(truyện chí quái thời Lục triều[1])
Ngô Quân[2]
Hán Tuyên Đế ban cho Đại Tướng quân Hoắc Quang một cỗ xe phủ màu đen, toàn xe đều dùng kim giảo trang trí. Đêm đến, con phượng hoàng vàng trên trục chốt xe thường bay đi mất, không ai biết nó đi đâu, đến sáng thì quay về. Chuyện như vậy đâu phải chỉ một lần. Người giữ xe cũng thường nhìn thấy. Sau đó, Hoàng Quân Trọng người Nam Quận giăng lưới bẫy chim ở Bắc Sơn, bắt được phượng hoàng, chạm tay vào, lập tức nó biến thành vàng tía, lông, mào và cánh đều có đủ, giống y như thật, toàn thân dài hơn một thước. Người giữ xe tâu lên rằng: “Đêm mười hai tháng này, con phượng hoàng trên trục chốt xe lại bay đi, đến sáng sẽ về. Nhưng nay không thấy, e là nó đã bị người ta bắt rồi”. Quang rất lấy làm lạ, lại tâu lên với vua. Mấy ngày sau, Quân Trọng mang con phượng hoàng đến tận kinh khuyết và nói: “Đêm mười hai tháng này, thần giăng lưới bẫy được ở Bắc Sơn”. Vua nghe mà nghi hoặc, cho đặt nó trên bàn hứng sương, thoáng chốc nó đã bay đi mất. Vua sai người tìm kiếm, nó bay thẳng đến nhà Quang, dừng trên trục chốt xe, mọi người thấy vậy mới tin. Vua lấy lại xe ấy, mỗi lần du hành đều ngự dụng. Đến lúc vua băng, phượng hoàng bay mất, không ai biết đi đâu. Cho nên “Du tiên thi” của Kê Khang có câu: “Phiên phiên phượng hạt, phùng Bắc võng la” (phượng hoàng tung cánh, gặp lưới Bắc Sơn) là có ý như vậy.
***
Ba anh em Điển Chân ở Kinh Triệu cùng nhau bàn bạc việc phân chia tài sản. Mọi tư trang đều chia đều cho nhau, duy có một gốc tử kinh ở trước nhà, họ thương lượng, muốn chặt thành ba khúc. Ngày hôm sau, lúc chuẩn bị đốn thì cây lập tức héo khô, cứ như bị lửa thiêu. Chân bước tới xem, vô cùng kinh ngạc, rồi nói với các em rằng: “Cành lá vốn dĩ cùng một gốc, nghe thấy sắp phân chia nên tàn tạ thế này. Con người chẳng lẽ không bằng cây cỏ hay sao?”. Họ không kìm được đau xót, chẳng muốn đốn cây nữa. Cây nghe được, liền sum sê như trước. Anh em họ ai nấy đều cảm động, bèn gom góp tài sản lại, cùng nhau giữ đạo hiếu. Chân làm quan đến chức Thái trung Đại phu. Thơ Lục Cơ có câu: “Tam kinh hoan đồng chu” (ba cành vui cùng gốc) là ý như thế.
***
Dương Bảo ở Hoằng Nông tính tình từ ái. Năm chín tuổi, tới núi Hoa Âm, thấy một con chim sẻ vàng bị cú mèo truy đuổi, rơi xuống dưới gốc cây, mang rất nhiều vết thương, lăn qua lăn lại, còn bị đàn kiến bao lấy. Bảo ôm nó về, đặt trên xà nhà. Đêm đến nghe nó kêu thảm thiết, bèn tự mình tới xem, thấy nó bị muỗi
đốt, Bảo liền chuyển vào rương chứa khăn, cho nó ăn hoa vàng. Được hơn mười ngày, lông cánh lành lặn, nó bay đi, sớm bay tối về, nhưng vẫn sống trong rương khăn, cứ như vậy hết mấy năm.
