Lý Triều Uy
Vào những năm Phụng Nghi, có Nho sinh tên Liễu Nghị đi ứng thí nhưng không đỗ, định về lại bờ Tương Thủy. Chàng nhớ đến người đông hương đang sống nơi đất khách Kinh Dương nên tới đó cáo từ. Đi được sáu bảy dặm thì bầy quạ bay lên làm con ngựa kinh hãi, cất vó lao theo mép trái đường, chạy hết sáu bảy dặm mới ngưng. Thấy một cô gái đang chăn dê bên vệ đường, Nghị lấy làm lạ, bèn nhìn kỹ nàng, thì ra là một giai nhân tuyệt đẹp. Song đôi mày ngài trên gương mặt nàng lộ rõ nét lo âu, khăn áo cũng thiếu đi vẻ tươi sáng, nàng đứng ngẩn ngơ đến xuất thần, cứ như đang đợi điều gì đó. Nghị bèn hỏi nàng: “Sao nàng lại để mình khổ sở đến thế này?”. Lúc đầu nàng đau đớn cảm tạ, nhưng cuối cùng cũng rưng rưng nước mắt đáp: “Tiện thiếp bất hạnh, hôm nay may mắn lại được ngài hạ cố hỏi thăm. Song nỗi hận đã xuyên da nhập cốt, sao có thể hổ thẹn mà tránh đi, nếu ngài chịu lắng nghe thì tốt quá. Thiếp là con gái của Long Quân hồ Động Đình. Phụ mẫu gả thiếp cho con thứ của Long Quân Kinh Xuyên, nhưng chồng thiếp tính tình phóng đãng, nghe lời mê hoặc của bọn nô bộc, ngày ngày khinh bạc thiếp. Thiếp có kể lại với cha mẹ chồng, họ thương con trai mình nên không quản. Tới lúc thiếp khẩn thiết van nài và đắc tội với họ thì bị ruồng bỏ đến đây”. Nói xong nàng sụt sùi rơi lệ, đau xót chẳng thể kìm lòng. Nàng lại nói: “Động Đình cách nơi đây xa lắm, chẳng biết bao nhiêu mà lần? Trời đất mênh mang, thư từ không sao đến được, vươn mắt trải lòng cũng đâu ai thấu được nỗi khổ. Nghe nói ngài sắp quay về đất Ngô; nơi ấy tiếp giáp hồ Động Đình, nay thiếp có bức thư muốn cậy ngài mang giúp, chẳng biết ngài có ưng thuận không?”. Nghị đáp: “Ta cũng là hạng nghĩa phu. Nghe nàng kể vậy, khí huyết đều sôi lên bừng bừng, chỉ hận mình không có đôi cánh nên chẳng thể bay đi ngay, nói chi tới chuyện ưng thuận hay không ưng thuận? Có điều Động Đình là chốn nước sâu, ta đi trên đất bụi thì biết làm sao tới được? Chỉ e hai nẻo cách biệt, chẳng thể tương thông, có khi lại phụ tấm lòng nàng ủy thác, làm trái với nguyện vọng của nàng. Liệu nàng có cách gì dẫn lối giúp ta chăng?”. Cô gái vừa buồn bã thút thít vừa đáp tạ chàng, nàng nói: “Ngài đi đường nên bảo trọng, những lời này bất tất phải nói nhiều. Nếu may mắn nhận được chút hồi âm thì dẫu có chết thiếp cũng sẽ báo đáp. Nếu ngài không nhận lời thì thiếp chẳng dám nói gì thêm. Nhưng nay được ngài ưng thuận mà hỏi đến, vậy thiếp xin đáp rằng, Động Đình và kinh ấp nhân gian thực ra không khác biệt chi cả”. Nghị xin được nghe. Nàng nói tiếp: “Ở phía Nam Động Đình có một cây quất lớn, dân chúng gọi là xã quất. Ngài nên tháo đai lưng ra rồi buộc cái khác vào, sau đó gõ ba cái lên thân cây, lập tức sẽ có người đáp lại. Ngài cứ đi theo thì không còn gì trở ngại nữa. Ngoài việc đưa thư, mong