Nguyên Chẩn
Trong những năm Trinh Nguyên, có chàng trai tên Trương sinh[1], tính ôn hòa nhã nhặn, phong độ tuấn tú, trong lòng ôm chí lớn và bền bỉ, hễ trái lễ thì không theo. Khi cùng bạn bè đi dự tiệc, giữa chốn tạp nham lộn xộn, người ta ai nấy đều nhao nhao tranh giành, cứ như sợ mất phần, nhưng Trương chỉ hờ hững mà thôi, rốt cuộc tâm vẫn không loạn. Vì thế đã hai mươi ba tuổi song chưa từng gần nữ sắc. Kẻ biết chuyện tới gặng hỏi, chàng đáp tạ nói rằng: “Đăng Đồ Tử[2] kia đâu phải hạng háo sắc, chỉ ra vẻ hung hãn vậy thôi, còn tôi mới là kẻ háo sắc thật sự, do anh chưa thấy đó. Sao lại nói vậy? Đại phàm cái gì tuyệt đẹp, tôi chưa lúc nào không cảm thấy lưu luyến ở trong lòng, đủ biết rằng tôi chẳng phải thứ vong tình”. Người gặng hỏi mới hiểu ra.
Không lâu sau, Trương tới chơi ở đất Bồ, về phía Đông hơn mười dặm có tịnh xá, gọi là chùa Phổ Cứu, chàng vào đó ở trọ. Vừa hay có góa phụ Thôi gia về Trường An, trên đường đi ngang qua đất Bồ, cũng dừng chân trong chùa ấy. Góa phụ Thôi gia là con gái họ Trịnh, Trương là cháu ngoại họ Trịnh, xét về họ hàng thì cùng mẹ khác chi. Năm ấy, Hồn Giam mất ở đất Bổ, có trung nhân Đinh Văn Nhã là kẻ không biết trị quân, để bọn binh lính nhân việc tang mà quấy rồi, cướp phá dân Bồ. Thôi gia nhiều của cải, tôi tớ cũng đông, sống ở đất khách mà hoảng sợ, không biết nương tựa ai. Trương sinh khi trước có quen với bộ tướng ở Bồ, liền xin bảo hộ, Thôi gia mới không gặp nạn. Hơn mười ngày sau, Liêm sứ là Đỗ Xác vâng mệnh thiên tử trông coi nhung tiết, ban bố mệnh lệnh, quân lính mới chịu yên. Trịnh thị rất cảm đức của Trương, nên cho mở tiệc ở trung đường để mời chàng. Lại nói với chàng rằng: “Dì góa bụa, dìu dắt lũ con thơ, không may gặp lúc đại loạn, quả thật khó lòng giữ được mình. Hai đứa trẻ thơ yếu của dì được sống là nhờ vào con hết, ơn ấy há xem thường được đâu? Nay xin cho chúng nó ra chào hỏi nhân huynh, mong có ngày đền đáp”. Rồi gọi đứa con trai tên Hoan Lang, chừng hơn mười tuổi, dung mạo hiển lành đẹp đẽ. Kế gọi đến người con gái: “Ra bái tạ biểu huynh đi con, huynh đã cứu sống con đó”. Một lúc lâu, nàng từ chối vì khó ở. Trịnh thị nổi giận mắng: “Trương huynh cứu sống ngươi, nếu không thì ngươi bị bắt bỏ tù rồi, còn ngại ngùng gì nữa chứ?”. Lâu sau nàng mới ra, y phục qua loa, mặt mũi bơ phờ, không trang điểm gì thêm cả. Tóc buông chạm xuống đôi mày ngài, hai gò má chỉ ửng hồng thế thôi, nhưng nhan sắc tuyệt đẹp, lộng lẫy đến choáng người. Trương giật mình đáp lễ, nàng ngồi xuống bên Trịnh thị. Vì nàng bị Trịnh thị bắt ra chào nên cứ nhìn chằm chằm với vẻ oán giận, như không chịu nổi nữa. Hỏi tuổi nàng, Trịnh thị đáp: “Em con sinh vào tháng Bảy năm Giáp Tý thời đương kim thiên tử. Nay là năm Canh Thìn, niên hiệu Trinh Nguyên, được mười bảy tuổi rồi”. Trương kiếm lời bắt chuyện, nhưng nàng không đáp lại, đến tiệc tan thì thôi. Trương từ đó mê nàng, muốn bày tỏ tình cảm song không biết làm thế nào. Thôi gia có a hoàn tên Hồng Nương, Trương lấy lễ nghĩa gặp mặt ba bốn lần, nhân lúc vắng người thì ngỏ ý mình cho cô biết. Cô quả nhiên hoảng sợ, bẽn lẽn chạy đi mất. Trương hối tiếc lắm.
Ngày hôm sau, a hoàn kia lại đến. Trương xấu hổ tạ lỗi, không dám cầu xin nữa. Cô nhân đó bảo chàng: “Lời cậu nói, con không dám thưa lại đâu, cũng không dám để lộ chuyện. Thế nhưng thân tộc nhà họ Thôi thì cậu đã tỏ tường, sao cậu không nhân chuyện có ơn mà nhờ người mai mối?”. Trương nói: “Ta từ nhỏ đã không ưa tùy tiện. Có khi ngồi giữa các hồng quần, ta cũng chẳng liếc nhìn. Chẳng ngờ năm nay lại nảy sinh tệ này. Bữa tiệc hôm kia, ta phải tự kiềm chế mấy lần. Vài hôm gần đây, ta đi quên đứng, ăn quên cả no, cứ sợ không duy trì nổi sớm chiều. Nếu phải nhờ người mối lái, đợi đưa vào vấn danh thì trong ba tháng ấy, ta đã như cá khô mắc cạn, cô bảo ta làm sao bây giờ đây?”. A hoàn nói: “Cô Thôi là người biết giữ mình trong sạch, dù bậc tôn trưởng cũng không thể nói lời mạo phạm đến cô, hạng tôi tớ như chúng con lại càng khó mở lời. Thế nhưng cô ấy giỏi thơ văn, thường hay ngâm chương cú, say sưa đến hàng giờ. Cậu thử làm thơ tình để trêu đùa xem sao, bằng không thì hết cách”. Trương mừng lắm, lập tức viết ngay hai bài “Xuân từ” đưa cho. Chiều hôm ấy, Hồng Nương lại đến, cầm tờ hoa tiên đưa cho Trương và nói: “Cô Thôi gửi cậu đây”. Đầu đề bài thơ viết “Minh nguyệt tam ngũ dạ” (trăng sáng đêm mười lăm). Lời rằng:
Mái Tây chờ trăng sáng,
Kế song thoảng gió lay.
Phất tường hoa nghiêng bóng,
Người ngọc đến rồi đây.
