Lý Công Tá
Thuần Vu Phần người Đông Bình là một danh sĩ du hiệp miền Ngô Sở, mê rượu và hăng hái, không chấp nhặt tiểu tiết, tích lũy được gia sản khổng lồ, nuôi dưỡng nhiều hào khách. Chàng từng lấy võ nghệ sung chức Bì tướng Hoài Nam quân, nhưng do uống say mạo phạm chủ soái nên bị đuổi, rơi vào cảnh bất đắc chí, sinh ra phóng đãng, ngày ngày mượn rượu giải sầu. Nhà chàng nằm cách quận Quảng Lăng mười dặm về hướng Đông, ở phía Nam ngôi nhà có một gốc cổ hòe to lớn, cành lá rậm rạp, che mát đến mấy mẫu, Phần hay yến ẩm với bè bạn bên dưới gốc cây này.
Tháng Chín năm Trinh Nguyên thứ bảy thời Đường, có hôm Phần uống say đến ngả bệnh, lúc bấy giờ, hai người bạn rời chỗ ngồi tới đỡ Phần về nhà, cho nằm dưới mái hiên ở phía Đông chính đường. Họ nói với chàng: “Anh cứ chợp mắt, chúng tôi sẽ cho ngựa ăn và rửa chân, đợi anh khỏe bớt rồi mới đi”. Phần tháo khăn làm gối, mơ mơ màng màng, cứ như đã rơi vào giấc mộng. Chàng thấy có hai sứ giả mặc áo tím đến quỳ lạy và nói rằng: “Quốc vương nước Hòe An sai tiểu thần liều chết đến mời ngài”. Phần bất giác bước xuống sập và chỉnh lại y phục, theo nhị sứ ra đến cửa, thấy chiếc xe nhỏ sơn xanh, đóng bốn con ngựa khỏe, tả hữu tùy tùng có khoảng bảy tám người, họ đỡ chàng lên xe, ra khỏi cửa thì hướng về huyệt cổ hòe mà di tới. Sứ giả lùa xe vào bèn trong huyệt rồi, Phần cảm thấy kỳ lạ lắm, nhưng lại không dám hỏi. Chợt thấy núi sông khí hậu, cây cỏ đường sá, thứ nào cũng khác xa với nhân gian. Đi được mấy mươi dặm thì gặp thành quách hào trì, ngựa xe vẫn qua lại không ngớt. Người đánh xe của Phần hô hoán rất nghiêm trang; kẻ đi đường cũng tranh nhau nhường bước. Lại vào một thành lớn, có cửa son lầu cao, trên lầu gắn kim thư viết mấy chữ “Đại Hòe An quốc”. Lính giữ cửa vội chạy lại bái kiến, tiếp đó là một ky sĩ đến truyền rằng: “Quốc vương thấy phò mã từ xa đến, mời ngài tới Đông Hoa quán nghỉ ngơi”. Rồi đi trước dẫn đường. Bỗng thấy một cánh cửa mở toang, Phần liền xuống xe bước tới. Trong đó là lan can rực rỡ và cột chạm tinh tế, cây cối tươi xanh với hoa quả lạ lùng trồng khắp dưới sân, mấy chiếc án đều trải đệm, còn rèm màn và các món sơn hào hải vị thì bày khắp trên đình. Phần thấy trong lòng vui lắm. Lại nghe có tiếng hô: “Hữu Thừa tướng đến”. Phần xuống bậc thềm nghênh đón. Có một người mặc áo tím và cầm thẻ ngà voi tiến lại, chủ khách hành lễ rất cung kính. Hữu Thừa tướng nói: “Quả quân bất chấp tệ quốc nằm ở nơi xa xôi hẻo lánh, cho mời quân tử đến để bàn bạc hôn sự”. Phần thưa: “Mỗ đây ty tiện thấp kém, nào dám mơ tưởng chuyện ấy?”. Hữu Thừa tướng bèn mời chàng cùng vào nhà. Đi khoảng trăm bước thì vào tới chu môn, thấy tả hữu cầm mâu, kích, búa, rìu đứng thành đội, còn quan quân mấy trăm người vội nép sang góc đường. Người bạn rượu thường ngày tên Chu Biện của chàng cũng đứng trong số đó, chàng vui mừng nhưng không dám đến hỏi thăm. Hữu Thừa tướng dẫn chàng tới điện Thăng Quảng, các ngự vệ đứng nghiêm chỉnh, trông như chỗ chí tôn. Thấy một người cao lớn đoan trang đang đứng ở chính vị, mặc y phục trắng tinh, cài trâm son