Phật. Tự Hư mở cửa bước tới, tuyết càng lúc càng dày. Tự Hư trộm nghĩ, nơi đây là chỗ Phật thì ắt có tăng nhân, ông muốn xin nghỉ tạm nên đánh ngựa tiến vào. Sau đó mới nhận ra mặt Bắc có phòng trống, lặng im không thấy chút ánh đèn. Lắng nghe một lúc lâu, dường như ai đó đang than thở, Tự Hư bèn buộc ngựa ở cây cột phía Tây, liên tục gọi: “Hòa thượng viện chủ ơi, đêm nay xin từ bi cứu với”. Từ từ có tiếng người đáp lại: “Lão bệnh tăng Trí Cao đang ở đây. Giờ này nô bộc trong chùa đều vào thôn hóa duyên rồi, kiếm đâu ra lửa đuốc? Tuyết lớn như vầy, đêm hôm khuya khoắt, khách tìm tới làm gì? Mà ngài từ đâu đến vậy? Bốn phía không có người quen hay hàng xóm, biết nhờ ai giúp đỡ? Đêm nay, nếu không phiền vì lão tăng bệnh tật dơ bẩn thì ngài cứ ở lại mà tránh tuyết. Lão tăng có thể cho ngài ít cỏ rơm để trải nằm”. Tự Hư đã hết cách, nghe nói thế cũng mừng thầm, bèn hỏi: “Cao công quê quán ở đâu? Vì sao lại tới đây? Còn tục danh là gì? Tôi đã chịu ơn ngài thu nhận thì cũng nên biết một chút về thân thế”. Đáp rằng: “Bần đạo họ An (do trên người có “bướu thịt”[1]), sinh tại Thích Tây, bởi phát nguyện xả thân nên tùy duyên đến Trung Quốc. Tới đây chẳng bao lâu thì chùa viện đã hoang tàn, Tú tài đột ngột ghé qua, không có gì tiếp đãi, xin ngài đừng trách”. Tự Hư hỏi đáp như vậy mà quên cả cơn mệt mỏi vừa rồi. Bèn nói với Cao công: “Nay mới biết thế nào là thám bảo hóa thành[2], Như Lai đâu có tùy tiện nêu thí dụ? Cao công chính là đạo sư của tôi vậy. Cao công hiểu Phật nghĩa chính tông, cho nên dạy người ta phục pháp được như thế”.
Mới đó lại nghe thấy tiếng bước chân dồn dập, như có mấy người cùng tiến vào, họ hỏi: “Tuyết lớn quá, sư trượng có nhà không?”. Cao công còn chưa đáp thì một người lên tiếng: “Mời Tào trưởng đi trước”. Lại nghe nói: “Chu Bát trượng nên đi trước”. Lại có người nói: “Đường rất rộng, Tào trưởng không phải cố nhường, mọi người cùng đi thôi”. Tự Hư thấy nhiều người kéo tới nên bụng dạ phấn chấn lên. Được một lúc, có vẻ như bọn họ đã kéo hết vào rồi. Trong đó có người nói: “Sư trượng, ở đây có khách nghỉ trọ không?”. Cao công đáp: “Vừa có một vị khách ghé qua”. Trước mắt tối om, Tự Hư nhìn không rõ hình dáng mấy người kia, riêng kẻ đứng gần nhất thì nhờ ánh tuyết dưới mái hiên chiếu sáng, thấy hình như hắn mặc áo lông đen, ở lưng và hông có chỗ vá màu trắng. Người đó lên tiếng hỏi Tự Hư: “Sao khách lại một mình đội tuyết, đêm hôm đến chỗ này?”. Tự Hư nói hết sự thật. Người đó hỏi danh tính, ông đáp: “Tiến sĩ Thành Tự Hư”. Tự Hư cũng sẵn đó nói luôn: “Trong bóng tối không bái kiến được tôn nhan, mai này không thể nói cho con cháu biết tình cố cựu, xin các vị cho hay quan chức với họ tên”. Liền nghe một người nói: “Tiền Hà Âm Chuyển vận Tuần quan, Thí Tả Kiêu vệ Trụ tào Tham quân Lư Ỷ Mã[3]. Một người khác nói: “Đào Lâm khách, Phó Khinh xa Tướng quân Chu Trung Chính[4]“. Lại có người nói: “Khứ Văn, họ Kính[5]“. Một người nữa nói: “Nhuệ Kim, họ Hề[6]“.
Bấy giờ mọi người vây lại ngồi. Ban đầu là hỏi chuyện Thành công ứng thí, sau đó Ỷ Mã lại bàn tới thơ văn, nói rằng: “Khi còn bé, tôi có nghe người ta ngâm vịnh thơ “Tụ tuyết vi sơn” của sư trượng, giờ đây vẫn còn nhớ. Cảnh tượng đêm nay quả thật giống trong thơ. Sư trượng có chuyện này hay chăng?”. Cao công nói: “Lời thơ như thế nào? Xin đọc lên nghe thử”. Ỷ Mã nói: “Tôi nhớ như vầy:
Nhà ai quét tuyết trước sân dày?
Non cao muôn vạn, nắm trong tay.
Hồn ta đâu biết cơn rét mướt,
Bao năm vẫn sống ở nơi đây.
Tự Hư nghe thấy mà hoang mang, há hốc mồm rồi căng mắt, không sao hiểu được ý tứ. Cao công bèn nói: “Tuyết Sơn là ngọn núi quê ta, năm ấy tình cờ gặp đứa bé đang chơi tuyết, đắp nên dãy núi cao chót vót, ta trông về hướng Tây mà não ruột, nhân đó viết thơ này. Tào trưởng thông minh thật, nhớ kỹ đến như vậy. Thơ bần đạo thời đó nghe tệ hại, nếu Tào trưởng không đọc lên thì quả thật không nhớ nữa”. Ỷ Mã nói: “Sư trượng rong ruổi đại mạc, thoát khỏi sự ràng buộc[7] của trần thế, đạo mạo uy nghi, có thể nói là hơn hẳn chúng tôi. Chứ như bọn trẻ con, hễ trông gió bụi thì chạy tới, sao[8] dám trộm nhìn chỗ cao xa của ngài? Xuân nay Ỷ Mã vào thành vì việc công, tính tình đã ngu độn, kinh khuyết trụ ngọc, không sao chịu nổi. Bó mình mãi trong lữ quán, tuy lam lũ ngày đêm nhưng miếng ăn chẳng được bao, việc gánh vác trên lưng không hề nhẹ, lúc nào cũng lo bị đòn. Gần đây bản viện chuyển đổi một hư hàm (đánh ngựa không thay cho lừa), có ý cầu xin miễn giảm. Đêm qua rời quán trọ ở dưới thành Trường Lạc, tôi tự xót bản thân vất vả giữa bụi trần, cảm khái lập chí hướng muốn quy ẩn điền viên, nhân đó viết hai bài thơ vụng đem gửi cho chúng bạn. Trước các vị thi nhân đây, tôi cũng muốn đọc một lần, nhưng còn ngại chưa dám”. Tự Hư nói: “Đêm nay đêm nào? Được nghe kiệt tác[9]“. Ỷ Mã khiêm tốn nói: “Do tôi không biết mình kém tài, huống chi sư trượng và các bậc văn tông đều ở đây, sao dám tự phô bày cái xấu?”. Tự Hư cố nài: “Xin nghe, xin nghe!”. Ỷ Mã bèn ngâm vang hai bài thơ:
1
Trường An đi tới đạo Lạc Dương,Xe ngựa luân phiên, lấm bụi đường.
