Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TÙY DI LỤC (QUYỂN HẠ)

❊ ❊ ❊

Nhan Sư Cổ

Dạng Đế lâm hạnh Nguyệt Quan, thấy ánh trăng lung linh soi chiếu xuống cảnh vật. Đến nửa đêm, một mình vua với Tiêu phi ra trước hiên. Rèm cửa không mở, tả hữu ngủ rồi. Vua tựa vai Tiêu phi và kể chuyện hồi còn ở Đông cung. Chợt gặp tiểu hoàng môn[1] nấp sau khóm tường vi đang trêu ghẹo cung nữ, áo đai bị tường vi móc lại, tiếng cười thì lanh lảnh không ngừng. Thấy vóc người thanh mảnh, cho là Bảo Nhi có tư tình, vua liền khoác áo đơn xông tới bắt, hóa ra là cung nữ Nhã Nương. Khi trở về tẩm cung, Tiêu phi cười chê mãi. Vua bèn bảo: “Năm ngoái ta ghé chỗ Thỏa Nương, tinh cảnh cũng giống vậy. Lần đó ta có mạng nhưng chẳng tiếc. Sau này được Nguyệt Tân, bị làm cho mê đắm đến hồ đồ. Khi ấy, lòng yêu thương của ta không hề kém hơn tình ý với Tiêu phi lúc này đâu. Ta còn mô phỏng Lưu Hiếu Xước viết bài thơ “Tạp ức”, thường đọc nàng nghe đấy, nàng nhớ không?”. Tiêu phi nghe vua hỏi nên đọc lại:

Nhớ lúc ngủ

Đợi chờ dạ ngổn ngang

Tẩy trang còn vương vấn

Buông ngọc thúc nhau sang

Bác Sơn chờ kết mộng

Trầm thủy vẫn chưa tàn.

Rồi đọc tiếp:

Nhớ lúc tỉnh

Treo thẻ báo sáng trời

Hương phấn tàn phai hết

Dưới gối ẩn thoa rơi

Thượng Lâm cười rộn rã

Gà gáy cũng im hơi.

Vua nghe xong thở dài nói: “Tháng ngày trôi nhanh, đến nay không biết đã bao nhiêu năm rồi?”. Tiêu phi nhắc vua: “Nghe nói bên ngoài giặc nổi lên không ít, nhà vua nên cẩn trọng”. Vua bảo: “Chuyện nhà ta, hết thảy đều giao cho Dương Tố. Đời người vốn được bao lâu? Ví như có biến thì ta vẫn là Trường Thành Công[2]. Nàng đừng nhắc chuyện bên ngoài”.

Vua từng lâm hạnh Chiêu Minh Văn Tuyển Lâu, xa giá còn chưa đến, mấy ngàn cung nga đã theo lệnh bước lên lầu nghênh đón. Gió nhẹ từ phía Đông thổi lại, y phục của cung nga bị gió tốc, phất phơ trên vai gáy. Vua gặp cảnh đó, máu háo sắc càng dâng. Bèn xây dựng Mê Lâu, chọn thiếu nữ thường dân đưa vào trong, cho họ mặc áo đơn bằng la mỏng, còn mình thì tựa lan can mà ngắm, trông như sắp bay lên. Còn sai đốt hương thơm tại bốn góc, khói tỏa mịt mù, hệt như mây buổi sớm chưa tan, bảo rằng cảnh giới thần tiên cũng không sao sánh kịp. Trên lầu cho giăng bốn bảo trướng, mỗi trướng đều có dị danh, một là Tản Xuân Sầu, hai là Túy Vong Quy, ba là Dạ Hàm Hương, bốn là Diên Thu Nguyệt. Đồ trang sức với áo ngủ ở mỗi trướng cũng khác nhau. Từ khi tới Quảng Lăng, vua đắm chìm trong tiếng nhạc và nữ sắc, không còn biết gì nữa. Mỗi lần ngủ, tất phải đong đưa tứ chi, hoặc ngâm nga đàn hát, có vậy mới đi vào giấc mộng. Vua rất hài lòng với thị nữ Hàn Tuấn Nga, hễ đi ngủ thì cho triệu, sai nàng đấm xoa các khớp, sau đó liền ngủ ngay, vua ban cho tên khác là “Lai Mộng Nhi”. Tiêu phi từng tra hỏi Tuấn Nga: “Long thể bất an, ngươi có thể khiến vua thấy dễ chịu, há có thuật gì chăng?”. Tuấn Nga sợ uy thế nên vội vàng tâu lên: “Thiếp theo xa giá từ đô thành, thấy vua từng nằm xe Hà Thỏa. Xe này khi di chuyển thì lắc lư, các cô gái ngồi trên xe cũng vậy. Vua thích thú với trạng thái lắc lư đó. Nay thiếp chịu ân đức của hoàng hậu, hầu vua ngủ trong trướng chỉ ngắm mô phỏng tư thế trên xe để giúp vua yên giấc thôi, chứ không có thuật gì khác”. Mấy hôm sau, Tiêu hậu vu tội và đuổi nàng ta đi, vua không cản được. Lúc rảnh rồi, vua lên Mê Lâu, thấy nhớ nàng liền viết hai bài thơ trên cây cột Đông Nam:

Buồn ngấm trong xương tủy

Bệnh kéo đến tối ngày

Phan Nhạc hoa râm tóc

Đa tình mới thế đây.