trên chiếc mão hoa lệ. Phần run rẩy, không dám ngẩng đầu nhìn. Tả hữu bảo chàng bái lạy. Vua nói: “Khi trước phụng mệnh hiền tôn, không bỏ quên tiểu quốc, cho phép thứ nữ Dao Phương theo hầu quân tử”. Chàng chỉ biết nghe theo chứ chẳng dám nói lời nào. Vua lại nói: “Hãy về tân quán trước, cử hành đại lễ sau”. Vua còn có chỉ, sai Hữu Thừa tướng theo chàng về quán xá. Phần nghĩ bụng: cha mình là tướng lĩnh biên cương, nhưng đã bị giặc bắt, sống chết còn chưa rõ, có thể do đi lại với Bắc phiên mà dẫn tới chuyện này chăng? Trong lòng chàng thấy rối bời, không thể hiểu được nguyên cớ.
Đêm hôm ấy, từ các món lễ vật như dê non, nhạn béo, tiền bạc, lụa là cho đến đội nghi trượng uy phong, kỹ nhạc, tơ trúc và cả thức ăn, đèn nến, xe ngựa không thiếu sót thứ nào. Có vài nhóm phụ nữ, hoặc xưng là Hoa Dương Cô, hoặc xưng là Thanh Khê Cô, hoặc xưng là Thượng Tiên Tử, hoặc xưng là Hạ Tiên Tử, mấy ngàn người đều kéo tới hầu hạ, đội mũ thúy nón phụng, mặc áo vàng xiêm mây, dùng trang sức đủ loại, rực rỡ đến lóa mắt. Bọn họ lượn qua lượn lại, ca hát vui đùa, tới lui cánh cửa, tranh nhau diễn trò cho Thuần Vu lang xem, phong thái quá diễm lệ còn ngôn từ thì tinh xảo, Phần không thể đối đáp lại. Có một cô gái nói với chàng: “Ngày Thượng Tỵ[1] năm ngoái, tôi từ chỗ Linh Chi Phu nhân đi qua chùa Thiền Trí, ở viện Thiên Trúc xem Hữu Diên múa Bà La Môn, tôi và các cô gái ngồi trên chiếc giường đá bên cửa sổ phía Bắc. Bấy giờ ngài đang tuổi thiếu niên, cũng dừng ngựa đến xem, một mình ngài tiến lại muốn ôm ấp thân mật, còn bỡn cợt cười đùa. Tôi và Cùng Anh muội đã kết khăn màu đỏ thẫm rồi treo lên cành trúc, ngài không nhớ ư? Rồi tới ngày mười sáu tháng Bảy, tôi theo hầu Thượng Chân Tử ở chùa Hiếu Cảm, nghe Khiết Huyền pháp sư thuyết giảng “Quan Âm kinh”, ở đó tôi đã bố thí hai chiếc thoa kim phụng, Thượng Chân Tử thì bố thí cái hộp làm bằng sừng tê giác. Khi ấy ngài cũng đang ngồi trong hội chúng, liền tới chỗ pháp sư mượn thoa với hộp để xem. Ngài xem đi xem lại những ba lần, còn xuýt xoa khen mãi, rồi quay lại nói với chúng tôi rằng: ‘Cả người lẫn vật bố thí đều không phải thứ nhân gian có được’. Ngài còn hỏi về gia tộc và nơi ở của tôi, nhưng tôi không đáp. Ý tình quyến luyến, ngắm mãi không rời, chẳng lẽ ngài không nhớ gì hay sao?”. Phần nói: “Cất giữ trong lòng, có lúc nào quên?”. Các cô gái nói: “Thật không ngờ hôm nay lại trở thành quyến thuộc của ngài”. Lại có ba người đai mão rất uy nghiêm bước tới bái lạy chàng và nói: “Phụng mệnh vua tới làm người tiếp lễ cho Phò mã”. Trong đó một người là cố nhân của chàng, chàng liền tới hỏi: “Anh chẳng phải là Điền Tử Hoa ở Phùng Dực đó ư?”. Họ Điền đáp: “Đúng vậy”. Phần nắm tay ôn chuyện cũ một hồi lâu. Chàng hỏi: “Sao anh lại sống ở đây?”. Tử Hoa đáp: “Tôi du ngoạn khắp nơi, nhận ơn tri ngộ của Hữu Thừa tướng Vũ Thành Hầu Đoàn công, nhân đó ở lại luôn”. Chàng lại hỏi: “Chu Biện cũng ở đây, anh biết chứ?”. Tử Hoa đáp: “Chu sinh là hạng quý nhân, làm đến chức Tư lệ; quyền thế rất mạnh, tôi nhiều lần được che chở chiếu cố”. Họ cười nói vui vẻ lắm.