Vung roi hám lợi tranh lên trước,
Gặp mặt, thì ra lũ tầm thường.
2
Chiều tối rong cương lạc chốn này,Đơn thân độc bước gọi ai hay?
Bên sông đồng cỏ xanh biên biếc,
Xuân đến lòng ta cũng khỏa khuây[10].
Mọi người đều khen: “Thơ hay lắm!”. Ỷ Mã khiêm tốn bảo: “Chỉ mấy dòng vụn vặt thôi”. Trung Chính nói với Cao công: “Nghe nói kẻ sĩ vùng đại mạc phương Bắc có nhiều người ngâm đọc diễm thi của sư trượng. Hôm nay tới Dĩnh Xuyên, nghe thấy Lư Tào trưởng xướng thi, khiến kẻ u mê này được tẩy rửa tấc lòng, ý tình trong sạch và sảng khoái. Thơ sư trượng mới viết cũng khá nhiều, mọi người ngồi đây đều mong mỏi lắng nghe, sao sư trượng không ngâm vịnh đôi ba bài để ai nấy thỏa mãn?”. Cao công xin dời lại dịp khác. Trung Chính nói tiếp: “Những người ngưỡng mộ danh tiếng của sư trượng đều đã tới, ngài tiếc chi chút tài hoa? Nhã luận cao đàm cũng là chuyện trọng đại một thời. Chợ ở xa như vậy, nửa đêm cao hứng, chén rượu cố nhiên không thể kiếm, mà thức nhắm thì lại lấy đâu ra? Lễ nghi chủ khách thiếu sót quá nhiều, thật đáng hổ thẹn! Bọn chúng tôi có thể lấy quan tâm[11] để nhấm nháp (chỉ bản tính ăn cỏ, giống như sư trượng), trong khi các vị suốt đêm chẳng có gì lót dạ, biết làm sao được bây giờ?”. Cao công bảo: “Nghe nói một câu chuyện hay cũng đủ để quên đi đói khát, giống như Bát lang dốc hết sức cứu người, nhấc bước theo dấu xe, công thành khao lính là sở trường. Nhưng mười hai nhân duyên[12] đều khởi phát từ chén rượu[13]. Biển khổ mênh mông, phiền não theo đó sinh ra. Đất nào thì thấy được bồ đề[14]? Cửa nào mới tránh được nhà lửa[15]? (cũng dùng chuyện để giễu cợt)”. Trung Chính đáp: “Theo kẻ ngu này thấy, xe này lật thì xe kế tiếp lật theo, ác đạo luân hồi, nhân quả báo ứng, mọi thứ quá rõ ràng. Rướn cổ tu hành, nguyên nhân là ở đây”. Cao công cười to rồi bảo: “Họ Thích đề cao sự thanh tịnh, đạo thành thì gọi là chính giác[16], giác tức Phật vậy. Như những gì mà Bát lang vừa nói, đúng thật đã lĩnh hội được chỗ sâu xa”. Ỷ Mã cũng cười vang. Tự Hư lại nói: “Ban nãy Chu Tướng quân một mực nài nỉ hòa thượng ngâm vịnh thơ mới viết, trong bụng tiểu sinh quả thực cũng đang có ý này. Không lẽ hòa thượng thấy Tự Hư là viễn khách, lại chẳng phải đệ tử của Phật môn nên coi thường hay sao? Vả lại, hòa thượng có kiến thức phi phàm, chí hướng thì cao xa, thi tứ với luật vận nhất định là quán tuyệt nhân thế, câu chữ ắt diễm lệ sáng ngời, vượt xa hẳn cõi tục. Sao nỡ đem giai tác giấu kín cho riêng mình, không chịu đọc lên một hai bài để mọi người được đại khai nhãn giới?”. Cao công nói: “Tú tài đã có lòng như vậy, cũng khó bề làm trái, huống chi lão tăng đang đau ốm suy nhược, học vấn đã xếp xó từ lâu, đạo chương cú vốn chẳng phải sở trường, vô cớ lại bị Chu bát bóc trần chỗ yếu kém. Song lúc ngả bệnh, tiểu tăng ngẫu hứng viết hai bài tự thuật, các bậc văn sư có thể lắng nghe chăng?”. Đều đáp: “Xin nghe”. Thơ rằng:
1
Khoác áo lang thang chẳng để danh,Lưu Sa ngàn dặm, tuổi trôi nhanh.
Nam Tông[17] tám pháp truyền đi hết,
Song Phong[18] trơ đó giữa mây lành.
2
Bởi có nhân duyên, quý Bộ Châu,[19]Rời xa Tây quốc, nhập Tần sâu.
Ngờ đâu lâm bệnh thôi hoằng đạo,
Làm tay hành giả chẳng vương sầu.
Ai nấy đều tấm tắc khen hay. Một lát sau, từ chỗ ngồi, Khứ Văn chợt lên tiếng: “Khi xưa Vương Tử Du[20] bái phỏng Đới An Đạo[21] ở Sơn Âm, đêm ấy tuyết rơi trắng xóa, ông tới cửa liền về, cho nên mới lưu truyền câu nói “hà tất kiến Đới” (cần chi gặp Đới). Đương thời, người người đều coi trọng cảm hứng siêu dật, nay Thành quân có thể được xem là bằng hữu hội văn, coi khinh bọn Viên An[22], Tưởng Hủ[23]. Lúc tôi còn trẻ, cậy mình có khí chất anh tuấn, ưa thích lũ diều cắt, từng phi ngựa săn bắn trong thời tiết thế này. Nhà tôi ở Đông Nam Trường An, đài tế phía Đông sông Ngự Túc (địa danh này là Cẩu Gia Chủy), từng dâng một bài thơ vịnh tuyết cho Tào Châu phòng, nay đọc lên, chắc không bị bọn thi cuồng công kích, nhưng lại sợ bẩn tai bậc cao minh. Thơ rằng:
Yêu lắm phiêu diêu lục xuất công,[24]
Phiến quỳnh tơ liễu lượn trời đông.