Trương cũng hơi hiểu ý, đêm ấy là ngày mười bốn tháng Hai. Phía Đông nhà họ Thôi có một cây hoa hạnh, trèo lên thì nhảy được qua tường. Đến đêm, chàng dùng cây ấy làm thang để trèo, đến chỗ mái Tây thì thấy cửa đã hé mở. Hồng Nương ngủ trên giường, chàng liền gọi dậy. Hồng Nương giật mình hỏi: “Sao cậu lại tới vậy?”. Chàng bèn lừa bảo: “Cô Thôi đưa giấy mời ta đến, mau vào báo lại đi”. Một lát sau, Hồng Nương lại ra và nói ngay: “Đến rồi! Đến rồi!”. Trương vừa mừng vừa sợ, cho là việc đã xong. Khi nàng Thôi đến, thấy ăn mặc chỉnh tề, nét mặt nghiêm nghị, lớn tiếng trách mắng Trương: “Ơn huynh cứu sống cả nhà tôi là to lắm, cho nên mẹ tôi mới đem trai yếu gái thơ mà ủy thác cho huynh. Cớ sao huynh lại nhờ đứa a hoàn không hiểu chuyện kia đưa tới những lời dâm dật đó? Ban đầu, huynh cứu người khỏi nạn, đó là nghĩa, cuối cùng lại nhân việc người ta khỏi nạn mà yêu sách này nọ, đó là lấy loạn thay loạn, có khác gì đầu? Thực muốn vứt bỏ những lời kia, song thế là che dấu lòng gian của người, không phải nghĩa. Thưa rõ với mẫu thân thì phụ bạc ơn cứu mạng khi trước, không thể được. Nhờ a hoàn nói hộ thì lại sợ không chuyển hết thành ý. Định viết mấy câu để tự mình bày tỏ, nhưng e làm khó huynh, cho nên mới dùng lời trăng hoa dụ huynh tới cho bằng được. Việc làm trái lễ, sao không khỏi thẹn lòng? Xin huynh lấy lễ để giữ mình, chớ dấn thân vào chỗ loạn”. Nói xong thì nàng trở vào ngay. Trương ngẩn người một lúc lâu rồi lại trèo tường quay về, không còn hy vọng nữa.
Mấy đêm sau, Trương ngủ một mình dưới hiên, chợt có người đánh thức. Chàng giật mình trở dậy, thì ra Hồng Nương cuốn chăn ôm gối đến và bảo: “Tới rồi! Tới rồi! Ngủ làm chi nữa?”. Dứt lời thì để lại gối chăn và đi ra. Trương dụi mắt ngồi đơ một hồi lâu, còn tưởng mình nằm mơ, song vẫn kiên trì ngồi đợi. Chốc lát thì Hồng Nương đỡ nàng Thôi tới, khi đến thì thẹn thùng nũng nịu, không còn sức để nhấc mình, còn đâu vẻ đoan trang bữa trước. Hôm ấy là đêm mười tám, bóng trăng tà thấp thoáng soi sáng nửa chiếc giường. Trương phơi phới trong lòng, tưởng như mình bầu bạn với thần tiên, bởi nhân gian đâu có người như thế. Một lúc sau, tiếng chuông chùa báo hiệu trời sắp sáng, Hồng Nương thúc giục. Nàng Thôi khóc sướt mướt, Hồng Nương lại đỡ nàng về, suốt đêm không nói một lời nào. Trương thẩy trời hửng nên thức dậy, tự ngờ vực rằng: “Mình nằm mộng chăng?”. Đến khi sáng rõ, thấy cánh tay còn vương phấn, áo còn thoảng hương thơm, mấy giọt lệ vẫn long lanh đọng trên chiếu. Hơn mười ngày sau đó, lại bặt vô âm tín. Trương làm bài “Hội chân thi” ba mươi vần chưa xong thì Hồng Nương vừa đến. Sẵn tiện chàng đưa luôn, bảo là gửi nàng Thôi. Từ đó sớm lén ra, tối lén vào, cùng ở với nhau dưới nơi gọi là mái Tây ngót hơn một tháng. Trương thường dò hỏi tâm ý của Trịnh thị, nàng đáp: “Muội cũng không biết phải thưa như thế nào”. Chàng bèn giục nàng mau nói cho xong chuyện.
Không bao lâu, Trương sắp đi Trường An, ngỏ ý trước với nàng. Nàng Thôi im lặng không cản, song dung mạo ai oán đến não người. Hai hôm trước khi đi, họ không gặp nhau được nữa, thế là Trương lên đường về phía Tây. Mấy tháng sau, Trương lại sang chơi đất Bồ, lại ở nhà họ Thôi vài tháng. Nàng Thôi dao bút rất giỏi, viết văn rất tài, nhưng xin xem ba lần vẫn không được. Trương thường lấy văn trêu nàng, nàng cũng không mấy để tâm. Đại khái nàng Thôi có chỗ khác người, nghề gì đã học thì cực giỏi, nhưng bề ngoài tỏ như không biết, ăn nói thì lưu loát, song ít khi mở lời. Nàng đối đãi với Trương tử tế lắm, nhưng chưa từng thốt một lời nào. Bình thường hay sầu ưu trầm mặc, chẳng ai biết được, mừng hay giận cũng ít để lộ ra. Có lúc nàng một mình ngồi gảy đàn trong đêm, tiếng đàn thánh thót thê lương. Trương nghe trộm được, đến xin nghe thì nàng không gảy nữa. Vì thế chàng càng mê. Chẳng mấy chốc đã tới kỳ thi cử, Trương phải về Trường An. Đêm trước lúc lên đường, chàng không nói rõ ý mình, chỉ than thở bên nàng Thôi. Nàng biết ý chàng đã quyết nên dịu dàng, nhẹ giọng bảo với Trương: “Trước thì trêu, sau lại bỏ, vẫn là đáng lắm, muội đâu dám hận. Giá như lúc trước huynh trêu, sau thì thương cho trót, đó là ơn huynh vậy. Lời thề ước bên nhau trọn đời âu cũng thêm trọn vẹn, hà tất phàn nàn chi lắm về chuyến đi lần này? Giờ huynh cảm thấy không vui, muội lại chẳng có gì an ủi. Huynh thường khen muội đàn hay, lúc đó muội thẹn thùng, không thể đàn tiếp. Nay sắp đi rồi, để huynh thỏa lòng vậy”. Nàng sai lau đàn, gảy tự khúc “Nghê Thường vũ y”. Chưa được mấy tiếng thì điệu buồn đã xen lẫn, không còn biết khúc gì. Những người ngồi bên đều sụt sùi, nàng Thôi cũng dừng lại, ném đàn khóc nức nở, rảo bước về Trịnh gia, không quay lại nữa. Sáng hôm sau thì Trương đi.