rằng ngài có thể đem nỗi lòng của thiếp kể hết cho người nhà, ngàn lần xin chớ sai câu hẹn”. Nghị nói: “Ta kính cẩn theo lời nàng”. Cô gái bèn lấy bức thư từ trong áo cánh ra, bái lạy hai cái rồi đưa cho Nghị; nàng nhìn về hướng Đông mà tuôn lệ u sầu, dường như kim lòng không đặng. Nghị cũng thấy xót cho nàng, chàng cất thư vào túi xong thì lại hỏi: “Ta không rõ nàng chăn dê để làm gì? Chẳng lẽ thần linh mà cũng muốn giết mổ ư?”. Nàng đáp: “Đây không phải dê đâu, mà là vũ công đấy”. “Vũ công là cái gì?”. Nàng đáp: “Chúng cùng loại với lôi đình vậy”. Chàng ngoảnh nhìn chúng mấy lần, thấy con nào cũng ngẩng đẩu sải bước, ăn uống rất khác lạ, nhưng kích cỡ với lông, sừng thì chẳng khác gì loài dê. Nghị lại nói: “Nay ta làm sứ giả, ngày sau nàng về lại Động Đình, xin chớ tránh mặt ta”. Nàng đáp: “Thiếp chẳng những không tránh mặt mà còn xem ngài như thân thích”. Dứt lời thì Nghị theo hướng Đông lên đường. Đi khoảng vài chục bước, chàng ngoảnh đầu nhìn cô gái với đàn dê, song chẳng còn thấy gì nữa.
Đêm ấy, Nghị tới ấp giã từ bạn. Hơn một tháng sau thì chàng về lại quê nhà, bèn tới Động Đình hỏi thăm. Phía Nam Động Đình quả nhiên có một cây xã quất. Chàng liền tháo đai lưng và gõ ba cái lên thân cây. Ngay lập tức xuất hiện một võ phu giữa lớp sóng, bái lạy hai cái và nói rằng: “Quý khách từ đâu tới vậy?”. Nghị không nói sự thật mà đáp rằng: “Đi yết kiến đại vương”. Võ phu liền rẽ nước chỉ đường rồi dẫn Nghị tiến vào. Lại nói với Nghị: “Nên nhắm mắt vài cái, có thể tới nơi ngay”. Nghị theo lời hắn, thoáng chốc đã tới long cung. Chàng thấy ngay những đài các sừng sững đối diện nhau, cửa nhà có đến hàng ngàn hàng vạn, còn cỏ cây kỳ quái thì nơi nào cũng có. Võ phu bảo Nghị dừng bước tại một góc của gian nhà lớn, nói rằng: “Khách hãy ở đây chờ đợi”. Nghị hỏi: “Đây là nơi nào?”. Võ phu đáp: “Chính là điện Linh Hư”. Nghị nhìn cho thật kỹ, chàng cảm thấy dường như mọi châu báu của nhân gian đều quy tụ lại nơi này. Trụ đúc từ bạch ngọc, thềm lát bằng ngọc xanh, giường thì chế từ san hô, còn rèm thì làm bằng thủy tinh, lại chạm trổ lưu ly trên xà biếc và trang trí hổ phách ở cột rường rực rỡ sắc cầu vồng, vẻ đẹp tươi cẩm tú ấy không lời nào tả hết. Nhưng Long vương mãi chưa ra. Nghị hỏi võ phu: “Động Đình Quân giờ ở đâu?”. Võ phu đáp: “Nhà vua còn đang ngự tại gác Huyền Châu, đàm luận Hỏa kinh với Thái Dương đạo sĩ, không bao lâu nữa sẽ xong thôi”. Nghị hỏi: “Hỏa kinh là cái gì?”. Võ phu đáp: “Vua của chúng tôi là rồng, rồng nhờ nước mà thành thần, phun một cái là ngập hết gò cao khe sâu. Còn đạo sĩ kia là người, người nhờ lửa mà nên thánh, châm một ngọn là có thể đốt trụi A Phòng[1]. Có điều linh dụng của thủy, hỏa bắt đồng, cho nên sự biến hóa cũng khác nhau. Thái Dương đạo sĩ tinh thông nhân lý, vua chúng tôi bèn mời ông ta đến để được nghe lời giảng”. Dứt lời thì cửa cung mở toang, thấy bóng mây tụ lại, có một người mặc áo tím, trên tay cầm miếng ngọc xanh. Võ phu hăm hở nói: “Đó là vua của chúng tôi đấy”. Liền tới trước mặt tâu lên. Vua nhìn Nghị và hỏi: “Há chẳng phải là người cõi nhân gian hay sao?”