Thoáng chốc thì nghe có người báo: “Đến lúc Phò mã vào rồi”. Ba người giúp chàng đeo kiếm; đội miện và thay áo. Tử Hoa nói: “Không ngờ hôm nay được tận mắt chứng kiến buổi thịnh lễ của anh; xin đừng quên nhau nhé!”. Có mấy chục nàng tiên tấu khúc nhạc lạ lùng, âm thanh uyển chuyển trong trẻo,giai điệu lại tha thiết đượm tình, chẳng phải thứ mà người trần nghe được. Kẻ cầm đuốc dẫn đường cũng mấy chục, nhìn hai phía đều thấy rèm mạc bằng vàng và phỉ thúy, màu sắc rực rỡ và chế tác tinh xảo, kéo dài liên tiếp mấy dặm. Phần ngồi thẳng người trong xe, tinh thần hoảng loạn, cảm thấy rất bất an; Tử Hoa phải không ngừng cười nói để giúp chàng trấn tĩnh. Mấy cô em gái chàng vừa gặp thì ai nấy ngồi xe cánh phượng, cũng đi lại trong đoàn người. Tới một cánh cửa, gọi là cung Tu Nghi, các chị em tiên nữ liền tranh nhau đứng bên cạnh. Truyền lệnh bảo Phần bước xuống xe bái lễ, đứng lên rồi quỳ xuống, vái lạy khiêm nhường, giống hệt ở nhân gian.
Cho dẹp bình phong và mở những cánh quạt thì thấy một cô gái, xưng hiệu là Kim Chi Công chúa, tuổi chừng mười bốn, mười lăm, xinh đẹp tựa thần tiên. Nghi lễ giao hoan cũng hết sức long trọng. Từ đó tình nghĩa hai người ngày càng sâu, cuộc sống cũng ngày càng vinh hiển, xe ngựa và y phục chàng dùng lúc ra vào, yến tiệc và hội hè chàng bày ra tiếp khách, tất cả chỉ kém mỗi đức vua.
Vua sai Phần và đồng liêu lựa chọn binh lính, tổ chức một chuyến đi săn lớn ở núi Linh Quy tại phía Tây. Núi gò hùng vĩ, sông suối chảy dài, rừng cây rậm rạp, chim bay thú chạy, chẳng thiếu loài nào. Tướng sĩ thắng lớn, đến tối mới về. Hôm khác, Phần lại tâu với đức vua: “Mới đây, vào hôm thần kết hảo, đại vương có nói là phụng mệnh của cha thần. Cha thần làm tướng lĩnh phụ tá vùng biên cương, do dùng binh bất lợi nên rơi vào tay giặc Hồ, đến nay đã dứt đường thư tín mười bảy, mười tám năm. Đại vương biết nơi ở của cha thần, xin cho thần đi thăm cha một chuyến”. Vua nói với chàng: “Lệnh tôn giữ chức vị phòng thủ đất Bắc, vẫn hay liên lạc với ta, khanh chỉ việc viết lá thư kể rõ mọi chuyện, cần chi phải lên đường?”. Chàng bèn bảo vợ chuẩn bị lễ vật rồi phái người mang đi. Mấy hôm sau thì nhận được hồi âm. Chàng đọc kỹ lá thư, thấy đúng là bút tích của cha mình, trong thư chan chứa lòng nhung nhớ và gửi lời giáo hối, bao tình cảm dạt dào ấy đều giống hệt năm xưa. Tiếp đến là hỏi thăm thân thích hiện đang sống thế nào, nhà cửa bây giờ ra làm sao? Cuối cùng thì than thở vì đường sá xa xôi, gió bụi ngăn cách, ngôn từ thống khổ và bi thương, nhưng không hề nhắc chàng tới thăm viếng, chỉ nói đến năm Đinh Sửu thì cha con gặp lại nhau. Chàng cầm lá thư mà nghẹn ngào đau xót, chẳng thể kìm lòng.