Năm sau, thi không đỗ, chàng bèn ở lại kinh, nhân đó gửi thư cho nàng Thôi để tỏ rõ lòng mình. Thư nàng đáp lại, xin lược chép ở đầy:
Muội đà đọc lời thăm hỏi, biết tình huynh sâu đậm. Tâm tình nhi nữ thì biết bao nhiêu là tầng lớp buồn vui. Huynh còn gửi kèm theo một hộp hoa giấy, năm tấc sáp hồng cốt để muội cài túc, thoa môi. Tuy ơn nặng nhường ấy, nhưng vắng huynh thì muội biết làm dáng với ai đây? Trông vật nhớ người, càng thêm đau xót. Người từ kinh về kể lại, biết huynh vẫn chuyên tâm đèn sách, theo đuổi công danh, lâu nay luôn mạnh khỏe. Chỉ hận cho kẻ chốn thôn quê bị xa lánh bỏ rơi, nhưng số trời đã vậy, còn biết nói sao? Từ mùa thu năm ngoái, thường ngày vẫn băn khoăn như đánh mất vật gì, giữa chốn đông người ồ ạt, chỉ gượng nói gượng cười, khi đêm vắng một mình thì chẳng lúc nào mà ráo khô nước mắt. Lắm lúc canh khuya trong giấc mộng cũng phần nhiều là than ngắn thở dài. Nỗi buồn ly biệt cứ vấn vương khăng khít, dần hóa ra chuyện bình thường. Ước hẹn chưa tròn mà hồn kia đã dứt. Tuy nửa chăn còn ấm nhưng người thương nhớ lại đi khuất bao xa. Một sớm mới chia tay mà thoáng chốc năm vừa hết. Trường An là nơi phồn hoa náo nhiệt, tơ tình càng dễ vướng bên người. May sao không quên kẻ thấp hèn, hết lòng đoái thương chí mỏng biết lấy chi bồi đáp? Còn như lời thề thủy chung ngày ấy, nào đâu dám đơn sai? Trước bởi họ hàng luôn bên cạnh, hoặc cùng chung yến ẩm, tôi tớ dỗ đường nên mới tỏ lòng như thế. Mảnh tình nhi nữ, chẳng thể tự cầm. Quân tử đã mượn đàn[3] trêu ghẹo, bỉ nhân chẳng gieo thoi[4] chối từ. Đến lúc dẫn đưa chăn gối, nghĩa nặng tình sâu, chút tình ngây dại những mong được trọn đời nương tựa. Chẳng ngờ khi gặp mặt quân tử, tình không kìm nổi, đến mức mang nỗi thẹn trao mình, không thể đợi tới lúc danh phận rõ ràng theo nâng khăn sửa túi. Mối hận ôm giữ trọn kiếp ấy, còn than vãn làm chi? Ví phỏng quân tử nhân từ chịu để ý, liếc mắt đoái hoài, dù muội chết thì vẫn như đang sống. Nhược bằng kẻ đạt sĩ coi thường bỏ nhỏ theo lớn, cho thề ước là chuyện đáng xấu hổ, xem định tình là việc đáng khinh khi, dẫu thịt nát xương tan, dạ son cũng chẳng nhạt, nguyện nương sương nhờ gió, còn gửi lại bụi trong. Sống thác tấc lòng nói ra bằng hết. Ngậm ngùi bên giấy, bút chẳng cạn tình. Trân trọng muôn vàn! Muôn vàn trân trọng! Chiếc vòng ngọc này là thứ muội chơi ngày bé, xin gửi quân tử để đeo giữ bên mình. Ngọc lấy nghĩa bền sạch không phai, vòng lấy nghĩa trước sau như một. Lại thêm chút tơ tằm, một chiếc nghiên trà bằng trúc. Mấy món đó nào có chi quý giá, ý mong người quân tử chân thành như ngọc, chí vững như vòng ngấn lệ dây cành trúc, mối sầu vướng trong tơ, mượn vật chuyển tình, để cầu mong sự tốt đẹp mãi đó thôi. Lòng gần thân xa, bao giờ gặp được? Sầu ưu đúc lại, ngàn dặm hồn bay. Muôn vàn trân trọng! Gió xuân dễ cảm, ăn gượng là hơn. Muội kính cẩn mong huynh hãy bảo trọng chớ vì muội mà nghĩ ngợi quá nhiều.
Trương đưa thư ấy cho bạn bè cùng xem, nên đương thời có nhiều người biết chuyện. Dương Cự Nguyên là kẻ thích làm thơ, viết một bài “Thôi nương thi” rằng:
Thanh nhã Phan lang[5] khiến ngọc mờ,
Tuyết tan sân trước huệ lơ phơ.
Lòng xuân tài tử phong lưu thế,
Đứt ruột Tiêu nương[6] một lá thơ.
Nguyên Chẩn người Hà Nam cũng viết tiếp “Hội chân thi” ba mươi vần của Trương Sinh. Thơ rằng:
Trăng non chiếu kẽ song
Bóng huỳnh lướt tầng không
Ráng chiều sa chạng vạng
Hàng cây thoáng mơ mòng
Rồng thổi qua đình trúc
Loan ca lắng tỉnh đồng
Dải lụa sương buông trắng
Vòng khuyên nhẹ gió rung
Hạ tiết theo kim mẫu
Lòng mây bế ngọc đồng
Đêm tối người thưa vắng
Sớm mưa phủ mịt mùng
Giày khảm ngọc lấp lánh
Áo hoa dát hình rồng
Chiếc thoa dang cánh phượng
Làn khăn vẽ cầu vồng
Rằng tự Dao Hoa phố
Sang châu Bích Ngọc cung
Nhân bước qua Lạc Bắc
Chợt ngang Tống gia Đông
Trêu đùa nàng bỏ mặc
Nhưng tình ý để lòng
Buông tóc thuyền quyên rũ
Gót hôn lớp bụi hồng
Quay mặt hoa tuôn lệ
Giường khuya níu chăn bông
Uyên ương giao cổ múa
Phỉ thúy ghép một lồng
Mày ngài ươm vẻ thẹn
Bờ môi quá ấm nồng
Hương lan dìu dịu thoảng
Làn da tựa tuyết trong
Cánh tay không nhấc nổi
Yêu thương giấu kín lòng
Mồ hôi tuôn lắp lánh
Mượt mà tóc mây tung
Vừa ngỡ duyên thiên tải
Năm canh chốc hết cùng
Phút bên nhau ngắn ngủi
Chia ly mãi nhớ nhung
Dung mạo sầu son phấn
Hẹn thề với núi sông
Trao chiếc vòng ly hợp
Nguyện kết ý tâm đồng
Phấn mờ gương soi ấy
Lụi đèn vẳng tiếng trùng
Giọt nắng treo sương sớm
Kim ô chiếu mây trong
Vội bay về Lạc Bắc
Tiêu vang vọng núi Tung
Hương áo còn vương đó
Gối chưa nhạt phấn hồng
Bờ ao dày hoa thảo
Lan man lớp cỏ bồng
Tiếng cầm hờn cánh hạc
Quan tái ngóng tin hồng
Biển rộng không qua nổi
Trời cao chẳng với thông
Mây bay tìm bến đỗ
Tiêu Sử[7] ở lầu trong.