Đang lúc đuổi theo Tần Thừa tướng,[25]
Một dải xuyên nguyên đón gió lồng.
Dâng lên, Tào Châu phòng rất thích thơ của tôi, song làm khó nói rằng: ‘Gọi tuyết là công, chẳng kiểm xét lại ư?’. Tôi liền dẫn việc cổ nhân từng gọi trúc là quân, hậu hiền lấy đó làm danh luận để minh chứng. Tào Châu phòng cứng lưỡi, không biết đối đáp sao. Nhưng Tào Châu phòng vốn không phải kẻ hiểu thơ, Ô Đại từng bảo tôi: ‘Khó mà nặng mùi như nhau’, quả không sai! Nay hắn đã đi làm quan xa, nhậm chức Tham quân Đông Châu (ý nghĩa xin xem “Cổ kim chú”[26]), cách đây mấy ngàn dặm. Miêu Thập (lấy số năm năm, cho nên đứng thứ mười) là kẻ luôn quát tháo, cậy thân thích của mình đông, bắt ép người ta giúp đỡ. Nước Lỗ mà không có quân tử thì sao được như vậy?[27]“. Nhuệ Kim nói: “Đâu dám! Không gặp Miêu sinh mấy ngày rồi?”. Đáp: “Cả tuần rồi”. “Vậy họ Miêu giờ ở đâu?”. Khứ Văn đáp: “Cũng không xa lắm. Biết chúng ta đang tụ họp ở đây, hắn tính lại chung vui”. Chưa bao lâu thì Miêu sinh đã tới. Khứ Văn giả vờ vui vẻ, vỗ lưng bảo: “Đúng như tôi mong mỏi”. Khứ Văn dẫn Miêu sinh tới vái chào Tự Hư, Tự Hư xưng tên họ trước, Miêu sinh nói: “Giới Lập họ Miêu[28]“. Chủ khách hàn huyên vài ba câu, có mấy lời mà nói đi nói lại mãi. Nhuệ Kim ngồi bên cạnh nói: “Nãy giờ chúng ta đang nghiêm túc ngâm thơ, các vị đều như thế, vậy lão Hề cũng xin đọc đôi câu thơ vụng, thế nào, được hay chăng?”. Tự Hư nói: “Lúc đầu được Hề sinh hết lòng chiếu cố, sao giờ còn tiếc rẻ bảo vật, khiến ai nấy quá thất vọng?”. Nhuệ Kim lui bước rồi do dự đáp: “Thôi để mọi người được một phen cười ồ”. Rồi đọc lên ba bài thơ vừa sáng tác:
1
Múa kính tranh loan thái,Lên đài: cựa đứng đầu.
Đang nhớ ngày tiên trượng,
Ngẩng cổ ngó trước lâu.
2
Lính chiến trơ như gỗ,Đón xuân thế này sao?
Đã không e mưa gió,
Cần chi chỗ đậu cao?
3
Từng giúp Điền Văn[29] thoát,Chịu ơn Kỷ Quyên[30] nuôi.
Muốn biết chân diện mục,
Thôn hoang gáy sương rơi.
Nhuệ Kim ngâm xong thì nghe tiếng tán thưởng vang lên trong bóng tối. Cao công nói: “Chư vị hiền nhân chớ xem Chu Tướng quân như võ sĩ, ngài ấy tinh thông danh lý lắm, lại rất giỏi văn chương, nhưng mà chẳng nói gì, chỉ ẩn mình phê phán chúng ta thôi, làm vậy không nên đâu. Huống chi Thành quân là viễn khách, đêm nay tụ hội, không môn gọi đó là duyên kiếp ba đời, chim ngủ chung cành vậy. Sẵn đây, sao không để lại một giai thoại cho đời sau?”. Trung Chính đứng dậy bảo: “Sư trượng nói thế là đâm vào lòng Trung Chính rồi. Nếu mọi người không vui thì kẻ này đâu dám không tuân mệnh? Song vẫy bút đề bừa, ngộ nhỡ tự chuốc lấy phiền phức thì biết tính sao đây?”. Cao công nói: “Chư vị hiền nhân xin im lặng lắng nghe”. Trung Chính ngâm thơ rằng:
Phụ danh, loạn Lỗ quốc,[31]
Sang Tần, cảm họ Ninh.[32]
Trở trời: Thừa tướng hoảng,[33]
Trâu rống: Cát Lư tinh.[34]
Nương rẫy đầy nông sản,
Kéo xe lắm bất bình.
Sức lực gần đây yếu,
Về cấy ruộng mưu sinh.
Cao công than rằng: “Chu bát tài hoa như vậy mà chưa rời tản trật, vậy ai có thể tiến cử đây? Thiệt thòi quá, thiệt thòi quá!”. Ỷ Mã nói: “Nhị huynh Phù Phong vô tình bị buộc lại (chỉ vật cưỡi của Tự Hư[35]), nhà tôi ở Quy Từ[36], áo xanh xấu tệ, thích ồn ào, ghét tĩnh lặng, ưa đi đây đi đó, hứng thú với mấy việc vận chuyển, dũng mãnh xông pha về phía trước (chỉ con lừa dẫn đầu đội chuyên chở hàng hóa nhẹ). Lần tụ họp này không đến, hắn ân hận thế nào cũng biết rồi”. Khứ Văn nói với Giới Lập: “Chỗ ở của anh em nhà họ Vị cách nơi này không xa, không lui không tới, sao giữ được chí cao thượng? Kinh Thi viết: ‘Bằng hữu du nhiếp’ (bạn bè nên giúp đỡ nhau)[37], họ lại xem chúng ta như người lạ. Theo ngu kiến của tôi, phải viết thư mời họ đến, hoàn thành hảo sự này .