. Nghị đáp: “Đúng vậy”. Chàng liền tới vái chào, nhà vua cũng vái chào đáp lễ, rồi cho ngồi dưới điện Linh Hư. Vua nói với Nghị: “Thủy phủ này âm u và sâu thẳm, quả nhân thì hôn ám bất tài, phu tử lại không quản đường xa ngàn dặm tìm tới đây, chẳng biết vì việc gì?”. Nghị đáp: “Nghị tôi là hương nhân của đại vương, sinh trưởng tại đất Sở, du học bên xứ Tần. Hôm trước lạc đệ, nhàn du ở hữu ngạn Kinh Thủy, gặp ái nữ của đại vương đang thả dê ngoài đồng, làn tóc đẫm phong sương, trông thật không nỡ. Nghị nhân có hỏi thăm, nàng nói với Nghị rằng bởi chồng mình khinh bạc, cha mẹ chồng không thương lấy, cho nên mới tới bước đường này. Nói xong thì nàng khóc nức nở ai oán, khiến người ta phải xót lòng. Nàng lại nhờ Nghị chuyển giúp lá thư. Nghị nhận lời nên hôm nay tìm đến”. Rồi chàng lấy thư dâng lên[2]. Động Đinh Quân xem xong thì lấy tay áo che mặt khóc, nói rằng: “Tội của kẻ làm cha là không hay không biết, thật chẳng khác chi kẻ điếc người mù, để cho khuê nữ thơ yếu bị hãm hại chốn phương xa. Ngài là một người xa lạ mà có thể sốt sắng giúp cho. Lão hủ còn răng tóc, nào dám quên đức ấy?”. Nói xong thì than vãn thống thiết một hồi lâu. Tả hữu ai nấy đều rơi lệ.
Lúc bấy giờ có một gã hoạn quan là người hầu thân cận của nhà vua, vua đưa thư cho hắn, sai mang vào trong cung. Mới đó mà trong cung đã vang dậy tiếng khóc. Vua kinh hãi nói với tả hữu rằng: “Mau báo cho người ở trong cung, bảo họ đừng lên tiếng, kẻo Tiền Đường nghe thấy”. Nghị hỏi: “Tiền Đường là ai vậy?”. Vua đáp: “Đó là tiểu đệ của quả nhân, khi xưa từng làm Tiền Đường trưởng, nhưng nay đã miễn chức rồi”. Nghị hỏi: “Sao không để ông ấy biết?”. Vua đáp: “Nó dũng mãnh hơn người. Xưa kia vua Nghiêu gặp nạn hồng thủy suốt chín năm[3] chính là do cơn giận của nó đấy. Gần đây nó bất mãn với thiên tướng nên lấp nghẽn năm ngọn núi. Thượng Đế niệm tình quả nhân trước giờ cũng có chút công đức nên mới khoan dung cho tội lỗi của người đồng khí, nhưng ngài vẫn giam nó tại đây. Cho nên người Tiền Đường ngày ngày trông ngóng nó”. Vua còn chưa dứt lời thì có âm thanh lớn vang lên, vang đến long trời lở đất, cung điện rung chuyển, mây khói cuộn lên ùn ùn. Bỗng chốc xuất hiện con xích long mình dài hơn ngàn thước, mắt sáng như điện, lưỡi đỏ như máu, vẩy son bờm lửa, trên cổ treo lơ lửng chiếc khóa vàng, khóa buộc vào trụ ngọc. Muôn vàn tia chớp lóe khắp quanh thân nó, tuyết đóng mưa sa nhất thời đều tuôn rơi ào ạt. Nó bổ trời xanh mà bay đi. Nghị giật mình đến ngã bệch ra đất. Nhà