Lại nói:

Chẳng tin trường tương ức

Bên mai tóc trắng tinh

Cô đơn trên lâu vắng

Trông xa mấy dặm tình.

Đến Quảng Lăng rồi, toàn bộ điện cước nữ bị đưa vào hành cung Nguyệt Quan, nên bọn Giáng Tiên cũng không được hầu vua ngủ. Có Lang tướng đi Qua Châu tuyên chiếu trở về, dâng lên một giỏ quả hợp hoan. Vua sai tiểu hoàng môn phi ngựa tới ban hai quả cho Giáng Tiên, do ngựa chạy nhanh, khiến quả đong đưa và rụng xuống. Giáng Tiên bái tạ long ân, còn lấy hoa tiên đỏ viết bài thơ dâng vua rằng:

Phi ngựa ban hai quả

Ơn vua chảy tựa sông

Đã rời xa kinh khuyết

Hợp hoan chẳng để lòng.

Vua xem xong thì không vui, bảo viên hoàng môn rằng: “Giáng Tiên thế nào rồi? Ở đâu ra mấy lời oán thán nặng nhường ấy?”. Hoàng môn sợ, bái lạy rồi tâu lên: “Bởi ngựa chạy gây dao động, khi tới Nguyệt Quan thì quả đã rụng rồi, không còn liền nhau nữa”. Lòng vua vẫn thấy chưa thoải mái, bèn nói: “Giáng Tiên không chỉ có dung mạo tuyệt trần mà ý thơ cũng sâu sắc, đúng là nữ Tương Như[3] vậy, cũng chẳng thua Tả Quý tần[4]“.

Dạng Đế từng bày tiệc nhỏ ở trong cung, cho lập chiết tự lệnh, lấy ý ly hợp của các nét hai bên. Khi đó Yểu Nương đứng hầu bên cạnh vua. Vua nói: “Ta lấy chữ “yểu” làm ngày mười tám[5]“. Yểu Nương bèn tách chữ “la” thành “tứ duy”[6]. Vua quay lại bảo Tiêu phi: “Nàng có thể tách “trẫm” được hay không? Nếu không thì phải uống một chén”. Tiêu phi từ từ nói: “Dời nét tả sang bên hữu, há chẳng phải chữ “uyên”[7] sao?”. Lúc bấy giờ, nhiều người theo về với Đường Công[8]. Vua nghe vậy không vui, bèn nói: “Ta không biết chuyện này, chẳng lẽ ta không phải thánh nhân?”.

Thế rồi gian thần làm loạn trong triều, giặc cướp bên ngoài tấn công, bọn Trực các Bùi Kiền Thông, Hổ bôn Lang tướng Tư Mã Đức Cần cấu kết với Tả hữu Đồn vệ Tướng quân Vũ Văn Hóa Cập[9] âm mưu tạo phản, nhân đó xin thả các cung nô, chia hai ban thượng hạ. Vua chuẩn tấu, liền tuyên chiếu nói rằng:

Các môn hạ! Nhờ có nóng lạnh luân phiên nên tuế nguyệt mới thành, nhật nguyệt thay nhau chiếu sáng nên chia đều lao dật. Do đó, kẻ sĩ bàn về vui chơi và dừng bước, nông phu có lúc lao động rồi nghỉ ngơi. Thương thay các ngươi chịu khôn hình[10], phải phục dịch lao khổ, gắng sức không lúc nào biếng nhác, đến nỗi bụi bẩn vương đầy trên móng tóc, chấy rận kết khắp cả mũ đầu. Trẫm rất đau xót vì điều đó! Nay cho phép các ngươi thay phiên nhau nghỉ ngơi, sao cho tiện với công việc. Than ôi! Không phiền đến thỉnh cầu hoạt kê của Phương Sóc[11] mà theo tấu văn của vệ sĩ trình lên, trẫm đối với thị tùng, có thể nói là ân vậy. Cứ theo chuyện trước đó mà làm!

Do đó mà phát sinh sự biến phần thảo[12].