Giới Lập nói: “Mỗ đây vốn định tới bái phỏng Vị Đại, nhưng vừa nãy đang bình thơ hứng tửu nên không dám làm gián đoạn. Nay Kính quân đã trao mệnh cho tôi, xin chư vị cứ ngồi đó, Giới Lập đến Vị gia một chuyến sẽ về liền, tiện thể kéo côn quý nhà họ Vị cùng tới, không biết có được chăng?”. Đều nói: “Được”. Giới Lập liền đi. Được một lúc thì Khứ Văn phê phán Giới Lập trước mọi người: “Tên này ngu xuẩn, nào có vuốt cựa gì? Có điều y liêm khiết, giỏi quản lý kho đụn. Nhưng lại xấu như lạp cô[38], khó tránh bị thiên hạ chê cười”. Ai ngờ đúng lúc Giới Lập với họ Vị cùng nhau tới, bước đến cửa, thoáng nghe được lời kia. Giới Lập vén tay áo giận dữ nói: “Trời sinh Miêu Giới Lập là con cháu trực hệ của Đấu Bá Tỷ[39] được họ từ viễn tổ nước Sở Phần Hoàng Như[40], phân ra hai mươi tộc, chia nhau bái tế, Kinh Lễ còn ghi đó (thiên “Giao đặc sinh” có chép, bát lạp, rước hổ đón mèo[41]). Vậy mà một tên Kính Khứ Văn, hậu nhân của Bàn Hồ[42], không biết trên dưới, trái với nhân luân, chỉ đáng chơi đùa với trẻ con, canh giữ lấy tửu kỳ, siểm nịnh tựa yêu hồ, trộm mỡ về bôi bếp, sao dám khen chê người ta? Nếu mỗ không phô bày chút tài mọn thì họ Kính lại bảo mỗ không biết gì về văn chương, để ngày sau bị thiên hạ coi thường. Nay xin đọc lên bài thơ vụng cho sư trượng nghe, các vị thấy thế nào?”. Thơ rằng:
Ăn thịt chịu ơn của chủ nhân,
Bàn tiệc nằm yên cuộn dưới chân.
Cũng muốn học theo người chí hướng,Há cho tước lớn động lòng trần?
Tự Hư hết lời khen tuyệt. Khứ Văn nói: “Huynh chẳng rõ đầu đuôi đã buông lời miệt thị. Tôi đúng thật là hậu nhân của Hướng Tuất[43] thời Xuân Thu, huynh lại bảo tôi là hậu duệ của Bàn Hồ, như so sánh sao Phòng[44] với thái dương, chẳng liên quan gì hết”. Trung Chính biết rõ tật đấu khẩu của hai người, bèn nói: “Tôi xin làm Nghi Liêu[45] hóa giải cơn giận giữa hai vị được không? Năm xưa, vào thời Xuân Thu, Bàng Sửu Phụ[46] nhà tôi quả có kết minh nhiều lần với Hướng gia và Phần Hoàng. Đêm nay có khách quý ngồi đây, sao hai vị lại phỉ báng tổ tiên của nhau? Trong lời nói đã lộ rõ rành rành, khiến Thành công chê cười vậy. Thôi tiếp tục ngâm thơ đi, đừng tranh cãi nữa”. Vậy là Giới Lập dẫn anh em họ Vị đến gặp gỡ Tự Hư. Lúc đầu chỉ thấy bóng dao động đợi khi hai người họ tới trước mặt, người lớn tuổi bảo mình tên Vị Tàng Hồ, còn người kia bảo mình tên Tàng Lập[47]. Tự Hư cũng giới thiệu họ tên. Tàng Hồ lại đi một vòng quanh mọi người chào hỏi: “Chư vị lệnh huynh, lệnh đệ”. Giới Lập bèn ngợi khen danh tiếng của anh em họ Vị trước chúng nhân: “Ẩn mình nơi thảo dã, song danh tiếng vang xa đến đại tộc, đứng vào hàng tinh tú, thân thiết không khác chi tâm phúc. Huống chi tám sông đất Tần[48] quả thực quán thông thiên phủ, hai mươi tộc cố hương phần lớn sinh sống tại Hàm Kinh. Nghe nói đệ mới viết bài thơ “Đề cựu nghiệp”, đương thời tán dương là diệu bút, bọn ta có thể được nghe không?”. Tàng Hồ đáp: “Tiểu sinh chen chân vào buổi tiệc, văn hào tụ tập như mây, vừa muốn mở miệng thì lại thêm xấu hổ. Nay bất đắc dĩ, đành làm bẩn tai chư hiền vậy”. Thơ rằng:
Điểu Thử ấy quê nhà,
Chu Vương bái Tử Nha.[49]
Vừa rời xa Tý Mão,[50] (chuột, thỏ đều biến thành nhím vậy)
Dâu bể hiện đây mà.
Giới Lập khen hay: “Ngày sau đệ nhất định sẽ nổi danh, nếu công đạo vẫn còn thì thơ văn này ắt bất hủ”. Tàng Hồ khom mình đáp tạ: “Tàng Hồ ở ẩn nơi rừng núi, may mắn được bồi tiếp chư vị hiền nhân đây, huynh khen quá như vậy thì đệ sao dám nhận, như vác gai ở trên lưng”. Ai nấy đều cười. Lúc bấy giờ, Tự Hư nghe được kiệt tác của chư khách, chưa kịp đọc thơ của mình, chỉ nói: “Các vị tài hoa xuất chúng, đều là bậc nhìn trâu lượn đao[51] cả”. Trung Chính nghĩ Tự Hư trào phúng nên lẳng lặng bỏ đi. Cao công không tìm được, nói: “Chu bát không từ mà biệt là cớ làm sao vậy?”. Ỷ Mã đáp: “Chu bát có thù với họ Bào mấy đời rồi, ghét nghe nói đến mài dao cho nên mới bỏ đi”. Tự Hư tạ lỗi vì mình không tinh ý. Khi đó, Khứ Văn một mình kết luận, nói với Tự Hư rằng: “Phàm hành tung của con người ẩn hay hiện, bậc quân tử chỉ quý lấy trung dung. Vẩy đuôi xin ăn thì thỉnh thoảng mãnh hổ cũng làm vậy, hoặc gầm gừ vì tri kỷ, không thể vì chủ nhân vô đức mà phủ nhận tấm lòng trung nghĩa kia. Khứ Văn bất tài, nhưng cũng có hai bài thơ ngôn chí xin dâng”. Thơ rằng:
1
Thờ chúa khi vui lẫn lúc sầu,Há bởi tao khang bỏ chí đâu?
Ôm cây đợi thỏ là không thể,
Hươu nai đuổi hết khỏi non sâu.
2
Thuở trẻ phô trương với vuốt ưng,Khác xa đám hạc chủ nhân cưng.
Thu thảo săn bắt, xa gia quyến,
Bình nguyên thắng lớn nhảy tưng bừng.