vua đích thân đỡ chàng dậy và nói: “Ngài đừng sợ, nó không hại ai đâu”. Một hồi lâu sau Nghị mới trấn tĩnh lại, chàng nhân đó cáo từ: “Xin để tôi sống sót trở về, tránh lúc hắn quay lại”. Vua nói: “Bất tất phải như thế. Nó đi thì như vậy nhưng khi về thì chưa hẳn đã vậy đâu. Hãy để ta dốc cạn chút lòng thành”. Bèn sai nâng ly chuốc rượu nhau, cho khoản đãi mọi người. Phút chốc thì gió tốt mây lành cùng kéo tới, cảnh tượng trở nên thật êm ả yên bình, nghi trượng xuất hiện trong âm thanh vui nhộn, có tiêu thiều theo sau. Thêm vào đó là vô số thiếu nữ xinh đẹp cười nói rất dịu dàng, đi cuối cùng là một cô gái với nét mày ngài tự nhiên, ngọc đeo khắp người, y phục dài ngắn đan xen nhau. Nghị vội nhìn nàng, hóa ra đó là người khi trước đã cậy chàng gửi giúp lá thư, nhưng trông nàng vừa vui lại vừa buồn, dòng lệ cứ ròng ròng tuôn mãi. Lập tức khói đỏ trùm bên tả, khí tím dạt bên hữu, hương thơm ngào ngạt tràn ngập vào trong cung. Nhà vua cười nói với Nghị: “Tù nhân Kinh Thủy đã về rồi”. Bèn cáo từ hói cung. Liền nghe thấy tiếng khóc than ai oán, lâu lắm vẫn chưa thôi. Một lúc sau thì nhà vua quay lại, tiếp tục yến ẩm với Nghị. Lại có một người tới đứng bên trái vua, người này mình mặc áo tím, cầm mảnh ngọc xanh, dung mạo trông xuất chúng và thần khí thì sung mãn. Vua bảo Nghị: “Đây là Tiền Đường vậy”. Nghị đứng dậy và bước tới vái chào. Tiền Đường cũng tận tình đáp lễ, nói rằng: “Điệt nữ bất hạnh bị thằng ranh kia vũ nhục. May nhờ có minh quân tín nghĩa sáng ngời, chuyển giúp nỗi oan khuất phương xa, bằng không thì tiểu nữ đã hóa thành cát bụi nơi Kinh Lăng mắt rồi. Ta cảm đức chịu ơn ngài, thật khó dùng lời lẽ để bày tỏ tấm lòng”. Nghị khiêm tốn tạ từ, cung kính cúi đầu liên tục. Sau đó Tiền Đường lại nói với anh mình: “Vừa nãy đệ xuất phát tại điện Linh Hư lúc giờ Thìn, tới Kinh Dương vào giờ Tỵ, sang giờ Ngọ thì giao chiến ở bên kia, qua giờ Mùi lại trở về. Giữa chừng đệ có bay đến cửu thiên tố cáo lên Thượng Đế. Thượng Đế biết nỗi oan của cháu nên xá tội cho đệ, những lỗi bị khiển trách trước đây cũng nhờ vậy mà được miễn. Có điều đệ nóng nảy lên đường, không kịp từ biệt huynh, lại gây náo động long cung và mạo phạm khách quý. Trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn, không biết bản thân đã sai lầm nhường ấy”. Bèn lạy hai lạy rồi cáo lui. Vua hỏi: “Đệ đã giết bao nhiêu người?”. Đáp: “Sáu mươi vạn”. “Có tàn phá mùa màng không?”. Đáp: “Tám trăm dặm”. “Tên bạc tình đó nay đâu rồi?”. Đáp: “Đệ đã nuốt hắn”. Nhà vua bùi ngùi nói: “Thằng ranh đó có lòng dạ như thế, thật khó bề chấp nhận, nhưng đệ cũng quá sức lỗ mãng. May nhờ Thượng Đế anh minh cảm thông cho oan khuất của tiểu nữ, nếu không thì ta biết ăn nói sao đây. Từ nay trở đi đệ không được làm vậy nữa”. Tiền Đường Quân lại vái lạy hai cái.