Trên đây là ‘Đại Nghiệp thập di ký”. Huyện Thượng Nguyên là cố đô Nam triều, nhà Lương xây Ngõa Quan Tự Các, góc phía Nam có gác đôi, song đã đóng kín không biết bao năm tháng. Vào những năm Hội Xương, vua xuống chiếu hủy phù đồ[13], nhân đó mở gác, lấy được hơn ngàn tuân bút. Trong gác còn cất giấu một pho sách, tuy lật đâu nát đó nhưng chữ nghĩa vẫn đọc được, chính là di cảo “Tùy thư”. Có mấy trang giấy sinh bạch đằng viết là “Nam bộ yên hoa lục”, do sư Chí Triệt tìm thấy. Đến lúc đốt kinh của họ Thích thì tăng nhân tiếc hương trục, tranh đuôi giấy xé ra xem, trên các trục đều ghi tên của Lỗ Quận Văn Trung Nhan công[14], đề rằng “viết tay chép lại”, vậy thì số tuân bút trước đã quá rõ còn gì. Chí Triệt giữ lấy ghi chép về những chuyện tiền triều, tới khi đối chứng với “Tùy thư”, phát hiện phần lớn là tư liệu bí mật, có nhiều chữ ăn khớp với sử sách, nhưng chi tiết thì đã giản lược rồi. Há chẳng phải là do mới lập triều, bọn tướng quân, tướng quốc đua nhau mang vương đạo phụ chính, Nhan công không muốn bôi tô việc cũ, cho nên mới bỏ đi? Nay Nghiêu phong trở lại, xe đức cũng xoay vẫn, chỉ tiếc cho thiên này mai một, không thể thành chủ đề của tài tử văn nhân, bởi thế liền chép ra “Đại Nghiệp thập di ký”. Những chỗ bị mất có khoảng bảy tám phần, đều bổ sung hết cả.

[1] Hoàng môn tức thái giám.

[2] Năm 604, Trần Hậu Chủ mất, Tùy Dạng Đế phong ông làm Trường Thành Huyện Công.

[3] Chỉ Tư Mã Tương Như, văn hào nổi tiếng thời Tây Hán.

[4] Tức Tả Phân, em gái của nhà văn Tả Tư thời Tây Tấn, dung nhan không đẹp nhưng tài nghệ xuất chúng, được Tấn Vũ Đế sắc phong làm Quý tần.

[5] Chữ “yểu” (杳) chiết tự sẽ thành “thập bát nhật”(十八日), có nghĩa là “ngày mười tám”.

[6] Chữ “la” (羅) chiết tự sẽ thành “tứ duy” (四維), có nghĩa là “bốn rường mối”, gồm lễ, nghĩa, liêm, sỉ.

[7] Chữ “trẫm” (朕) nếu dời các nét một chút thì sẽ thành chữ “uyên” (淵)

[8] Tức Đường Cao Tổ Lý Uyên, người sáng lập ra nhà Đường.

[9] Vũ Văn Hóa Cập là người phát động binh biến ở Giang Đô giết chết Tùy Dạng Đế vào năm 618. Thời gian đó, Lý Uyên đã chiếm được Trường An, lập Đại Vương Dương Hựu lên ngôi, tức Tùy Cung Đế. Vũ Văn Hóa Cập bèn lập Tần Vương Dương Hạo, sau đó lại giết Dương Hạo và xưng đế, đổi quốc hiệu là Hứa, đặt niên hiệu Thiên Thọ. Năm 619, quân Đường đuổi đánh, ông bỏ chạy và bị Đậu Kiến Đức bắt giết.

[10] Khôn là hình phạt cắt tóc thời xưa.

[11] Tức Đông Phương Sóc (154 – 93 trước Công Nguyên), tự Mạn Thiến, một danh thần thời Tây Hán, đa mưu túc trí, thường dùng lời lẽ khôi hài để can vua.

[12] Về việc Vũ Văn Hóa Cập làm phản, sách “Tùy thư” chép: “Đến canh ba, Tư Mã Đức Kham ở trong Đông Thành tập hợp binh lính, được tới vạn người, đốt lửa tiếp ứng với ngoài thành. Vua nghe thấy tiếng động, hỏi có chuyện gì. Bùi Kiền Thông nói dối: ‘Kho cỏ bị cháy, mọi người đang cứu hỏa, cho nên mới huyên náo vậy thôi’. Trong ngoài cách tuyệt, vua tưởng là thật’’. Sử sách gọi đây là sự biến phần thảo (đốt cỏ).

[13] Chỉ việc phế bỏ đạo Phật dưới thời Đường Vũ Tông. “Tân Đường thư” chép: “(Năm Hội Xương thứ năm) Tháng Tám, ngày Nhâm Ngọ, phá hủy hàng loạt chùa Phật, bắt tăng ni trở về làm thường dân”.

[14] Nhan công chính là Nhan Chân Khanh (709 – 785), tự Thanh Thần, ông là nhà thư pháp nổi tiếng thời Đường, được phong tước Lỗ Quận Công, thụy là Văn Trung.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.