Tự Hư khen ngợi mãi không thôi, quên hết vất vả trong đêm ấy, đang muốn khoe thơ mình từng viết hồi trước, bỗng nghe tiếng chuông chùa vang vọng phía xa xa, những người cùng ngồi đột nhiên im lặng cả. Chăm chú nhìn cũng chẳng thấy được gì, chỉ có gió tuyết lùa bên song và mùi hôi thối xộc lên mũi. Lại nghe tiếng sột soạt như ai đó động đậy, song cất tiếng gọi to thì tuyệt nhiên không đáp. Tự Hư hoảng hốt, chưa dám đến sờ thử, bèn lui lại dò tìm chỗ buộc ngựa, vẫn ở góc phía Tây của gian nhà. Yên đệm phủ tuyết, còn ngựa thì gặm cột mà đứng. Đang lúc chần chừ thì ánh ban mai chiếu vào soi rõ hết mọi thứ. Ở bức tường phía Bắc có một con lạc đà nằm áp bụng khuỵu chân, cụp tai, nhai đi nhai lại thứ gì đó. Tự Hư cảm thấy chuyện đêm qua kỳ dị, bèn đi quanh xem xét. Dưới hiên Bắc bên ngoài, chợt thấy một con lừa đen gầy còm, trên sống lưng có ba chỗ bị rách da, mọc đầy lông màu trắng. Ngẩng đầu nhìn lên vòm Bắc, thấy hình như có gì đó lay động, hóa ra là một con gà nhỏ đang đậu ở trên đó. Ra phía trước, tới mặt Bắc bệ thờ Phật đã sụp đổ thì có khoảng đất trống rộng khoảng mấy chục bộ. Dưới cửa sổ nhìn đâu cũng thấy tranh, dân địa phương từng mang rơm đến chất suốt một thời gian dài, giữa đống rơm, nhìn thấy một con mèo loang lổ đang nằm ngủ trên đó. Cách một thước lại có vỏ bầu vỡ từng dùng để tưới ruộng, bên cạnh là chiếc nón hỏng mục đồng đã vứt đi, Tự Hừ đá chúng ra, quả nhiên bắt gặp hai con nhím đang ngọ nguậy bên trong. Tự Hư tìm hết bốn bên, vẫn lặng yên chưa thấy một người nào, lại thêm cái rét mướt và cơn mệt lử suốt đêm không chịu thấu, bèn kéo cương phủi tuyết rồi lên ngựa mà đi. Rời thôn theo hướng Bắc, thấy bên đường có vườn rau tồi tàn, rào được dựng bằng củi, một con trâu đang đội tuyết gặm cỏ nằm trong đó. Đi tiếp chưa tới một trăm bước, nơi này là chỗ cả thôn mang phân tới chất thành đống. Tự Hư vừa qua khỏi thì đám chó sủa ầm lên, trong đó có con chó lông dài đến chân, hình dáng rất kỳ dị, nghiêng mắt nhìn Tự Hư. Tự Hư cưỡi ngựa đi được một lúc lâu, gặp ông lão mở sài môn, dậy sớm để quét tuyết mở đường, Tự Hư bèn dừng ngựa thăm hỏi. Ông lão đáp: “Đây là trang viên của người bạn cũ – Hữu Tướng quân Bành Đặc Tiến. Tối qua lang quân nghỉ ở đâu? Trông bộ dạng thì hình như bị lạc đường”. Tự Hư kể lại những gì mình đã gặp đêm trước, ông lão tựa chổi, tỏ vẻ kinh ngạc bảo: “Hỏng rồi, hỏng rồi! Đêm qua tuyết lớn gió to, trong trang có con lạc đà bị bệnh, lo nó bị lạnh chết, bèn đưa tới góc Bắc chùa, cho ở dưới nơi niệm Phật. Trước đó mấy ngày, quan Hà Âm từng ghé qua, có con lừa kiệt sức, không thể đi tiếp được, lão thương nó hấp hối song chưa chết, liền mang một hộc thóc đổi lấy rồi giữ lại, cũng chẳng trói buộc gì. Con trâu gầy nằm trong hàng rào kia cũng là của trang viên nuôi. Nay nghe ngài nói vậy, không biết vì sao bọn chúng lại tác quái như thế?”. Tự Hư đáp: “Tối qua tôi đã mất hành lý trên yên ngựa, giờ thì đói và lạnh quá, chuyện chẳng thể một lời mà nói xong, nay kể sơ như vậy, khó lòng tường thuật mọi chi tiết”. Bèn đánh ngựa lên đường. Tới quán trọ Xích Thủy, thấy bọn người hầu đang lo lắng vì mất dấu chủ nhân, bắt đầu cuống cuồng lên tìm kiếm. Tự Hư thở dài, rồi cứ như người mất hồn suốt mấy hôm.
NGUYÊN VÔ HỮU[52]
Ngưu Tăng Nhụ
Trong những năm Bảo ứng, có Nguyên Vô Hữu, từng đi chơi một mình ở ngoại ô thành Duy Dương vào tháng Trọng xuân278. Đến khi tối trời thì mưa to gió lớn. Bấy giờ sau cơn binh lửa, người người lánh đi, Vô Hữu bèn chạy vào một trang viên bỏ hoang bên đường. Phút chốc mưa tạnh, trăng tà nhô lên. Vô Hữu ngồi nghỉ ở hiên Bắc, chợt nghe ngoài hành lang phía Tây có tiếng chân người, chưa bao lâu đã vào nhà. Bọn họ bốn người, áo mão đều khác lạ, nói đùa thoải mái, ngâm vịnh vui say. Bèn nói: “Đêm nay tựa mùa thu, gió trăng đẹp như thế, sao chúng ta không viết mấy câu để ghi lại chuyện bình sinh?”. Thơ này tức khẩu hiệu liên cú vậy. Họ ngâm vịnh sang sảng, Vô Hữu nghe được tất.
Người thứ nhất mặc áo mão ra dáng điệu trưởng giả ngâm:
Lụa Tề, gấm Lỗ như sương tuyết,
Văng vẳng giọng cao ca hay tuyệt.
Người thứ hai mặc áo mão đen, bộ dạng quê mùa ngâm:
Tiệc vui khách khứa lúc đêm nay,
Đèn nến lung linh, ta chủ trì.
Người thứ ba mặc áo mão vàng cũ kỹ, trông cũng quê mùa, đọc thơ rằng:
Mát trong dòng suối, mai ra múc,
Lui tới thừng dâu kéo hì hục.
Người thứ tư mặc áo mão đen, cũng ngắn ngủn quê kệch, ngâm rằng:
Nước rót, củi đun những sục sôi,
Kẻ khác no xong, tớ mệt nhoài.
Vô Hữu không nghĩ bốn người họ là quái dị, bốn người họ cũng không hay Vô Hữu đang có mặt trong gian nhà, nên khen thưởng lẫn nhau, dương dương tự đắc, cho là thơ “Vịnh hoài” của Nguyễn Tự Tông cũng không thể nào hơn. Đến sáng thì bốn người ra về, Vô Hữu đi tìm, chỉ thấy một chiếc chày cũ dùng đập áo, một cái chân đèn, một thùng nước và một cái nồi vỡ, mới biết bốn người kia là những vật này biến ra.
[1] “Bướu thịt” trong tiếng Hán là “nhục an” (肉鞍), chữ “an” (鞍) này đồng âm với chữ “an” (安) trong họ “An”. Xem hết truyện, ta sẽ thấy nhân vật này chính là con lạc đà biến thành.