Một hôm, chợt nó kéo bầy sẻ cùng nhau đến, cất tiếng hót bi ai khắp nhà, qua vài ngày thì đi. Đêm ấy, Bảo đọc sách lúc canh ba, có một đồng tử áo vàng đến nói: “Ta là sứ giả của Vương Mẫu. Năm xưa đi sứ đến Bổng Lai, bị cú mèo truy đuổi, đội ơn ông đã nhân từ cứu sống, nay xứng đáng được ban thưởng”. Bèn đưa cho chiếc vòng có bốn viên ngọc và nói: “Ban cho con cháu ông sự trong sạch, hơn nữa còn làm đến Tam công, như chiếc vòng này”. Lòng hiếu thảo của Bảo vang khắp thiên hạ, danh vị ngày càng cao. Con là Chấn, Chấn sinh Bỉnh, Bỉnh sinh Bưu, bốn đời giữ chức công khanh. Đến khi Chấn mất, có con chim lớn sà xuống,
người người đều nói bởi đạo hiếu vời nó đến vậy. Sái Ung bàn rằng: “Ngày xưa chim sẻ vàng vì báo ân mà đến”, chính là chuyện này đây[3].
***
Ngụy Minh Đế du ngoạn Lạc Thủy, giữa sông có mấy con rái cá trắng đẹp đẽ đáng yêu, gặp người thường lặn đi. Vua muốn thấy chúng, nhưng cuối cùng vẫn không được như ý. Thị trung Từ Cảnh Sơn nói: “Rái cá thích ăn cá đối, không thoát chết được đâu”. Bèn vẽ hình trên gỗ, làm thành hai con cá đối sống treo bên bờ. Thế là bầy rái cá tranh nhau đến, lúc bắt được, vua thấy rất vui, nói: “Nghe đồn khanh giỏi vẽ tranh, sao lại khéo đến thế?”. Đáp: “Thần chỉ hay cầm bút, rồi vẽ những gì mình thấy, chỉ đơn giản vậy thôi”. Vua nói: “Khanh quả thật giỏi dùng đến sở trường”. “ Trong “Đình cáo” của Nhan công có viết: “Từ Cảnh Sơn vẽ tranh mà rái cá tìm đến”, chính là như vậy.
***
Trương Hoa làm Tư không. Lúc bấy giờ trước mộ Yên Chiêu Vương có một con chồn vằn, hóa thành thư sinh, muốn bái phỏng Trương công. Bèn tới hỏi cột hoa biểu trước mộ rằng: “Với tài năng và diện mạo của ta, có thể gặp Tư không chăng?”. Hoa biểu nói: “Ngươi có đủ trò khéo léo, không việc gì không làm được. Nhưng lối hành xử của Trương công e khó nắm bắt lắm. Ngươi mà đi ắt mang nhục, nguy chẳng kịp về. Nếu không phải hao tổn cái khí ngàn năm của ngươi thì làm cũng hỏng mắt hoa biểu già như ta”. Chồn không nghe, vẫn tới gặp Hoa. Thấy nó dung mạo phong lưu, Hoa rất coi trọng. Thế là tranh luận, từ thanh vận tới chương pháp của thơ văn, Hoa đều không thắng. Kế đến lại bàn bạc Tam sử, học văn trăm nhà, bao gồm cả thập thánh, xuyên suốt đến tam tài, không có chuyện gì mà Hoa không lép vế chịu thua. Hoa không phục. Chồn bèn than: “Minh công là bậc tôn hiền bao dung, luôn tìm kiếm và tiến cử nhân tài, cớ sao lại ganh ghét với học vấn của tôi?”. Nói xong định bỏ đi. Hoa cho người giữ chặt cửa, không ra được, chồn lại hỏi Hoa rằng: “Minh công bày binh giáp chặn cửa, đó là nghi ngờ tôi phải không? E rằng từ nay người trong thiên hạ sẽ uốn lưỡi mà không nói, bậc mưu trí thì nhìn cửa chứ không vào. Thật đáng tiếc cho minh công”. Hoa không đáp, còn sai người giữ cửa nghiêm ngặt hơn. Phong thành lệnh Lôi Hoán là danh sĩ học rộng, nói với Hoa: “Nghe đồn quỷ quái rất sợ chó, nhưng chỉ dùng để phân biệt những thứ trăm năm thôi. Còn lão tinh ngàn năm thì không thể phân biệt được. Chỉ có dùng cây khô ngàn năm đem chiếu, nó mới hiện nguyên hình. Cột hoa biểu trước mộ Chiêu Vương đã được ngàn năm, hãy sai người chặt mang về đây”. Người của Hoa tới nơi, nghe thấy hoa biểu nói: “Lão chồn nhà ngươi không tự biết mình, hại đến cả ta”. Trong lỗ của hoa biểu có đứa bé áo xanh, cao hơn hai thước. Họ dẫn nó về, chưa tới Lạc Dương thì nó đã biến thành khúc gỗ khô. Hoa cho đốt và chiếu lên thư sinh, thư sinh quả nhiên là con chồn vằn. Mậu Tiên[4] than: “Nếu không phải hai loài vật này tự đến tìm ta thì ngàn năm cũng khó thấy được vậy”.