Các bạn của Trương nghe chuyện ấy, chẳng ai không nói là kỳ ngộ, nhưng ý chàng đã quyết rồi. Nguyên Chẩn thân với họ Trương lắm, nhân hỏi duyên cớ làm sao. Trương nói: “Đại phàm vưu vật do trời đất sinh ra, chẳng tự hại mình thì tất cũng hại người. Ví phỏng cô gái họ Thôi đó gặp gỡ kẻ phú quý, được sủng ái nâng niu, không làm mây làm mưa thì ắt cũng làm long làm ly, tôi không biết còn biến hóa thế nào nữa. Đế Tân nhà Ân[8], U Vương nhà Chu[9] ngày xưa đều làm chủ một nước có trăm vạn cỗ xe, thế lực hùng hậu, song lại bại chỉ vì một người con gái, dân tan tác, thân bị giết, đến nay thiên hạ vẫn chê cười. Đức của tôi không đủ thắng yêu nghiệt, nên đành dứt tình vậy”. Lúc bấy giờ, những người ngồi ở đấy đều thở dài thay cho chàng.
Hơn một năm sau, nàng Thôi đã đem thân nương cậy người khác, Trương cũng đã lấy vợ. Nhân lúc đi qua nơi nàng ở, chàng nhờ người chồng nói với nàng Thôi, xin lấy danh nghĩa biểu huynh đến thăm. Người chồng khuyên bảo, song nàng nhất quyết không chịu ra. Trong lòng Trương bực tức, lộ rõ ra nét mặt. Nàng Thôi biết vậy, thầm làm một bài thơ. Lời rằng:
Tự buổi chàng đi nhạt má hồng,
Ôm giường, ngoại cảnh chẳng buồn trông.
Vì chàng chứ phải vì ai khác,Đã thẹn giờ đây lại buốt lòng.
Cuối cùng nàng vẫn không ra gặp. Vài ngày sau, Trương sắp đi, lại viết một bài tạ tuyệt:
Rẻ rúng thôi đành chịu,
Tình xưa xót điêu linh.
Nên giữ niềm yêu cũ,
Thương lấy kẻ bên mình.
Từ đó không ai biết chuyện gì nữa. Người đương thời phần lớn cho là Trương khéo sửa lỗi. Ta thường tụ tập bạn bè, lại nhắc đến chuyện ấy, cốt mong sao những kẻ biết chuyện thì chớ làm, còn những kẻ đã làm thì chớ mê. Tháng Chín niên hiệu Trinh Nguyên, Chấp sự Lý Công Thùy đến trọ tại nhà ta ở Tỉnh An. Nói đến chuyện đó, Công Thùy sửng sốt và cho là chuyện lạ, bèn làm ra bài “Oanh Oanh ca” để ghi lại. Nàng Thôi vốn có tên là Oanh Oanh[10], nên Công Thùy mới đặt tựa như thế.
CHƯ TẦN HÀNH KỶ
Ngưu Tăng NhụThời niên hiệu Trinh Nguyên, ta đi thi Tiến sĩ nhưng không đỗ, bèn quay về Uyển Diệp. Đến dưới núi Minh Cao ở phía Nam đạo Y Khuyết, tính nghỉ trọ tại nhà dân ở Đại An. Trời sẩm tối, ta lạc đường không tới được, bèn đi tiếp hơn mười dặm, đường sá thay đổi rất nhiều. Trăng đêm bắt đầu nhô. Chợt thấy có làn hương kỳ dị nên lập tức đuổi theo, không biết xa gần thế nào. Thấy ánh lửa cháy sáng, nghĩ bụng chắc có trang viên, ta bước lên phía trước thì tới một ngôi nhà, hình như là gia đình hào phú. Người canh cửa mặc áo vàng hỏi ta: “Ngài từ đâu đến?”. Ta đáp: “Tăng Nhụ tôi họ Ngưu, đi thi Tiến sĩ nhưng lạc đệ, vốn định tới nhà dân ở Đại An, song lạc bước tới đây, chỉ xin được tá túc chứ không có ý gì khác”. Bên trong lại có thị nữ mặc áo xanh đi tới, hỏi anh áo vàng: “Ngoài cửa là ai vậy?”. Anh áo vàng đáp: “Có khách, có khách”. Anh ta vào báo cáo, phút chốc đã trở ra và nói: “Mời ngài vào!”. Ta hỏi đây là nhà của ai, anh áo vàng chỉ đáp: “Cứ đi, không cần hỏi”. Qua hơn mười cửa thì vào tới đại điện, che bằng rèm châu, có mấy trăm người áo son áo tím đứng phía trong bậc thềm. Tả hữu bảo: “Lạy dưới điện!”. Sau rèm có tiếng nói: “Thiếp là Bạc Thái hậu, mẫu thân của Hán Văn Đế. Nơi đây là tòa miếu, ngài không nên đến mới phải, sao lại hạ cố ghé thăm?”. Ta đáp: “Nhà thần ở Uyển Hạ, muốn về quê nhưng lạc đường. Thần sợ chết dưới nanh vuốt sài lang nên mới mạo muội chạy tới đây gửi mạng. Mong Thái hậu thu nhận!”. Thái hậu sai cuốn rèm, rời chỗ ngồi và nói: “Thiếp là mẹ vua Hán Văn, ngài là danh sĩ Đường triều, không có quan hệ quần thần, mong ngài đừng đa lễ, mời lên điện gặp mặt”. Thái hậu mặc áo lụa màu trắng, dáng vẻ cao sang, không trang sức nhiều, ủy lạo ta và hỏi: “Ngài đi đường không mệt chứ?’’. Rồi mời ta ngồi. Chừng một bữa cơm thì trong điện nghe tiếng bếp, Thái hậu nói: “Gió trăng đêm nay rất đẹp, tình cờ hai cô bạn đến chơi, đã vậy còn có khách, không thể không tổ chức tiệc hội”. Bèn sai tả hữu: “Mời hai vị nương tử lên đây gặp Tú tài”. Rất lâu mới thấy hai người từ trong đó bước ra, dẫn mấy trăm tùy tùng. Người đứng trước có eo thon mặt dài, mái tóc dày nhưng không hề trang điểm, mặc áo xanh, chỉ chừng hai mươi tuổi. Thái hậu nói: “Đây là Thích phu nhân[11] của Cao Tổ”. Ta vái chào, phu nhân cũng đáp lễ. Còn người kia thì uyển chuyển cân đối, dung mạo dịu dàng và thần thái an dật, rạng rỡ khắp bốn bề, chốc lát lại chau mày, mặc áo thêu đầy hoa, ít tuổi hơn Thái hậu. Thái hậu nói: “Đây là Vương Tường[12] của Nguyên Đế”. Ta cũng vái chào như với Thích phu nhân, Vương Tường cũng vái lại. Sau đó thì ai nấy đều ngồi