[2] Phẩm “Hóa thành dụ” trong “Diệu pháp liên hoa kinh” của đạo Phật chép: “Như vị đạo sư kia, vì cho mọi người nghỉ ngơi mà hóa ra tòa thành lớn. Biết họ biết nghỉ xong mới bảo rằng: ‘Chỗ châu báu ở gần, thành này không phải thật, do ta biến hóa đó thôi’”. “Hóa thành” tức tòa thành ảo hóa trong chốc lát, được dùng để ví với cảnh giới Tiểu thừa. Phật muốn tất cả chúng sinh đều bước tới cảnh giới Đại thừa, nhưng lo họ ngại khổ, bèn hóa ra tòa thành để chúng sinh tạm nghỉ chân, sau đó đi tiếp để đạt Phật quả chân chính.
[3] Lư Ỷ Mã có nghĩa là “lư dựa mã”. Chữ “lư” (盧) ghép kế bên chữ “mã” (馬) sẽ trở thành chữ “lư” (驢) có nghĩa là “con lừa”.
[4] Chu Trung Chính có nghĩa là “chính giữa chu”. Chinh giữa chữ “chu” (朱) là chữ “ngưu” (牛), tức con trâu. Thiên “Vũ thành” trong Kinh Thư có câu: “Thả trâu về cánh đồng Đào Lâm”, Đào Lâm là nơi Chu Vũ Vương cho thả trâu sau khi diệt nhà Thương.
[5] Kính Khứ Văn có nghĩa là “kính bỏ văn”. Chữ “kính” (敬) bỏ chữ “văn” (文) bên phải sẽ trở thành chữ “cẩu” (苟), đồng âm với chữ “cẩu” (狗) có nghĩa là “con chó”.
[6] Chữ “hề” (奚) trong họ Hề là một nửa của chữ “kê” (雞), “nhuệ kim” chỉ cựa của con gà.
[7] Nguyên chú: Chữ “cơ” (機) ám chỉ chữ “cơ” (羈) có nghĩa là “ràng buộc”, ý nhắc đến “hàm ngựa”.
[8] Nguyên chú: Chữ “hạt” (曷) có nghĩa là “sao”, “cớ sao”, ám chỉ chữ “hạt” (褐) có nghĩa là “màu vàng sẫm”, ý cười chê màu lông.
[9] Bài “Thù mâu” thuộc mục “Đường phong” trong Kinh Thi có câu: Kim tịch hà tịch? Kiến thử lương nhân (Đêm nay đêm nào? Được gặp người yêu).
[10] Nguyên văn: Xuân lai do đắc ủy cơ tình (春來猶得慰羈情), trong đó, chữ “ủy” (慰) mang nghĩa “an ủi” đồng âm với chữ “ủy” (喂) có nghĩa là “cho ăn”, còn chữ “cơ” (羈) mang nghĩa “trói buộc” lại đồng âm với chữ “cơ” (饑) có nghĩa là “đói”. Vậy nên, câu này còn có thể dịch là Xuân đến cho ta một bữa đầy.
[11] “Quan tâm” tức “quan sát tâm tính”. Đạo Phật cho rằng tâm là chủ thể của vạn pháp, không có sự vật gì nằm ngoài tâm, cho nên quan sát tâm tính thì có thể hiểu được bàn chất của mọi hiện tượng.
[12] Mười hai nhân duyên của đạo Phật chỉ quá trình nhân quả liên tiếp nhau, khiến con người mãi trầm luân trong biển cả luân hồi, bao gồm mười hai mắc xích là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh và lão tử.
[13] Nguyên bản chép chữ “thương” (觴) có nghĩa là “chén rượu”. Nhưng cũng có bản chép chữ “xúc” (觸), đây vừa là một trong mười hai nhân duyên, vừa có nghĩa là “húc, đâm” (dùng cho loài có sừng như trâu, bò, dê,…).
[14] “Bồ đề” (菩提) là dịch âm chữ bodhi trong tiếng Phạn, có nghĩa là “giác ngộ”. Nhưng chữ “đề” (提) trong “bồ đề” lại đồng âm với chữ “đề” (蹄) có nghĩa là “móng thú”.
[15] Phẩm “Thí dụ” trong “Diệu pháp liên hoa kinh” chép: “Các chúng sinh đó chưa thoát khỏi sinh lão bệnh tử, lo âu, phiền não, đang bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, sao có thể hiểu được trí tuệ Phật?”. “Nhà lửa” dùng để ví với trần thế nhiều đau khổ.
[16] Chữ “giác” (覺) trong “chính giác” đồng âm với chữ “giác” (角) nghĩa là “sừng”.
[17] Vào thời nhà Lương, Bồ đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ sang Trung Quốc và khai sinh phái Thiền Tông. Đến đời Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, sau khi truyền y bát cho Lục tổ Huệ Năng thì Thiền Tông phân thành hai nhánh Nam Tông và Bắc Tông. Nam Tông do Lục tổ sáng lập, chủ trương “đốn ngộ” (giác ngộ tức thời nhờ trực giác), còn Bắc Tông do một đồ đệ khác của Ngũ tổ là sư Thần Tú sáng lập, chủ trương “tiệm ngộ” (giác ngộ từng bước thông qua đọc kinh sách).
[18] Song Phong là tên khác của núi Phá Đầu thuộc Hoàng Mai, Kỳ Châu thời nhà Đường, nay là huyện Hoàng Mai, tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc. Khi xưa, Tứ tổ Đạo Tín của Thiền Tông từng lên núi này dựng chùa và sống hơn ba mươi năm, khiến Thiền Tông hưng vượng. Năm 651, Tứ tổ truyền y bát cho Ngũ tổ Hoằng Nhẫn rồi viên tịch tại đây.
[19] Nguyên văn là “Diêm Phù”, tức Diêm Phù Đề, dịch âm chữ Jambudvipa trong tiếng Phạn, dịch ra tiếng Hán là Nam Thiệm Bộ Châu. Theo vũ trụ quan của người Ấn Độ cổ thì thế giới được chia thành tứ đại châu, gồm Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Thiệm Bộ Châu và Bắc Câu Lư Châu, trong đó Trung Quốc thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.
[20] Tức Vương Huy Chi (338 – 386), tự Tử Du, nhà thư pháp thời Đông Tấn, con thứ năm của Thư thánh Vương Hy Chi.
[21] Tức Đới Quỳ (331 – 396), tự Đạo An, người thời Đông Tấn. Sách “Thế thuyết tán ngữ” chép: “Vương Tử Du sống ở Sơn Âm, đêm tuyết tỉnh giấc chợt nhớ Đới Đạo An… liền ngồi thuyền con tới nhà giữa canh khuya, suốt một đêm mới tới, nhưng đến cửa không vào mà trở về. Người ta hỏi vì sao, Vương nói: ‘Vốn không có ý định, chỉ nhàn hứng mà tới thôi, hết hứng rồi thì phải về, cần chi gặp Đới?’”.