Đêm hôm ấy, Nghị nghỉ tại điện Ngưng Quang. Hôm sau, vua lại thiết yến chiêu đãi Nghị ở cung Ngưng Bích, hội họp đủ người thân với bạn bè, lập nhạc đội hoành tráng, rượu ngon và các món sơn hào hải vị đều bày ra la liệt. Lúc đầu thì thổi hồ già, tù hiệu và đánh trống trận, vung cờ xí lẫn gươm kích, một vạn võ sĩ ra múa tại bên hữu. Trong đó có một người bước ra tâu: “Đây là Tiền Đường phá trận nhạc”. Khi ấy cờ xí tung phần phật, trông vó ngựa lao nhanh mà khiến người ta khiếp vía. Quan khách nhìn thấy cảnh tượng đó thì tóc gáy đều dựng đứng cả lên. Lại có tiếng kim thạch tơ trúc, lụa là châu thúy xuất hiện, hàng ngàn cô gái ra múa ở bên tả. Trong đó có một cô bước lại tâu: “Đây là Quý chủ hoàn cung nhạc”. Âm thanh trong trẻo và uyển chuyển, vừa ai oán vừa thiết tha, khách khứa nghe thấy đều bất giác rơi lệ. Hai điệu múa đã kết thúc, Long Quân lấy làm vui lắm, sai mang lụa mịn ban thưởng cho các vũ công. Sau đó thì các bàn tiệc kéo sát lại gần nhau, ai nấy uống say sưa thỏa thích. Khi hơi men đã ngấm lòng, Động Đình Quân bèn vỗ bàn cất tiếng ca:
Trời xanh bao la chừ, đắt rộng mênh mang,
Mỗi người một chí chừ, chẳng thể suy lường.
Thần hồ thánh chuột chừ, nương xã dựa tường,
Lôi đình một trận chừ, ai dám đảm đương?
Cậy trinh nhân chừ, tín nghĩa giương,
Khiến cốt nhục chừ, về cố hương.
Cùng xưng hổ thẹn chừ, nào dám quên?
Động Đình Quân ca xong thì Tiền Đường Quân cũng lạy hai lạy tiếp lời:
Trời cao tác hợp chừ, sống chết duyên tơ,
Tình buông nghĩa dứt chừ, cầm sắt thôi mơ.
Lòng dạ đau xót chừ, Kinh Thủy bên bờ,
Phong sương vướng tóc chừ, thân đẫm tuyết mưa.
Cậy minh công chừ, chuyển giúp thư,
Khiến cả nhà chừ, lại như xưa.
Muôn lời cảm kích chừ, nói sao vừa?
Tiền Đường Quân hát dứt lời thì Động Đình Quân cũng đứng dậy dâng chén rượu mời Nghị. Nghị vội cung kính nhận lấy, uống xong thì dâng hai chén mời lại hai vị vua. chàng cũng cất tiếng ca rằng:
Mây biếc mờ mịt chừ, Kinh Thủy về Đông,
Thương người đẹp chừ, mưa khóc cảm thông.
Xa mang thư đến chừ, cha khỏi ngóng trông,
Oan khiêng rửa sạch chừ, nguyện ước cũng xong.
Tạ ơn vua chừ, chuốc rượu nồng,
Hàn gia hiu quạnh chừ, thấy nhớ mong.
Nay cáo biệt chừ, tiếc trong lòng.
Hát xong, mọi người đều tung hô “Vạn tuế”. Động Đình Quân bèn lấy ra một cái hòm ngọc bích, trong đó cất giữ chiếc sừng tê rẽ nước, Tiền Đường Quân thì lấy ra một cái đĩa phách đỏ, trong đó cất giữ ngọc dạ quang, họ đem hai món ấy tặng cả cho Nghị. Nghị từ chối một hồi lâu rồi cũng đành nhận lấy. Sau đó người trong cung lũ lượt mang lễ vật gồm lụa là, châu ngọc ra đặt bên cạnh Nghị. Lớp lớp sáng rực, thoáng chốc đã ngập kín trước sau. Nghị quay mặt cười nói với bốn bên, ngượng ngùng lo không kịp trao hết lời cảm tạ. Đến khi tiệc tàn và cuộc vui kết thúc, Nghị đứng dậy cáo lui, về nghỉ ở điện Ngưng Quang.