xuống. An tọa rồi, Thái hậu lại bảo một hoạn quan mặc áo tím: “Mời Dương gia và Phan gia lại đây”. Một lát sau, mây ngũ sắc sà xuống giữa không trung, tiếng cười nói cũng gần hơn. Thái hậu nói: “Dương, Phan đến rồi”. Chợt nghe tiếng xe và vó ngựa đan chen, xiêm lụa cũng chói lòa, mắt người không nhìn rõ. Có hai cô gái từ trên mây bước xuống, ta liền đứng sang một bên, người đi trước thì lưng ong mắt sáng, tư dung tuyệt đẹp, thần thái nhàn hạ, mặc áo vàng, đội mão ngọc, khoảng chừng ba mươi tuổi. Thái hậu chỉ nàng và nói: “Đây là Thái Chân phi tử[13] của Đường triều”. Ta liền quỳ lạy yết kiến, vái chào theo nghi lễ bề tôi. Thái Chân nói: “Thiếp đắc tội với tiên đế (tiên đế chỉ Túc Tông vậy)[14], không được hoàng triều xếp vào hàng hậu phi, ngài hành lễ như vậy, há không trái lẽ ư? Thiếp đâu dám nhận”. Bèn lui bước vái lại. Còn người kia thì da dẻ đầy đặn và trắng trẻo, ánh mắt lanh lợi, tuổi còn khá trẻ, mặc y phục rất rộng. Thái hậu quay sang nói: “Đây là Phan Thục phi[15] nhà Tề”. Ta vái chào như đối với Vương Chiêu Quân, Thục phi cũng vái lại. Thế là Thái hậu cho mở tiệc, chốc lát thì thức ăn được dọn lên, hương thơm ngào ngạt, chẳng rõ tên các món. Muốn ăn đầy bụng, nhưng không ăn hết nổi. Xong xuôi thì mang rượu tới, đồ dùng toàn làm bằng ngọc quý. Thái hậu hỏi Thái Chân: “Sao lâu nay chẳng tới thăm?”. Thái Chân kính cẩn thưa: “Tam lang (trong những năm Thiên Bảo, đa số cung nhân gọi Huyền Tông là “Tam lang”) nhiều lần lâm hạnh cung Hoa Thanh, thiếp phải theo hầu, cho nên không đến được”. Thái hậu lại hỏi Thục phi: “Nàng cũng không đến là vì sao?”. Thục phi che miệng cười, nên không thể đáp lại. Thái Chân nhìn Thục phi rồi nói: “Thục phi nói với Ngọc Nô (tên của Thái Chân) rằng nàng ta buồn phiền vì Đông Hôn Hầu[16] phóng túng, suốt ngày đi săn bắn, nên không thể đến yết kiến”. Thái hậu hỏi ta: “Nay thiên tử là ai?”. Ta đáp: “Hoàng đế hiện giờ tên Thích, con trưởng của Đại Tông hoàng đế”. Thái Chân cười nói: “Con trai Thẩm bà[17] đã trở thành vua rồi, lạ thật đấy”. Thái hậu hỏi: “Ngài ấy làm chúa như thế nào?”. Ta đáp: “Tiểu thần không biết được phẩm đức của quân vương”. Thái hậu bảo: “Xin đừng ngại, cứ nói”. Ta đáp: “Dân gian truyền tụng ngài là bậc anh minh thánh võ”. Thái hậu gật đầu ba bốn lần. Lại sai dâng rượu và tấu nhạc, nhạc kỹ đều là các thiếu nữ. Rượu chuyển được mấy vòng thì tiếng nhạc cũng theo đó im bặt. Thái hậu mời Thích phu nhân gảy đàn, chiếc nhẫn của phu nhân soi lấp lánh bàn tay (sách “Tây kinh tạp ký” chép: “Cao Tổ tặng phu nhân chiếc nhẫn vàng bách luyện, chiếu sáng thấy cả xương ngón tay”). Phu nhân dạo phím, âm thanh vô cùng ai oán. Thái hậu nói: “Gặp được Ngưu Tú tài ở đây, vừa khéo có hai vị nương tử đến nhà, xin dốc tận niềm vui thuở bình sinh. Tú tài vốn là bậc danh sĩ, nay mỗi người sẽ ngâm thơ nói chí, không phải rất hay sao?”. Bèn cho mang giấy bút, luân phiên nhau làm thơ. Thái hậu viết thơ rằng:
Trăng ngủ cung Hoa, phụng quốc quân,
Nay còn thẹn với Quản phu nhân.[18]
Năm xưa Hán thất nghe ca múa,
Cỏ đã tàn theo mấy lượt xuân.
Thơ Vương Tường nói rằng:
Xuân khóa thâm cung ngắm tuyết rơi,
Hán y tuy cũ, lệ chưa vơi.
Lòng căm hận nhất Mao Diên Thọ,[19]
Chấm bút đan thanh giáng họa người.
Thích phu nhân viết thơ rằng:
Rời khỏi Hán cung ngưng điệu Sở,Bỏ bê son phấn, hận quân vương..
Thiếu vàng không thể mời Thương tẩu,[20]
Họ Lữ nào đâu ngán quật cường.[21]
Thái Chân làm thơ rằng:
Thoa vàng rơi xuống biệt quân vương,
Lệ đỏ châu tuôn ướt đẫm giường.
Mã Ngôi tan hết bao mưa gió,
Ly cung vắng bóng khúc Nghê Thường.
Thơ Thục phi nói rằng:
Xuân hết thu qua mấy độ rồi,
Giang sơn chỉ thiếu Nghiệp cung thôi.
Sen vàng[22] năm đó Đông Hôn trải,
Gợi nhớ kim y khoác lấy người.
Họ nài nỉ ta làm thơ, ta không từ chối được, bèn đáp ứng viết mấy câu:
Theo gió bay lên tận cung sao,[23]
Bước giữa trăng mây bái Thiên tào.
Cùng nhau bàn hết chuyện nhân thế,
Đêm nay không biết đã năm nào?
Ngoài ra còn có một cô gái giỏi thổi sáo, tóc mai ngắn, mặc áo đai Ngô, dung mạo tuyệt trần, hơn nữa cũng vô cùng quyến rũ. Thục phi dẫn nàng tới, Thái hậu mời ngồi, bảo nàng thổi sáo rồi mời nàng uống rượu. Thái hậu quay lại nói: “Ngài có nhận ra không? Là Lục Châu của Thạch gia[24] đấy. Thục phi nhận nàng làm muội muội, cho nên nàng ấy theo Thục phi đến đây”. Còn bảo: “Lục Châu sao chẳng chịu làm thơ?’’. Lục Châu bèn cảm tạ rồi viết bài thơ rằng:
Người nay đâu phải kẻ ta thương,
Tiếng sáo ngân vang oán Triệu Vương.[25]
Hoa rơi, lá úa, cành khô héo,
Kim Cốc[26] ngàn năm luống đoạn trường.