***
Tưởng Tiềm ở Đông Hải thường đi qua nhiều huyện. Trên đường mấy lần vào trong rừng, thấy một xác chết đã thối rữa, chim tới rỉa thịt, chợt xuất hiện đứa bé cao ba thước xua đuổi chim, chim liền bay đi. Chuyện như vậy đâu phải chỉ một lần. Tiềm lấy làm lạ, tới xem, thấy trên đầu xác chết có đạo cờ làm bằng sừng tê giác thông thiên, ước đoán giá cả có thể mấy vạn lượng. Tiềm bèn rút lấy. Vừa đi khỏi, chim lại kéo đến, nhưng không thấy đứa bé nữa. Về sau, Tiềm lấy đạo cờ này dâng lên Vũ Lăng Vương Tư Mã Hy nhà Tấn, Hy mất, đem bố thí chư tăng. Vương Vũ Cương dùng chín vạn lượng mua lại, sau đó cờ về tay Chử Thái tể, dâng tặng cho Thừa tướng là Dự Chương Vương. Vương mắt, vợ là Giang phu nhân chặt cờ làm chiếc thoa. Mỗi đêm hay có đứa bé đến bên giường la hét, nói rằng: “Sao bà lại chặt gãy nó? Tôi sẽ kiện lên thiên đình, gieo báo ứng cho bà”. Giang phu nhân sợ hãi, hơn một tháng sau thì chết.
***
Hoàn Huyền[5] sau khi soán vị thì tới cửa Chu Tước, chợt thấy hai đứa bé, toàn thân đen như mực, hát bài “Lung ca”, mười mấy đứa bé bên đường tới phụ họa. Lời rằng: Đệm cỏ gai, dây buộc bụng. Xe không trục, dựa cái cây. Âm điệu rất bi ai. Trời đã xế chiều, hai đứa bé vào huyện Kiến Khang, tới dưới gác thì biến thành đôi dùi trống đen ngòm. Có viên lại tâu rằng: “Dùi này mất đã lâu rồi, nay mới tìm thấy, không biết ai làm vậy”. Mùa xuân năm sau, Hoàn Huyền thua trận. “Xe không trục, dựa cái cây”, đó chính là chữ “hoàn”[6]. Kinh Châu dâng đầu Huyền, dùng đệm lông rách nát bao lấy, lại dùng dây gai buộc xác ném xuống sông, giống y như lời bài ca.