Một ngày nọ, người vợ nói với Phần: “Chàng không tính tới việc tham gia chính sự ư?”. Phần đáp: “Tính ta phóng đãng, không quen với chính sự”. Nàng nói: “Chàng cứ làm đi, thiếp sẽ ở bên giúp đỡ”. Rồi nàng tâu lên đức vua. Mấy hôm sau, vua nói với Phần: “Chính sự quận Nam Kha không tốt, Thái thú đã bị cách chức rồi, nay muốn cậy tài của khanh, để khanh phải chịu thiệt, có thể dẫn tiểu nữ theo cùng”. Chàng cung kính vâng mệnh. Vua bèn sai hữu ty chuẩn bị hành lý cho Thái thú, nhân đó ban vàng ngọc gắm vóc, rương tráp nữ trang, rồi cho kẻ hầu người hạ đóng ngựa xe, đứng thành hàng trên đại lộ, tiễn công chúa lên đường. Lúc thiếu thời Phần du hiệp, chưa từng dám vọng tưởng, giờ thấy vậy thì vui lắm. Chàng dâng biểu nói rằng:
Thần là dư tử[2] nhà võ tướng, vốn bất học vô thuật. Kẻ hèn hạ mà được giao trọng trách, tất gây bại hoại triều chương. Thần nghĩ tới chuyện sẽ phụ lòng đại vương mà nơm nớp trong lòng nay muốn tìm bạn hiền triết để bù chỗ bất túc. Xét thấy Tư lệ Chu Biện người Dĩnh Xuyên là hạng trung chính cương trực, chấp pháp vô tư, có khí độ của bậc phụ tá. Xử sĩ Điền Tứ Hoa người Phùng Dực là hạng cẩn trọng cơ biến, thấu suốt ngọn nguồn chính hóa. Cả hai đều có tình thâm giao cố cựu với thần mười năm nay, thần hiểu rõ tài nghệ, biết họ cáng đáng nổi chính sự. Xin phong Chu Biện làm Tư hiến Nam Kha, phong Điền Tử Hoa làm Tư nông, giúp thần gây dựng nên chính tích, để hiến chương không rối loạn.