[22] Viên An tự Thiệu Công, người Nhữ Nam, sống vào thời Đông Hán. Theo sách “Nhữ Nam tiên hiền truyện”, có năm tuyết rất lớn, chất dày hơn một trượng. Huyện lệnh Lạc Dương xuất hành tuần tra, thấy nhà Viên An không có dấu chân ra vào, tưởng ông đã chết, liền cho người cào tuyết chạy vào xem, Viên An nằm co cứng nhưng chưa chết. Hỏi vì sao không ra cửa, ông bảo: “Tuyết lớn thế này thì ai cũng đói rét, không thể làm phiền họ”. Huyện lệnh khen ngợi và tiến cử làm Hiếu liêm.
[23] Tưởng Hủ (69-17 trước Công Nguyên) tự Nguyên Khanh, Thứ sử Duyện Châu thời Tây Hán, do bất mãn với Vương Mãng nên về ở ẩn. Sách “Tam phụ quyết lục” nói: “Tưởng Hủ về quê, gai góc mọc đầy cửa. Trong nhà có ba con đường nhưng không ra, chỉ đi lại với Cầu Trọng, Dương Trọng thôi”.
[24] “Lục xuất công” tức lục xuất hoa, tên gọi khác của hoa tuyết.
[25] Tức Lý Tư, Thừa tướng của nhà Tần. Thiên “Lý Tư liệt truyện” trong sách “Sử ký” chép. “Tháng Bảy năm thứ hai đời Nhị Thế, Tư chịu đủ ngũ hình, kết án chém ngang lưng giữa chợ Hàm Dương. Tư xuất ngục, bị áp giải cùng với đứa con giữa. Tư quay lại bảo con: ‘Ta muốn cùng ngươi dắt con chó vàng ra khỏi cửa Đông Thượng Sái đuổi thỏ khôn, há còn được hay sao?’. Cha con khóc với nhau, rồi bị tru di tam tộc”.
[26] Phần “Điểu thú” thuộc quyển trung trong sách “Cổ kim chú” của Thôi Báo đời Tấn nói “Vượn, tên khác là tham quản”. Có lẽ ô Đại là một con vượn.
[27] Câu này ở trong sách “Luận ngữ”, thiên “Công Dã Trường”.
[28] Chữ “miêu” trong họ Miêu (苖) hài âm với chữ “miêu” (貓) có nghĩa là “con mèo”.
[29] Kỷ Quyên hay Kỷ Quyên Tử (紀涓子) có lẽ là Kỷ Tỉnh Tử (紀渻子). Thiên “Hoàng Đế” trong sách “Liệt Tử” chép: “Kỷ Tỉnh Tử nuôi gà chiến cho Chu Tuyên Vương. Mười ngày sau, vua hỏi. ‘Gà có thể đấu được chưa?’. Đáp: ‘Chưa, còn kiêu căng, tự phụ’. Mười ngày sau lại hỏi, đáp: ‘Chưa, vẫn còn chịu ảnh hưởng từ bên ngoài’. Mười ngày sau lại hỏi, đáp: ‘Chưa, còn hăng hái mà thịnh khí’. Mười ngày sau lại hỏi, đáp: ‘Gần được, gà khác có gáy thì nó cũng không biến sắc, nhìn y như gà gỗ, đức vẹn toàn rồi. Gà lạ không dám ứng chiến, thấy nó là chạy ngay’”. Mục “Đấu kê toàn đức” trong sách “Sơn Đường tử khảo” của Bành Đại Dực thời Minh dẫn lại câu chuyện này, nhưng chép tên nhân vật là Kỷ Quyên Tử. Trong tiếng Hán cũng có thành ngữ “ngai nhược mộc kê” (trơ như gà gỗ).
[30] Chỉ Thụ Ngưu của họ Thúc Tôn, từng làm loạn chính sự nước Lỗ thời Xuân Thu.
[31] Chỉ Ninh Thích, một trong số các công thần phò tá Tề Hoàn Công nên nghiệp bá. “Ly Tao” có câu:Ninh Thích chi âu ca hềTề Hoàn văn dĩ cai phụ(Chăn trâu Ninh Thích hát chơiTề Hoàn nghe đã cho vời làm quan—Nhượng Tống dịch).Vương Dật thời Đông Hán chú: “Ninh Thích người nước Vệ… trau dồi đạo đức nhưng chưa được dùng, bèn lui về buôn bán, sống bên ngoài cửa Đông nước Tề. Đêm nọ, Tề Hoàn Công xuất tuần, gặp Ninh Thích đang cho trâu uống nước, còn gõ sừng ca vang. Hoàn Công biết là người hiền, tôn Ninh Thích làm khanh”.Sau này Bách Lý Hề bị người nước Sở bắt, cũng chăn trâu kiếm sống, cuối cùng được Tần Mục Công dùng năm tấm da dê đổi về và trọng dụng.
[32] Tức Bính Cát, tự Thiếu Khanh, Thừa tướng nhà Tây Hán. Thiên “Ngụy Tương, Bính Cát truyện” trong sách “Hán thư” chép: “Bính Cát có lần đi ra ngoài, thấy những người quét phố đánh nhau, xác chết nằm trên đường, Cát đi qua mà không hỏi, Duyện sử lấy làm lạ. Cát đi tiếp, gặp một người đang đuổi trâu, trâu thở đến lè lưỡi, Cát dừng ngựa, bảo kỵ lại tới hỏi: ‘Đuổi trâu mấy dặm rồi?”. Duyện lại cho là Thừa tướng hỏi chuyện không đáng, tỏ ý chê cười. Cát nói: ‘Dân đánh giết lẫn nhau, việc đó thuộc chức trách của Trường An lệnh, Kinh Triệu doãn, họ phải ngăn cấm và truy bắt, cuối năm ta chỉ việc xem xét công tội, tấu lên vua để thưởng phạt mà thôi. Tể tướng không đích thân lo chuyện nhỏ, không nên hỏi chuyện bên đường. Nay đang mùa xuân, Thiếu dương chủ trì, chưa thể quá nóng, con trâu kia bị đuổi chẳng bao xa mà đã thở phì phò do nóng bức, thời tiết bất thường, ta e là có tai họa”.
[33] “Tả truyện: Hy Công nhị thập cửu niên” chép: “Giới Cát Lư nghe trâu rống, nói rằng: ‘Con trâu này sinh ba con, đều dùng để cúng tế, nên tiếng rống nghe như vậy’. Dò hỏi thì quả không sai”.