***
Hứa Ngạn ở Dương Tiện đi lên núi Tuy An, gặp một thư sinh khoảng mười bảy, mười tám tuổi, nằm ở góc đường, nói đau chân, xin vào lồng ngỗng của Ngạn. Ngạn cho là nói đùa. Thư sinh vào trong lồng, lỗng không rộng ra, thư sinh cũng chẳng nhỏ đi, thoải mái cùng ngồi với đôi ngỗng, ngỗng cũng không hề sợ hãi. Ngạn mang lồng mà đi, cũng không thấy nặng hơn. Tới nghỉ dưới gốc cây, thư sinh bèn chui ra, nói với Ngạn: “Tôi muốn bày bữa cơm đạm bạc chiêu đãi ngài”. Ngạn nói: “Được”. Thư sinh liền nhả một cái tráp đồng từ trong miệng, tráp chứa đủ thứ sơn hào hải vị, bày được một trượng vuông. Đồ dùng đều làm bằng đồng, mùi vị ngon lành, trên đời hiếm thấy. Rượu được mấy tuần, thư sinh lại nói với Ngạn: “Trước đây có một cô gái luôn ở bên cạnh tôi, nay để tôi mời cô ta đến”. Ngạn nói: “Được”. Thư sinh lại nhả ra một cô gái, xiêm y lộng lẫy, nhan sắc tuyệt trần, cùng ngồi dự tiệc. Thoáng chốc thư sinh đã say mèm, cô gái nói với Ngạn: “Tuy tôi làm vợ thư sinh kia, nhưng trong lòng thực sự oán ghét hắn. Lúc trước tòi cũng có giấu một chàng trai bên mình, thư sinh ngủ rồi, nay tôi gọi anh ta ra, ngài đừng nói cho thư sinh biết”. Ngạn nói: “Được”. Cô gái nhả từ trong miệng ra một chàng trai, khoảng hai mươi ba, hai mươi tư tuổi, cũng dĩnh ngộ đáng yêu, cùng hàn huyên chuyện trò với Ngạn. Thư sinh sắp tỉnh, cô gái lại nhả ra bức bình phong bằng gấm có thể chuyển dời để che lấy thư sinh. Thư sinh liền giữ cô nằm bên mình. Chàng trai kia nói với Ngạn: “Tuy tôi có lòng với cô gái, nhưng tình không sâu đậm, tôi cũng giấu một cô gái khác bên mình, nay muốn gặp cô ấy, xin ngài đừng tiết lộ”. Ngạn nói: “Được”. Chàng trai lại nhả ra một cô gái, tuổi khoảng đôi mươi, họ cùng nhau uống rượu và vui đùa rất lâu. Nghe thấy tiếng thư sinh động đậy, chàng trai nói: “Hai người họ tỉnh dậy rồi”. Bèn đem cô gái đã nhả ra cho vào lại trong miệng. Chốc lát thì cô gái ở chỗ thư sinh cũng bước ra, nói với Ngạn: “Chàng trai này phải đi rồi”, cô bèn nuốt chàng ta vào, còn mình ngồi bên cạnh Ngạn. Sau đó thư sinh cũng thức dậy, nói với Ngạn rằng: “Tôi ngủ đã lâu, để ngài ngồi một mình, thật áy náy quá! Trời cũng đã tối, phải cáo biệt ngài thôi”. Thư sinh nuốt cô gái kia cùng mọi thứ đồ dùng vào trong miệng, nhưng để lại cái đĩa đồng lớn, rộng hai thước, từ biệt Ngạn và nói: “Không có gì để biếu ngài, ngài giữ lấy món này lưu niệm vậy”. Trong những năm Thái Nguyên, Ngạn làm Lan đài Lệnh sử, tặng đĩa ấy cho Thị trung Trương Tán. Tán xem bài minh trên đó, thấy viết vào năm Vĩnh Bình thứ ba[7].
***
Hoàn Cảnh người Nhữ Nam theo Phí Trường Phòng ngao du học đạo nhiều năm, Trường Phòng nói: “Mồng chín tháng Chín, trong nhà ông sẽ có tai họa. Nên đi gấp, sai người nhà làm những túi đỏ thẫm, nhét đầy thù du, buộc vào cánh tay, lên núi cao uống rượu hoa cúc, họa này có thể tránh được”. Cảnh y lời, cùng cả nhà lên núi. Chiều về, thấy gà, chó, bò, dê đều chết cả. Trường Phòng nghe được tin, nói rằng: “Chúng chịu thay đó”.