Vua chấp thuận thỉnh cầu của chàng. Đêm ấy, vua và phu nhân bày tiệc đưa tiễn ở phía Nam vương quốc. Vua nói với Phần: “Nam Kha là quận lớn ở nước ta, đất đai màu mỡ, hào kiệt đông đúc, không dùng nhân chính thì không thể trị được, huống chi còn có bọn Chu Điền giúp sức, mong khanh hãy cố gắng để xứng đáng với kỳ vọng của nước nhà”. Phu nhân thì dặn công chúa rằng: “Thuần Vu lang tính cương cường thích rượu, hơn nữa vẫn đang lúc thiếu niên, đạo làm vợ quý ở sự nhu thuận, nếu con làm được việc này thì ta chẳng còn lo gì nữa. Tuy Nam Kha không phải chốn xa xôi, nhưng vẫn ngăn cách sớm chiều, hôm nay ly biệt, sao có thể không rơi lệ?”. Vợ chồng Thuần Vu Phần bái lạy rồi đi về phía Nam, lên chiếc xe chen giữa bao kỵ mã. Họ nói cười rất vui vẻ, qua mấy đêm thì tới nơi. Đám quan lại, tăng nhân, đạo sĩ, kỳ lão, nhạc đội, xe cộ cùng với bọn võ vệ trong quận tranh nhau tới nghênh giá, người người chen chúc, chuông trống vang ầm, kéo dài mười mấy dặm, còn thành quách với đài quan thì tráng lệ vô cùng. Đi đến cổng thành, thấy trên đó cũng treo tấm bảng lớn có đề mấy chữ vàng, viết là “Nam Kha quận thành”, dưới hiên son là hàng kích dày đặc ngăn trước cửa, nhìn vào sâu hun hút. Phần xuống xe, đi khảo sát phong tục, cứu giúp người bệnh tật khổ sở, ủy thác chính sự cho Chu Điền, trong quận lại trở nên yên ổn. Suốt hai mươi năm kể từ khi chàng nhậm chức, phong hóa thấm nhuần, trăm họ sáng tác ca dao, lập bia ghi lại công đức, còn dựng cả miếu thờ cho Phần. Nhà vua cũng hết sức coi trọng chàng, phong thực ấp, ban tước vị, cho ngồi ở hàng đài phụ[3]. Bọn Chu Điền đều nổi danh về chính trị, dần lên tới ngôi cao. Phần có năm người con trai và hai người con gái, con trai nhờ môn âm được làm quan, con gái thì gả cho vương tộc, vinh hoa hiển hách, uy chấn một thời, không ai sánh kịp.
Năm ấy, nước Đàn La tới xâm phạm quận Nam Kha. Vua sai Phần điểm tướng luyện binh để thảo phạt, chàng bèn dâng biểu xin cho Chu Biện thống lĩnh ba vạn quân tới kháng địch tại thành Dao Đài. Biện dũng mãnh mà tiến quân khinh suất nên binh tướng thua to. Biện một thân một ngựa để mình trần bỏ trốn, đến tối trở về thành. Giặc thì thu lấy vật tư với khải giáp rồi lui binh. Phần liền bắt trói Biện đến thỉnh tội, vua xá miễn cho. Tháng đó, Tư hiến Chu Biện do phát nhọt ở lưng mà chết. Công chúa – vợ của Phần – cũng lâm bệnh, được một tuần thì qua đời. Chàng nhân đó xin từ chức ở quận, hộ tống nàng về kinh. Vua đồng ý, liền để Tư nông Điền Tử Hoa giữ chức Thái thú Nam Kha. Phần đau sót khởi hành, khi đi giữa đường thì bách tính kêu gào, quan lại bày lễ cúng, kẻ giữ xe cản đường thì nhiều không đếm xuể. Về đến kinh đô, thấy vua và phu nhân đã mặc áo trắng đứng khóc ở ngoại thành, chờ xe linh cữu tới. Vua ban thụy là Thuận Nghi công chúa, nghi trượng đầy đủ từ vũ bảo với trống kèn, an táng công chúa ở Bàn Long Cương cách kinh đô mười dặm về phía Đông. Tháng ấy, con của Tư hiến Chu Biện là Vinh Tín cũng đưa linh cữu cha trở về kinh.
Thuần Vu Phần trấn thủ ở ngoại phiên lâu ngày nhưng vẫn giao hảo với người trong kinh thành, các hào môn vọng tộc chẳng có ai mà chàng không quen biết. Từ lúc bãi quan về kinh, chàng ít khi đi lại, chỉ giao du với khách khứa, uy phúc ngày càng tăng, khiến vua tỏ ý nghi kỵ. Lúc bấy giờ, trong nước có người dâng biểu tâu:
Huyền tượng giáng xuống, nước có họa to, đô ấp chuyển đời, tông miếu hư tồn. Máu đổ do ngoại tộc, sự biến giữa môn tường.