[34] Phù Phong thời cổ nay là huyện Phù Phong thuộc thành phố Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Thời Chiến Quốc, danh tướng Triệu Xa nước Triệu có công lao, được phong đất Mã Phục, con ông là Triệu Hưng đổi họ Mã. Đời Hán, họ Mã dời đến Phù Phong. Chữ “mã” (馬) trong họ Mã có nghĩa là “ngựa”, ám chỉ con ngựa của Thành Tự Hư đang buộc ở cột nhà.
[35] Quy Từ (Kutsi) là một vương quốc cổ ở Tây Vực, nay thuộc khu Aksu, Tân Cương, Trung Quốc, tức khu vực Trung Á. Lừa được sử dụng rất phổ biến tại khu vực này.
[36] Câu này nằm trong bài “Ký túy” thuộc phần “Đại nhã” của Kinh Thi: “Bằng hữu du nhiếp, nhiếp dĩ uy nghi” (bạn bè nên giúp đỡ nhau, tạo bầu không khí thanh cao yên bình).
[37] “Lạp cô” (蠟姑) có lẽ là “lạp cổ” (蠟古). Sách “Miêu uyển” của Hoàng Hán Tập đời Thanh dẫn “Mạ miêu văn” của Hồ Thị thời Minh, mượn lời gà trống mắng con mèo: ‘咄,汝貓! 汝無他職,職於捕鼠,已玆大蠟古也.’ Đoát, nhữ miêu! Nhữ vô tha chức, chức ư bổ thử, dĩ tư đại lạp cổ dã (Hừm, loài mèo nhà ngươi! Ngươi chẳng có việc gì khác, chỉ mỗi bắt chuột, lấy đó khiến thân lạp cổ to béo vậy).
[38] Đấu Bá Tỷ họ Mị, con thứ của vua Sở Nhược Ngao, giữ chức Lệnh doãn nước Sở thời Xuân Thu. “Tả truyện: Tuyên Công tử niên” chép: “Khi xưa, Nhược Ngao cưới vợ người nước Viên, sinh ra Đấu Bá Tỷ. Bá Tỷ theo mẹ về nước Yêu, tư thông với con gái Yêu tử, sinh ra Tử Văn. Yêu phu nhân sai vứt nó ở đầm Vân Mộng. Đứa bé được hổ cho bú. Yêu tử đi săn nhìn thấy, sợ hãi mà hồi cung. Nghe phu nhân thưa chuyện, bèn sai đón cháu về. Người nước Sở gọi “cho bú” là “cốc”, gọi hổ là “ư đồ”, cho nên đặt tên cháu là Đấu Cốc Ư Đồ, rồi gả con cho Bá Tỷ. Đứa bé về sau thành Lệnh doãn Tử Văn”.Hổ cùng họ với mèo, nên Miêu Giới Lập mới nói vậy.
[39] Tức Miêu Phần Hoàng, đại phu nước Tấn thời Xuân Thu.
[40] Thiên “Giao đặc sinh” trong “Lễ ký” (tức Kinh Lễ) chép: “Đón mèo để ăn chuột đồng, rước hổ để ăn lợn rừng, đón rước về mà bái tế”. Bát lạp tức tám vị thần liên quan đến nông nghiệp mà người xưa thờ cúng, trong đó có thần Miêu Hổ.
[41] Bàn Hồ là nhân vật trong thần thoại cổ Trung Quốc, mang mình người đầu chó. Lý Hiền chú thích sách “Hậu Hán thư” nói: “Họ Cao Tân có lão phụ sống ở trong vương thất, mắc bệnh ở tai, khều ra, được một vật to như kén. Bà cất vào quả bầu (hồ), lật lại làm cái chậu (bàn), bỗng chốc hóa thành một con chó có hoa văn ngũ sắc, nhân đó gọi tên là Bàn Hồ”.
[42] Hướng Tuất là đại phu nước Tống thời Xuân Thu. Chữ “tuất” liên tưởng đến con chó.
[43] Sao Phòng là một trong bảy ngôi sao thuộc hướng Đông của Nhị thập bát tú.
[44] Nghi Liêu họ Hùng, dũng sĩ nước Sở thời Xuân Thu, sống ở phía Nam chợ, được dùng để chỉ người có thể giải trừ những nguy nan, vướng mắc. Thiên “Từ Vô Quý” trong sách “Nam Hoa kinh” chép: “(Khổng Tử) Nói: ‘Khâu cũng nghe có lời không cần nói, chưa từng đề cập, nay xin thưa bày. Nghi Liêu phía Nam chợ tung viên đạn mà giải nguy nan cho hai nhà, Tôn Thúc Ngao nằm yên vẩy quạt lông mà dân thành Dĩnh buông khí giới. Khâu mong có cái miệng ba thước”.
[45] Bàng Sửu Phụ là đại phu nước Tề thời Xuân Thu. Chữ “sửu” liên tưởng đến con trâu.
[46] Chữ “vị” (胃) trong họ Vị đồng âm với chữ “vị” (蝟) có nghĩa là “con nhím”. Tên “Tàng Hồ” có nghĩa là “nấp trong quả bầu”, chữ “lập” (立) trong Tàng Lập đồng âm với chữ “lạp” (笠) có nghĩa là “cái nón”. Hai nhân vật này chính là hai con nhím nấp trong vỏ bầu vỡ và chiếc nón hỏng.
[47] Nhị thập bát tú có sao Vị, một trong bảy ngôi sao thuộc hướng Tây. Trong số tám sông đất Tần có Vị Thủy. Hai chữ “vị” này cũng chính là chữ “vị” trong họ Vị.
[48] Điều Thử là tên một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc, nằm ở huyện Vị Nguyên, nơi bắt nguồn của Vị Thủy. Vị Thủy chính là nơi Chu Văn Vương gặp được Khương Tử Nha.
[49] Tý với Mão là hai trong số mười hai Địa chi, tương ứng với chuột và thỏ. Ở đây còn ám chỉ ngày Giáp Tý và ngày Ất Mão. Ngày Giáp Tý là ngày nhà Thương bị diệt vong, ngày Ất Mão là ngày nhà Hạ bị lật đổ, do đó người xưa kiêng kỵ hai ngày này.
[50] Thiên “Dưỡng sinh chủ” trong “Nam Hoa kinh” có kẻ chuyện người đầu bếp (Bào Đinh) của Văn Huệ Vương giỏi mổ trâu, nhìn thấu cả con trâu và chỉ cần lượn dao vào kẽ hở, mổ rất dễ dàng mà dao cũng không bị cùn.
[51] Trong “Lời tựa”, Lỗ Tấn có dẫn lời Hồ Ứng Lân so sánh “Đông Dương dạ quái lục” và truyện “Nguyên Vô Hữu” trong tập “Huyền quái lục” của Ngưu Tăng Nhụ Thật vậy hai tác phẩm này vốn cố nhiều nét tương đồng.
[52] Tức tháng Hai Âm lịch.