Người thời nay, mồng chín tháng Chín lên núi cao uống rượu, phụ nữ đeo túi thù du là bắt nguồn từ đây[8].
***
Tấn Vũ Đế hỏi thuộc hạ của Thượng thư lang là Ngu Trọng Hiệp: “Mồng ba tháng Ba Khúc Thủy, có ý nghĩa gì?”. Đáp: “Thời Hán Chương Đế, Từ Triệu ở Bình Nguyên sinh được ba con gái vào mồng một tháng Ba, ba ngày sau đều chết yểu, cả thôn cho đó là quái dị, Triệu bèn đem ra bến nước tẩy rửa, từ đó tục lệ này được lưu truyền rộng rãi, ý nghĩa của nghi thức Khúc Thủy là bắt đầu từ đây”. Vua nói: “Nếu vậy thì đây không phải chuyện tốt”.
Thượng thư lang Thúc Tích bước lên tâu: “Họ Ngu là tiểu sinh, sao biết chuyện ấy? Thần xin nói rõ nguồn gốc. Xưa Chu Công dựng Lạc Ấp, có thả chén rượu theo dòng nước, nên dật thi có câu: ‘Vũ thương tùy ba lưu (chén rượu trôi theo sóng). Ngày Thượng Ty tháng Ba thời Tần Chiêu Vương, vua bày tiệc rượu bên sông, có người vàng từ giữa sông bước ra, dâng lên Thủy tầm kiếm và nói: ‘Cho ngài chế phục Tây Hạ’. Khi Tần Chiêu Vương xưng bá chư hầu, nhân đó đặt nơi này là Khúc Thủy. Hai đời nhà Hán vẫn tiếp tục nghi thức, lâu ngày mà trở nên thịnh vượng”. Vua nói: “Hay”, rồi ban cho năm mươi cân vàng, còn thăng Trọng Hiệp làm Thành Dương lệnh.
***
Thành Vũ Đinh ở Quế Dương biết tiên đạo, nhưng thường sống tại nhân gian. Một hôm bỗng nói với em rằng: “Mồng bảy tháng Bảy, Chức Nữ sẽ qua sông, chư tiên đều phải về cung cả. Ta đã bị triệu rồi, không ở lại được, nay từ biệt đệ vậy”. Người em hỏi: “Chức Nữ qua sông vì việc gì? Còn huynh thì khi nào trở về?”. Đáp: “Chức Nữ tạm đến chỗ Khiên Ngưu, ta sẽ trở về sau ba năm”. Ngày hôm sau không thấy Vũ Đinh đâu nữa. Đến nay người ta vẫn nói Chức Nữ được gả cho Khiên Ngưu.
***
Đặng Thiệu ở Hoằng Nông thường lên núi hái thuốc vào mồng một tháng Tám. Gặp một đồng tử cầm túi ngũ sắc hứng sương trên lá bách, những giọt sương đều trong như hạt ngọc, rơi đấy vào trong túi. Thiệu hỏi rằng: “Dùng làm gì vậy?”. Đáp: “Xích Tùng tiên sinh lấy để chế thuốc sáng mắt”. Nói xong thì biến mất. Người thời nay, cứ đến ngày mồng một tháng Tám thì làm túi sáng mắt, chính là do chuyện này đây.
***
Khuất Nguyên[9] lao mình xuống sông Mịch La vào ngày mồng năm tháng Năm, người nước Sở thương tiếc, đến ngày này, cho gạo vào ống trúc và ném xuống nước tế ông. Những năm Kiến Vũ thời Hán, Âu Khúc ở Trường Sa chợt thấy một nhân sĩ tự xưng là Tam Lư đại phu, nói với Khúc rằng: “Nghe ông đang cúng tế, tốt quá! Nhưng hằng năm đồ cúng cho tôi đều bị giao long đến trộm, nay nếu có lòng, xin ông dùng lá xoan bọc bên trên, lấy sợi ngũ sắc buộc lại. Có hai vật này, giao long sẽ sợ và không dám tới”. Khúc y lời ông. Ngày nay, mồng năm tháng Năm làm bánh nếp, người ta đều bọc lá xoan, buộc bằng sợi ngũ sắc, đó là phong tục còn lưu lại vậy.