Người người tranh luận, nói đây là báo ứng do Phần xa xí quá độ. Vua bèn thu lại thị vệ của chàng, cấm giao du khách khứa, cho ở tại phủ riêng. Chàng cậy mình làm Thái thú nhiều năm, chưa từng để bại hoại chính sự, nay bị hại vì lời đồn ác ý, nên uất ức không vui. Vua cũng biết vậy, bèn truyền lệnh nói rằng: “Kết nhân thân đã hơn hai mươi năm, tiểu nữ chẳng may mất sớm, không thể bạc đầu giai lão cùng quân tử, thật khiến người ta đau lòng”. Phu nhân bèn giữ cháu ngoại để tự mình nuôi nấng, lại nói với chàng: “Khanh xa nhà đã lâu, nay hãy tạm về quê, đi thăm hỏi thân tộc, còn các cháu thì cứ để lại đây, không phải lo gì hết. Ba năm sau sẽ cho người tới đón khanh”. Chàng thưa: “Đây là nhà thần, sao còn bảo thần quay về?”. Vua cười nói: “Khanh vốn là người cõi nhân gian, nhà khanh đâu phải ở đây”. Bỗng chốc, chàng như rơi vào giấc mộng, buồn chán một hồi lâu, sau đó mới nhớ lại chuyện khi trước, tuôn lệ xin cáo từ. Vua sai tả hữu tiễn chàng về, Phần lạy hai lạy rồi ra đi, gặp lại hai sứ giả mặc áo tím hồi đó. Khi tới cửa lớn thì thấy ngựa xe rất tệ hại, tùy tùng với kẻ hầu người hạ chẳng có lấy một ai, chàng ngán ngẩm mà thở dài trong bụng. Phần lên xe, đi được khoảng vài dặm thì ra khỏi kinh thành, phảng phất vẫn như con đường mình đi đến từ phía Đông năm ấy, núi sông đồng cỏ vẫn giống hệt thuở xưa. Hai sứ giả đưa tiễn chẳng còn chút uy phong, khiến chàng thấy khó chịu. Phần hỏi sứ giả: “Bao giờ thì tới quận Quảng Lăng?”. Hai sứ giả vẫn thản nhiên ca hát, rất lâu sau mới đáp: “Chút nữa là đến thôi”. Chợt xuất hiện một cái huyệt, rồi lại thấy cổng xóm ở cố hương, mọi thứ không hề thay đổi qua năm tháng. Chàng thương thân xót dạ, lệ bất giác tuôn trào. Hai sứ giả dẫn xuống xe, chàng đi qua cửa rồi bước lên bậc cấp, thấy bản thân vẫn còn nằm dưới mái hiên ở phía Đông chính đường. Chàng vô cùng kinh hãi, không dám tiến lại gần. Hai sứ giả bèn gọi lớn họ tên chàng mấy tiếng chàng giật mình tỉnh dậy, thấy gia nhân trong nhà đang quét tước ngoài sân, hai người khách thì rửa chân bên cáng, ánh tà dương chưa khuất bóng sau bức tường phía Tây, chén rượu thừa vẫn đầy ắp bên mé Đông cửa sổ. Chỉ một chốc trong giấc mộng mà tựa như đã đi hết kiếp người. Chàng nhớ lại mà than thở, liền gọi hai người khách và kể cho họ nghe, ai nấy đều kinh hãi, vội dẫn chàng ra ngoài và tìm cái huyệt dưới gốc hòe. Chàng chỉ huyệt và nói: “Đây là nơi tôi đã vào trong giấc mộng”. Hai người khách cho là hồ ly hoặc mộc tinh tác quái, bèn sai nô bộc vác rìu tới, họ chặt đi mấy cành dầy chen chúc, bẻ luôn nhũng nhánh non mới mọc, tìm đến ngọn nguồn cái huyệt kia. Đào quanh đó khoảng một trượng thì thấy cái huyệt lớn, nhìn rõ cả đáy động, nhét vừa đủ một chiếc cáng, đất cát thì chổng lên trông như hình dạng của thành quách điện dài, còn có mấy tổ kiến tụ tập. Bên trong là tiểu đài, màu sắc như son, có hai con kiến lớn, cánh trắng đầu đỏ, dài chừng ba tấc, hai bên có mấy chục con kiến đứng bảo vệ, đám kiến kia không dám lại gần, đây chính là nhà vua, tức kinh đô của nước Hòe An vậy. Lại xét một huyệt khác, đâm thẳng tới cành Nam khoảng bốn trượng, uốn khúc vuông vức, cũng có thành đất lầu nhỏ và cũng có bầy kiến làm tổ ở trong đó, đây chính là quận Nam Kha nơi chàng đã làm quan. Lại xem một huyệt khác, hướng về phía Tây hai trượng, rộng lớn nhưng trống không, còn lõm xuống rất kỳ dị, trong đó có một mai rùa đã mục nát, to như cái đấu, do thấm nước mưa lâu ngày nên cỏ non đã đâm chồi và mọc lên rậm rạp, che kín cả chiếc mai, đó là núi Linh Quy mà Phần từng săn bắn. Lại tìm thấy một huyệt nữa, hướng về phía Đông hơn một trượng, rễ già cuộn lại trông như dạng long xà, trong đó có một gò đất nhỏ, cao hơn một thước, chính là Bàn Long Cương nơi an táng vợ chàng. Nhớ lại chuyện cũ mà chàng cảm thán trong dạ, từng chuyện từng chuyện đều giống hệt cơn mơ. Phần không muốn hai vị khách phá đi, nên sai người lấp lại y như trước.