Thơ xong thì rượu lại đưa lên. Thái hậu nói: “Ngưu Tú tài từ xa tới, đêm nay ai bầu bạn với ngài?”. Thích phu nhân là người đầu tiên từ chối: “Như Ý[27] đã trưởng thành, cho nên không thể được, huống chi việc này chẳng ra gì?”. Thục phi cũng từ chối: “Đông Hôn vì Ngọc Nhi (tên của phi) mà nước mất thân vong, Ngọc Nhi không thể phụ ngài ấy”. Lục Châu từ chối nói: “Thạch Vệ úy[28] tính đa nghi nghiêm khắc, dù có chết cũng không thể làm loạn”. Thái hậu nói: “Thái Chân là Quý phi của quang đế đương triều, không thể nói gì được”. Bèn quay lại bảo Vương Tường: “Chiêu Quân lúc đầu gả cho Hô Hàn Thiền vu, sau đó trở thành vợ của Chu Luy Thiền vu[29], vốn có thể tự làm chủ, hơn nữa bọn quỷ Hồ nơi khô lạnh có thể làm gì nàng? Chiêu Quân đừng từ chối”. Chiêu Quân không đáp, cúi mặt thẹn thùng. Thoáng chốc thì ai nấy về nghỉ ngơi, ta được tả hữu đưa đến chỗ Chiêu Quân. Trời sắp sáng, người hầu gọi ta dậy, Chiêu Quân rưng lệ cáo từ. Chợt nghe bên ngoài có tiếng Thái hậu triệu, ta bèn bước ra gặp. Thái hậu nói: “Đây không phải nơi có thể ở lâu, ngài nên về gấp, chia tay rồi, xin chớ quên cuộc vui tối hôm qua”. Bèn sai mang rượu đến, uống hết hai tuần, Thích phu nhân, Thục phi và Lục Châu đều tuôn lệ, cuối cùng thì ta cũng bái biệt lên đường. Thái hậu sai người áo đỏ đưa ta đến Đại An, tới đường Tây thì chẳng biết hắn đi đâu mất, bấy giờ trời vừa sáng. Ta ở Đại An, thăm hỏi người trong thôn, họ nói: “Cách đây hơn mười dặm có miếu Bạc Thái hậu”. Ta lại về đó, bên trong miếu đổ nát không vào được, đâu phải cảnh tượng ta vừa thấy. Song mùi hương trên áo hơn chục ngày vẫn chưa phai, rốt cuộc chẳng biết vì sao nữa.
CHU TẦN HÀNH KỶ LUẬN
Lý Đức Dụ
Lời phát bên trong, tình hiện trên chữ, ngôn từ là do chí khí mà ra vậy. Do đó xét lời lẽ thì biết được nội tâm, xem ngôn từ thì thấy được ý tứ. Ta thường nghe họ Thái Lao (Lương Quốc Ly công từng gọi Ngưu Tăng Nhụ là Thái Lao. Tên của Lương công không tiện nêu, nên ở đây không viết) thích làm cho thân mình kỳ quái, khiến cho hành động khác thường, xem họ mình ứng với câu sấm thụ mệnh quốc gia. Sấm rằng: “Thủ vĩ tam lân lục thập niên, lưỡng giác độc tử tứ cuồng điên, long xà tương đấu huyết thành xuyên” (đầu đuôi ba vảy sáu chục niên, hai sừng trâu con sức cuồng điên, rắn rồng tranh đấu máu liên miên). Bèn xem “Huyền quái lục”, thấy dùng nhiều ẩn ngữ, người ta không thể nào lý giải, kẻ hiểu được hoặc giả chỉ có một hai người, tất phụ hội thêm. Dung tha việc Tư Mã cướp nhà Ngụy, dùng lý do Điền Thường có nước Tề, cho nên từ phẩm trật thấp hèn mà lên đến Tể tướng, bè đảng thì như núi, không sao lay chuyển được. Những người muốn lay chuyển hết thảy đều bị vu cáo, không ai không liếc mắt cứng lưỡi. Việc đó chép cả trong “Nhật lịch” của sử quan Lưu Kha.
Ta có được “Chu Tần hành kỷ” của Thái Lao, xem đi xem lại chuyện Thái Lao cho bản thân hội ngộ với hậu phi của đế vương chốn u minh, muốn chứng tỏ bản thân chẳng phải thần tướng ở cõi người, tỏ ý chỗ “cuồng điên” vậy. Đến như việc đùa gọi Đức Tông là “con trai Thẩm bà”, dám gọi hoàng hậu của Đại Tông là “Thẩm bà”, khiến người ta lạnh xương sống, có thể nói là vô lễ với quân vương lắm vậy, hoặc ôm chí khác mưu tính làm rõ sấm truyền chăng? Lúc thiếu thời, ta vẫn phục câu nói của Tang Văn Trọng rằng: “Thấy kẻ vô lễ với quân vương, như diều cắt đuổi chim sẻ”, nên để mắt đến Thái Lao lâu rồi. Trước trông coi chính sự, ta muốn xử theo hình thư, nhưng sức chưa thắng được nên thôi. Ta đọc quốc sử, thấy trong thời Khai Nguyên, Ngự sử Nhữ Nam sinh Tử Lượng từng đàn hặc Ngưu Tiên Khách[30], nói họ y khớp với câu sấm truyền. Tuy có giống nhưng vẫn chưa hợp số “ba vảy sáu chục”. Từ khi Bùi Tấn Quốc cùng chư vị tùng huynh Lương Quốc (không tiện nêu tên), Bành Nguyên Trình, Triệu Quận Thân ghét Thái Lao như kẻ thù, rất giống chí ta, chẳng phải do ôm nỗi oán riêng mà vì ghét hắn ứng nghiệm câu sấm vậy. Ngày trấn giữ Tương Châu, Thái Lao đã phán “Hạ Vũ Tông giám quốc trạng” của Thứ sử Phục Châu Nhạc Khôn rằng: “Việc bình thường không đáng để chúc mừng”. Hắn cậy họ mình nên cả gan đến vậy ư? Gặp lúc ta trở về coi chính sự, những muốn tố giác, nhưng chưa có lý do. Đến khi bình Chiêu Nghĩa, lấy được lá thư hắn kết giao với Lưu Tùng Gián, nhân đó mới đuổi đi[31].