***
Trương Thành ở Ngô Huyện, ban đêm thức giấc, bỗng thấy một phụ nữ đứng ở góc nhà phía Nam, vẫy tay gọi Thành. Cô gái nói: “Đất này là phòng tằm của nhà ông, ta chính là thần đất đây. Rằm tháng Giêng năm sau, ông hãy lấy cháo trắng đổ xuống thấm vào đất để cúng tế cho ta, ta sẽ khiến dâu tằm của ông bội thu gấp trăm lần”. Nói dứt lời thì biến mất. Thành y lời rưới cháo trắng, từ đó về sau, quả nhiên dâu tằm được bội thu. Ngày nay, người ta nấu cháo trắng vào ngày rằm tháng Giêng, chính là bắt nguồn từ đây.
***
Đất Ngô Hưng, cách huyện Nghiệp ba mươi dặm về phía Đông có núi Mai Khê. Chân núi dựng đứng một khối đá, cao hơn trăm trượng, rất xanh mà trơn nhẵn, lớn tựa hai gian nhà. Bốn mặt đều trống không, ngước mắt lên, ngoài những tầng mây cao ngất thì chẳng thấy nơi nào leo lên được. Trên đó lại có một bàn đá, tròn như cái nắp xe, luôn chuyển động như cối xay, âm thanh như tiếng mưa tiếng gió, dân địa phương gọi là “thạch ma” (cối đá xay). Nếu cối xay nhanh thì năm đó được mùa, còn nếu xay chậm thì ắt gặp đói kém. Muốn biết mùa màng trong năm như thế nào, kiểm chứng với nó thì không bao giờ sai.
***
Từ Thu Phu ở Tiền Đường giỏi chữa bệnh. Nhà ở phía Đông của cây cầu bắc qua ngòi nước bên Tây Hồ. Ban đêm nghe thấy tiếng ngâm nga, rên rỉ cực kỳ đau khổ giữa không trung, Thu Phu thức dậy, tới chỗ có tiếng rên rỉ, hỏi: “Ngươi là quỷ ư? Sao lại thế này? Đói rét cần đến miếng ăn, áo mặc? Hay là có bệnh cần được chữa?”. Quỷ đáp: “Tôi là người Đông Dương, họ Tư, tên Tăng Bình. Xưa làm Nhạc Du lại, mắc bệnh đau hông mà chết, nay ở Hồ Bắc. Tuy làm quỷ rồi mà vẫn khổ như lúc còn sống. Nghe nói ông giỏi y thuật, cho nên tới báo”. Thu Phu hỏi: “Nhưng ngươi không có hình hài, làm sao ta chữa được?”. Quỷ đáp: “Ông kết cỏ tranh thành hình người, rồi châm cứu trên các huyệt, xong xuôi thì thả trôi theo dòng nước, vậy là được rồi”. Thu Phu bèn làm người cỏ, châm vào hai chỗ hông và mắt, còn cho cúng tế đạm bạc rồi mới sai người thả xuống sau hồ. Đến tối, nẳm mơ thầy quỷ nói: “Tôi đã khỏi, còn nhận được thức ăn ông cúng, cảm tạ ý tốt của ông”. Năm Nguyên Gia thứ sáu triều Lưu Tống, Thu Phu làm Phụng triều thỉnh.