Đêm hôm ấy, mưa to gió lớn. Buổi sáng xem lại huyệt thì bầy kiến đã biến mất, chẳng biết chúng đi đâu. Vậy ra những câu như “nước có họa to, đô ấp chuyển dời” khi trước nay đã ứng nghiệm rồi. Chàng lại nhớ tới chuyện nước Đàn La xâm phạm, bèn nhờ hai người khách dò tìm ở bên ngoài. Cách nhà chàng một dặm về phía Đông có một khe nước cạn, bên cạnh có một gốc đàn to, dây đằng la quấn quít, nhìn lên không thấy được mặt trời, kế đó là một huyệt nhỏ, cũng có đàn kiến tụ tập trong đó, nước Đàn La há chẳng phải đây sao? Than ôi, chất linh dị của loài kiến mà còn không dò nổi, huống chi là sự biến hóa của những loài to lớn ẩn mình giữa núi cao rừng sâu?
Bấy giờ hai bạn rượu của Phần là Chu Biện và Điền Tử Hoa đều ở huyện Lục Hợp, không qua lại với chàng đã được một tuần rồi, chàng bèn sai gia đồng tức tốc đến hỏi thăm. Biện lâm bạo bệnh đã mất, còn Tử Hoa cũng phát ốm liệt giường. Chàng thấm thìa cái phù phiếm của Nam Kha, ngộ ra vẻ thoáng chốc của kiếp người, bèn nương nhờ cửa đạo, lìa xa tửu sắc. Ba năm sau, tức năm Đinh Sửu, chàng mất tại nhà, hưởng dương bốn mươi bảy tuổi, ứng với kỳ hạn trong túc khê.
Mùa thu, tháng Tám năm Trinh Nguyên thứ mười tám, Công Tá đi từ Ngô đến Lạc, tạm đỗ thuyền tại Hoài Phố, tình cờ gặp được Thuần Vu Phần[4], nhân đó hỏi thăm chuyện hồi xua. Tra đi xét lại, thấy mọi thứ đều đúng với sự thật, liền viết 7 ngày thành truyện để dành tặng cho những ai hiếu sự. Tuy kể về ma quái, không giống với lẽ thường, nhưng trộm nghĩ cũng là lời cảnh giới đối với hạng trứ sinh. Các vị quân tử đời sau, xin hãy xem Nam Kha như giấc mộng, chớ đem danh vị buông thả giữa đất trời.
Tiền Tham quân Hoa Châu tên Lý Triệu có làm bài tán rằng:
Quyền cao chức trọng,
Khuynh đảo thành trì.
Người hiền chỉ thấy,
Kiến tụ khác chi?
[1] Truyện này được Thang Hiển Tố cải biên thành vở tạp kịch “Nam Kha ký”.
[2] Tức mồng ba tháng Ba Âm lịch (xin xem Bổ di 1).
[3] Hai chữ “dư tử’’ trong tiếng Hán mang nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong trường hợp này có lẽ dùng để chỉ con cháu, hậu duệ.
[4] Tức vị trí của Tam công, Thái tể.