Than ôi! Làm bề tôi người khác mà âm mưu nghịch tiết, chẳng riêng gì người muốn tru diệt, cả quỷ thần cũng muốn giết đi. Phàm những kẻ đồng lõa với Thái Lao, chẳng kẻ nào không phải hạng lưu bạc vô lại, làm tai mắt cho nhau, thấy Thái Lao có hy vọng nên phò tá, cũng tức là tin hắn tương ứng với mệnh trời. Hoặc do trong ngoài khép tội ta vì yêu ghét Thái Lao, cho nên ta làm rõ lý luận này, để ai nấy đều biết chí ta vậy. Chà! Điều đáng hận là chưa thể diệt tộc hắn mà ta bị bãi quan[32], há chẳng phải bậc vương giả không chết ư? Để lại mầm họa cho đất nước, cũng là đại tội của ta vậy. Ví phỏng người cùng chí với ta tiếp tục trông chính sự thì nên vì vua mà trừ họa. Niên đại có số, ý chẳng ngẫu nhiên, nếu không phải bây giờ thì ắt là đời con cháu, phải đem hết người lớn kẻ nhỏ nhà Thái Lao đặt trong vòng quốc pháp, có vậy thì hình phạt đúng đắn mà xã tắc được yên, không phải lo lắng trong hai trăm bốn mươi năm sau. Ôi! Đạo phò vua của ta phân cách lúc rạng đông, lòng căm ghét của ta dám đâu phụ tuổi trẻ. Sẵn đây mượn bút ghi lại cơn phẫn cũ, cũng chép luôn vết tích của thiên “Hành kỷ” sau đây.
[1] Còn có tựa khác là “Hội chân ký”, về sau được nhà văn Vương Thực Phủ đời Nguyên cải biên thành vở tạp kịch “Tây sương ký” (mái Tây) rất nổi tiếng. Ngoài ra, đời Tống có “Nguyên Vi Chi, Thôi Oanh Oanh Thương điệu Điệp luyến hoa từ” của Triệu Lệnh Chỉ, thoại bản “Oanh Oanh truyện” và tạp kịch “Oanh Oanh lục yêu”; đời Kim có “Tây sương ký Chư cung điệu” của Đồng Giải Nguyên; đời Minh có “Nam điệu Tây sương ký” của Lý Nhật Hoa và “Nam Tây sương” của Lục Thái; đời Thanh lại có tạp kịch “Tục Tây sương” của Tra Kế Tổ và “Phiên Tây sương” của Thẩm Khiêm. Tất cả đều dựa theo “Oanh Oanh truyện” của Nguyên Chấn.
[2] Trong vở “Tây sương ký”, tên của Trương sinh là Quân Thụy.
[3] Đăng Đồ Tử là nhân vật trong bài “Đăng Đồ Tử hiếu sắc phú” của Tống Ngọc thời Chiến Quốc, ý nói những kẻ háo sắc mù quáng, không biết chọn lựa.
[4] Thiên “Tư Mã Tương Như liệt truyện” trong “Sử ký” chép: “Bấy giờ, Trác Vương Tôn có con gái tên Văn Quân, chồng vừa mất, thích âm luật, cho nên Tương Như vờ tôn kính Huyện lệnh, mượn tiếng đàn trêu ghẹo nàng… Văn Quân ban đêm bỏ trốn theo Tương Như”.
[5] Sách “Tấn thư” chép: “Nhà láng giềng họ Cao có cô con gái xinh đẹp, Tạ Côn thường trêu ghẹo, cô gái gieo chiếc thoi làm Côn gãy mất hai chiếc răng”.“Truyện Kiều” có câu:Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
[6] Tức Phan Nhạc thời Tây Tấn, nổi tiếng với dung mạo tuấn tú, cử chỉ nho nhã.
[7] Sách “Nam sử” chép: “Tiêu Hoằng vâng chiếu đánh Ngụy, quân đóng nơi Lạc Khẩu thì tiền quân đã hạ Lương Thành. Hoằng nghe quân tiếp viện của Ngụy đang đến gần, sợ hãi không dám tiến. Người Ngụy chê cười là nhát gan, tặng cho ông ta khăn quấn đầu của phụ nữ. Họ hát rằng: ‘Đâu sợ Tiêu nương với Lữ lão, chỉ e Vi Duệ ở Hợp Phì’”.“Tiêu nương” vốn có ý châm biếm Tiêu Hoằng, nói ông ta hèn nhát, nhưng sau này lại trở thành từ chỉ chung phụ nữ.
[8] Sách “Liệt tiên truyện” nói: “Tiêu Sử là người thời Tần Mục Công, giỏi thổi tiêu, có thể dẫn dụ chim công, hạc trắng tới sân. Con gái Mục Công là Lộng Ngọc thích chàng ta, công bèn gã nàng cho Tiêu Sử”.
[9] Đế Tân tức Trụ Vương, do mê Đát Kỷ, bỏ bê triều chính nên mất nước.
[10] Chu U Vương vì mê nàng Bao Tự, đốt lửa phong hỏa đài lừa chư hầu đề mua vui cho mỹ nhân. Đến khi quân Khuyển Nhung đến đánh, vua đốt lửa cầu cứu thì chư hầu lại tưởng vua lừa mình nên không ai tới nữa, kết quả là nhà Tây Chu bị diệt.
[11] Trong “Truyền kỳ biện chứng”, Vương Chí khảo cứu được Trương sinh chính là bản thân Nguyên Chẩn, còn Thôi Oanh Oanh cũng chính là biểu muội ông. Nàng là con gái của di Nguyên Chẩn – Trịnh thị – và Huyện úy Vĩnh Niên tên Thôi Bằng. Trong “Trung Quốc tiểu thuyết sử lược”, Lỗ Tấn cũng cho rằng “Nguyên Chẩn mượn hình ảnh Trương sinh để tự thuật, kể lại câu chuyện của chính mình”.Trong “Trung Quốc truyền kỳ”, Lâm Ngữ Đường lại nói: “Họ Nguyên kể chuyện và gửi tên ở Trương Quân Thụy, nhưng thực chất là tự truyện rõ ràng. Ngày tháng, sự kiện và nhân vật gần như trùng khớp với cuộc đời Nguyên Chẩn”.Tuy nhiên vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Như theo Tô Thức, Trương sinh là Trương Tịch, bạn thân của Nguyên Chẩn. Các học già hiện đại Biện Hiếu Huyên và Ngô Vĩ Bân cũng bác bỏ quan điểm “Trương sinh là Nguyên Chẩn”.
[12] Thích Phu nhân là phi tần rất được Hán Cao Tổ Lưu Bang sủng ái, sau khi Cao Tổ mất, Lữ Hậu sát hại bà rất tàn khốc. Thiên “Lữ Hậu bản kỷ” trong sách “Sử ký” chép: “Thái hậu bèn chặt tay chân Thích Phu nhân, móc mắt, đốt tai, cho uống thuốc thành câm, đưa vào nhà xí, gọi là “lợn người”. Mấy ngày sau thì mời Hán Huệ Đế tới xem”.