***
Triệu Văn Thiều người Cối Kê làm chức Phù thị ở Đông cung, nhà ở Trung Kiểu tại Thanh Khê, cách nhà Thượng thư Vương Thúc Khanh một con hẻm, đi chừng hai trăm bước. Đêm thu, Văn Thiều ngắm trăng, buồn chán muốn về quê, nên tựa cửa hát điệu “Tây ô dạ phi”, giọng hát vô cùng ai oán. Chợt có một tỳ nữ áo xanh, khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, tới trước mặt nói rằng: “Nương tử của Vương gia xin thưa với Phù thị, mọi người đang đuổi trăng chơi đùa, nghe thấy lời ngài hát, nên sai tôi tới hỏi thăm”. Âm thanh khắp nơi chưa dứt, Văn Thiều cũng không chút nghi ngờ, ôn hòa đáp lễ, ra sức chào mời. Trong chốc lát nàng đã đến, khoảng mười tám, mười chín tuổi, dung mạo và dáng vẻ đều đáng yêu, còn có hai tỳ nữ theo hầu. Văn Thiều hỏi: “Nhà nàng ở đâu?”. Nàng đưa tay chỉ nhà Vương Thượng thư và nói: “Bởi nghe lời ngài hát, nên mới đến thăm, há chỉ nghe được một khúc thôi sao?”. Văn Thiều liền ca khúc “Thảo sinh bàn thạch”, âm điệu trong sáng vui tươi, lại dò hỏi ý nàng. Nàng bảo: “Chỉ cần có bình, lo gì không được nước?”. Rồi quay lại bảo nữ tỳ: “Về mang đàn không hầu tới đây, để ta gảy cho Phù thị nghe”. Không lâu sau, đàn đã mang tới, nàng gảy mời hai ba đoạn, âm thanh trong trẻo mà có phần thê lương. Bèn sai tỳ nữ hát khúc “Phồn sương”, còn nàng lấy thắt lưng buộc đàn không hầu bên hông, cúi dựa lên đó mà hát. Ca rằng: Chiều hôm gió thổi, lá rụng dựa cây. Lòng son hữu ý, trách chàng không haỵ. Hát “Phồn sương” khúc, qua bức màn này. Dạt dào bao cảm xúc, ngồi đón gió sương bay. Hát xong, đêm đã khuya, nàng nằm nghỉ lại, đến canh tư mới cáo lui. Nàng lấy kim trâm tặng Văn Thiều, Văn Thiều cũng lấy một chén bạc và một chiếc thìa lưu ly trắng tặng lại nàng. Đến sáng, Văn Thiều ra ngoài, ngẫu nhiên tới miếu Thanh Khê nghỉ ngơi, thấy chén bạc của mình trên bệ thần, vô cùng kinh ngạc, bèn bước ra sau tấm bình phong thì thấy thìa lưu ly nằm ở đó, cả đàn không hầu buộc thắt lưng cũng y nguyên như vậy. Trong miếu thờ chỉ có tượng nữ thần, nhìn kỹ nữ tỳ áo xanh phía trước, họ đều là những người đã gặp vào đêm qua, thế là chàng chạy đi mất. Khi ấy là năm Nguyên Gia thứ năm triều Lưu Tống.
***
Bạt: “Tề Hài” là sách chí quái vậy, đó chỉ là ngụ ngôn của Trang sinh[10] mà thôi. Nay Ngô Quân gọi là “tục” (viết tiếp) chỉ vì muốn giữ ý nghĩa nên nói vậy, chứ trước đây không hề có sách ấy. Xét thư mục của “Văn hiến thông khảo” cũng thấy viết tương tự.
Niên hiệu Chí Nguyên, năm Giáp Tý, Lục Hữu ở Ngô Quận chép.
[1] Thời Lục triều là giai đoạn cực thịnh của thể loại chí quái – tiền thân của truyền kỳ. Trong “Trung Quốc tiểu thuyết sử lược”, Lỗ Tấn giải thích: “Người Trung Quốc vốn mê tín, từ thời Tần Hán về sau, thuyết thần tiên thịnh hành, cuối đời Hán lại nổi lên làn gió đồng cốt và các thuyết ma quỷ thì ngày càng mạnh mẽ, gặp lúc Phật giáo Tiểu thừa đang du nhập vào Trung thổ, từng bước lưu truyền khắp nơi. Do đó ai ai cũng đề cao quỷ thần, ca tụng sự linh thiêng. Bởi vậy, từ thời Tấn đến thời Tùy, có rất nhiều sách chí quái”. “Tục Tề Hài ký” của Ngô Quân chính là một tác phẩm tiêu biểu của thể loại này.