[13] Tức Vương Chiêu Quân, cung nữ của Hán Nguyên Đế, sau được gả cho Thiền vu Hung Nô theo chính sách hòa thân.
[14] Tức Dương Quý phi của Đường Huyền Tông.
[15] Chú thích trong nguyên bản.
[16] Phan Thục phi tên thật là Du Ni Tử, sau đổi thành Ngọc Nhi, sủng phi của hoàng đế Tiêu Bảo Quyển nhà Nam Tề trong thời Nam Bắc triều.
[17] Tiêu Bảo Quyển bị Vương Trân Quốc và Trương Tắc giết, mang đầu đến gặp Lương Vương Tiêu Diễn (sau này là Lương Vũ Đế). Tiêu Diễn bèn giáng Tiêu Bảo Quyển làm Đông Hôn Hầu.
[18] Thẩm bà tức Duệ Chân Hoàng hậu Thẩm thị của Đường Đại Tông, mẹ của Đường Đức Tông. Ngưu Tăng Nhụ đang sống những năm Trinh Nguyên dưới thời Đức Tông, theo lý thì không thể nào viết văn rồi gọi đương kim hoàng đế một cách bất kính đến như vậy.Trong “Trung Quốc tiểu thuyết sử lược”, Lỗ Tấn nói: “Ngưu Tăng Nhụ ở cùng triều với Lý Đức Dụ, mỗi người có bè đảng riêng, tranh đấu nhau. Do Tăng Nhụ ưa viết tiểu thuyết nên môn khách của họ Lý là Vi Quán mới mượn tên Tăng Nhụ làm ra thiên “Chu Tần hành kỷ”, nhằm vu vạ cho ông”.Ngay từ thời Ngũ Đại, trong “Bắc mộng tỏa ngôn”, Tôn Quang Hiến đã tỏ ý nghi ngờ: “Tăng Nhụ đăng khoa trước Đức Dụ, lại không đố ky người tài và làm việc cẩn trọng. Nay lấy tài thuật của họ Ngưu mà so với công lao của họ Lý, tự khắc sẽ có công luận vậy. Vả chăng “Chu Tần hành kỷ” không phải lời nên nói, Đức Dụ viết bài luận trách tội ông, còn bậc chính nhân xem truyện ký thì kinh hãi. Chớ bảo Vệ Công ganh ghét bậc hiền tài, Ngưu Tể tướng không gặp phải họa to, cũng may mà tránh khỏi”.Vậy nên trong nhiều tuyển tập, truyện “Chu Tần hành kỷ” đề tên tác giả là Vi Quán.
[19] Quản phu nhân là một người vợ khác của Lưu Bang. Khi xưa, lúc ở cung Ngụy Vương, Bạc Thái hậu có giao hảo với Quản phu nhân và Triệu Nhi tử, hẹn nhau rằng: Ai phú quý trước thì đừng quên mọi người, về sau. Quản phu nhân và Triệu Nhi tử đều được Lưu Bang (lúc đó đang là Hán Vương) sủng ái. Lưu Bang biết lời hẹn của ba người nên thương cả Bạc Thái hậu.
[20] Mao Diên Thọ là một họa sư của hoàng cung nhà Hán. Để được vua chọn lựa, các cung nữ khi vào cung đều đúc lót cho họ Mao nhiều tiền đề ông ta vẽ mình đẹp hơn. Riêng Vương Tường không đút lót nên Mao Diên Thọ đã vẽ nàng xấu đi, vua không để mắt tới.
[21] Tức “Thương Sơn tứ hạo”, gồm Đông Viên Công, Hạ Hoàng Công, Ỷ Lý Quý và Giác Lý, bốn vị hiền sĩ ở ẩn tại Thương Sơn. Lữ Hậu nhờ Trương Lương mời bốn người này vào cung, khiến Cao Tổ thấy thế lực của Thái tử Lưu Doanh đã mạnh, không dám phế Thái tử để lập con trai Thích phu nhân. Lưu Doanh là con của Lữ Hậu, sau lên ngôi và trở thành Hán Huệ Đế.
[22] Chỉ Chu Bột, người có công dẹp loạn họ Lữ. Thiên “Giáng Hầu Chu Bột thế gia” trong sách “Sử ký” chép. “Chu Bột quật cường đôn hậu, Cao Đế cho là có thể giao việc lớn”.
[23] Thiên “Tề bàn kỷ – hạ” trong sách “Nam sử” chép: “(Đông Hôn Hầu) Lại đục vàng làm hoa sen trải mặt đất, bào Phan phi bước trên đó, nói rằng: ‘Đây là mỗi bước nở hoa sen vậy’”.
[24] Nguyên văn là “Đại La thiên”, tức tầng trời cao nhất trong số 36 tầng trời theo Đạo giáo.
[25] Lục Châu là ái thiếp của An Dương Hầu Thạch Sùng (249 – 300) thời Tây Tần. Xin xem “Lục Châu truyện” (quyển 7).
[26] Triệu Vương Tư Mã Luân là người đã ra lệnh giết Thạch Sùng.
[27] Kim Cốc là khu vườn Thạch Sùng dành riêng cho Lục Châu.
[28] Như Ý là con của Thích phu nhân, được phong tước Triệu Vương.
[29] Thạch Sùng giữ chức quan Vệ úy trong triều.
[30] Chiêu Quân được gả cho Hô Hàn Tà Thiền vu. Sau khi Hô Hàn Tà chết, theo tục nối dây của người Hung Nô, nàng lại trở thành vợ Phục Chu Luy Nhược Đề Thiền vu – con cả của Hô Hàn Tà.
[31] Ngưu Tiên Khách (675 – 742) là đại thần dưới thời Đường Huyền Tông. Khi vua phong Ngưu Tiên Khách làm Thượng thư, Giám sát Ngự sử Chu Tử Lượng đã can ngăn và đàn hạch ông ta bất tài. Đây không phải nhân vật Ngưu Tiên Khách mà truyện “Lưu hồng ký” nhắc đến (xem quyển 8).
[32] Cuối thời Đường, hoạn quan nắm đại quyền. Từ năm 808 đến năm 846, trong triều hình thành hai thế lực nương tựa vào hoạn quan, đó là bè đảng của Ngưu Tăng Nhụ và Lý Đức Dụ, đấu đá nhau suốt từ thời Đường Hiến Tông tới thời Đường Tuyên Tông, sử gọi là “Ngưu, Lý đảng tranh”. Năm 843, Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa là Lưu Tùng Gián chết, cháu ông ta là Lưu Chân tạo phản. Năm 844, Lý Đức Dụ đem quân tiêu diệt Lưu Chân xong, về tâu với vua rằng Ngưu Tăng Nhụ cấu kết với phản quân, Ngưu Tăng Nhụ bị biếm làm Thứ sử Đinh Châu.