[2] Ngô Quân (469 – 520) tự Thúc Tường, người Cố Chương, Ngô Hưng. Lỗ Tấn đánh giá: “Quân sớm có thi danh, văn chương thì thanh tú thoát tục, có khí chất thời cổ, kẻ hiếu sự thường mô phỏng, gọi là “Ngô Quân thể”, do đó tuy là tiểu thuyết nhưng cũng trác tuyệt đáng xem, văn nhân Đường Tống nhiêu người trích dẫn làm điển cứ”.
[3] Dương Bảo người Hoằng Nông là viễn tổ của Tùy Văn Đế Dương Kiên, người sáng lập nên nhà Tùy. Câu chuyện này cũng chính là nguồn gốc của điền tích “ngậm vành”. “Truyện Kiều” có câu:Dám nhờ cốt nhục tử sinhCòn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.
[4] Mậu Tiên là tên tự của Trương Hoa.
[5] Hoàn Huyền (369 – 404) tự Kính Đạo, con của danh tướng Hoàn Ôn thời Đông Tấn. Cuối năm 403, ông ép Tấn An Đế nhường ngôi cho mình, đổi quốc hiệu là Sở, đặt niên hiệu Vĩnh Thủy. Sang năm 404, ông bị tướng nhà Tấn là Lưu Dụ đánh bại.
[6] Chữ ‘‘xa”(車) có nghĩa là “xe”, nếu bỏ đi nét 丨 tượng trưng cho trục xe thì sẽ thành chữ “tuyên” (亘), sau đó ghép thêm chữ “mộc” (木) có nghĩa là “cái cây” vào bên trái thì sẽ thành chữ “hoàn” (桓) trong họ của Hoàn Huyền.
[7] Thái Nguyên là niên hiệu của Tấn Hiếu Vũ Đế, dùng từ năm 376 đến năm 396, còn Vĩnh Bình là niên hiệu của Hán Minh Đế, dùng từ năm 58 đến năm 75, có nghĩa là bài minh đã được viết cách đó hơn 300 năm rồi.
[8] Mồng chín tháng Chín về sau trở thành Tết Trùng Cửu, người ta lên núi (đăng cao), uống rượu hoàng hoa và hái thù du.Bài thơ “Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ” của Vương Duy có câu:Dao tri huynh đệ đăng cao xứBiến sáp thù du thiểu nhất nhàn(Nơi xa huynh đệ lên non núiBẻ nhành thù du, thiếu một người).
[9] Khuất Nguyên (340 – 278 trước Công nguyên) là nhà thơ nổi tiếng của nước Sở thời Chiến Quốc, ông là người yêu nước, nhưng Sở Tương Vương lại nghe lời gièm pha mà đày ông. Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La vào mồng năm tháng Năm, ngày đó về sau trở thành Tết Đoan Ngọ.
[10] Hai chữ “Tề Hài” có xuất xứ từ thiên “Tiêu dao du” trong sách “Nam Hoa kinh”: “Tề Hài giả, chí quái giả dã” (Tề Hài là sách chí quái vậy). Do tầm ảnh hưởng rộng lớn của học thuyết Đạo gia nên về sau, khi viết truyện chí quái, nhiều nhà văn đã lấy hai chữ “Tề Hài” làm đề tựa, như “Tề Hài ký” của Dương Vô Nghi thời Lưu Tống, “Tục Tề Hài ký” của Ngô Quân thời Lương, “Tân Tề Hài” (tên khác là “Tử bất ngữ”) của Viên Mai đời Thanh. Tuy trước Ngô Quân đã có “Tề Hài ký” của Dương Vô Nghi, nhưng Trang Tử từng nói đến “Tề Hài” cách đó hơn ngàn năm, do vậy “Tề Hài ký” chắc chắn không phải sách “Tề Hài” mà “Nam Hoa kinh” đề cập.