Hôm sau lại bày tiệc chiêu đãi Nghị ở gác Thanh Quang. Tiền Đường nhân uống rượu mà thay đổi sắc mặt, ngồi xoạc chân chữ bát nói với Nghị: “Há chưa từng nghe câu hòn đá có thể vỡ chứ không thể uốn cong, nghĩa sĩ có thể giết chứ không thể vũ nhục? Kẻ ngu muội này có mấy lời thật lòng muốn giãi bày với ân công. Nếu được thì ai nấy đều lên cõi vân tiêu, bằng không thì mọi người phải vùi thân trong đất nhớp, không biết ý túc hạ thế nào?”. Nghị nói: “Xin được lắng nghe”. Tiền Đường nói: “Vợ của Kinh Dương là ái nữ của Động Đình Quân, tính tình hiền thục đoan chính, được cửu nhân quý trọng không may bị kẻ xấu vũ nhục, nhưng giờ thì mọi chuyện xem như ổn thỏa cả. Ta muốn thỉnh cầu bậc cao nghĩa như ngài làm thân thích, để kẻ chịu ơn biết đến nơi trở về, người có lòng biết rõ nơi trao gửi, ấy chẳng phải là đạo thủy chung của người quân tử hay sao?”. Nghị nghiêm nét mặt và cười nhạt đáp rằng: “Thật không biết Tiền Đường Quân lại ngu muội thế này! Lúc đầu Nghị nghe nói ngài vượt khắp cửu châu, ôm trùm Ngũ Nhạc, lại thấy ngài giật đứt khóa vàng, lôi đổ trụ ngọc, gấp rút cứu nguy. Nghị vốn cho rằng hạng cương quyết chính trực chẳng ai hơn được ngài. Với kẻ mạo phạm thì ngài không sợ chết, gặp người đáng thương thì ngài chẳng tham sinh, đó quả nhiên là cái chí của trượng phu. Ngờ đâu tiêu quản vừa cất tiếng, thân khách đang yên lành, ngài lại bất chấp đạo lý mà uy hiếp người ta? Ấy là điều mà kẻ này hằng trông đợi đó ư? Dẫu gặp phải ngài trong sóng cả hoặc giữa kẽ Huyền Sơn[4], bị ngài vung râu vảy gọi mây mưa giết chết, Nghị vẫn cứ xem ngài như cầm thú, nào có hận chi? Nay ngài mặc áo mão và ngồi bàn lễ nghĩa, thấu suốt chỗ chí tính của ngũ thường, chạm đến cái vi diệu của bách hạnh, dù là thánh hiền hào kiệt của nhân gian e cũng còn thua kém, huống chi là loại linh vật chốn giang hà? Thế mà ngài lại ra vẻ dữ tợn, lộ tính hung hãn, mượn rượu nổi giận rồi cưỡng bách người khác, đó có phải là hành vi chính trực đâu? Tuy thân Nghị không đủ nhét khe giáp của đại vương nhưng tôi cũng dám bày tỏ lòng không phục, thắng cái khí chất bất đạo của ngài. Mong đại vương suy xét!”. Tiền Đường Quân do dự rồi đáp tạ: “Quả nhân sinh trưởng giữa cung phòng, chưa được nghe lời chính luận. Ban nãy buông lời lẽ ngông cuồng, mạo phạm bậc cao minh. Giờ lui bước ngẫm lại, quả thật là tội không thể thứ. Mong người quân tử đừng vì thế mà lánh xa!”. Đêm ấy hai người lại hoan ẩm và vui vẻ như trước, Nghị với Tiền Đường Quân còn trở thành bạn tâm giao.
Ngày hôm sau, Nghị từ biệt quay về. Phu nhân của Động Đình Quân lại thiết yến ở điện Tiềm Cảnh, nam nữ bộc thiếp đều cho tới dự tiệc. Phu nhân khóc nói với Nghị: “Cốt nhục chúng tôi chịu ơn sâu của quân tử, chỉ hận chưa thể bày tỏ hết lòng cảm kích mà nay phải ly biệt rồi”. Bèn bảo người vợ cũ của Kinh Dương bước ra bái tạ Nghị. Phu nhân lại nói: “Lần này ly biệt, há còn có lúc tương ngộ chăng?”. Trước đó Nghị vẫn chưa đáp ứng thỉnh cầu của Tiền Đường, nhưng khi đến bữa tiệc này, chàng mới cảm thấy hơi hối tiếc. Tiệc tan thì Nghị cáo từ, khắp trong cung ai nấy đều ủ rũ. Họ biếu tặng chàng các món đồ trân bảo nhiều đến mức không kể xiết. Thế rồi Nghị theo đường cũ đi lên tới bờ sông, thấy ở đó có mười mấy kẻ tùy tùng, họ mang vác hành lý đến tận nhà mới từ biệt. Nghị bèn tới tiệm châu báu ở Quảng Lăng để bán đi một ít, chưa tới một phần trăm nhưng số tiền đã lên tới hàng triệu. Do vậy mà các tộc hào phú tại Hoài Hữu không có ai bằng chàng. Chàng cưới Trương thị nhưng nàng ta mất sớm. Chàng cưới đến Hàn thị, được mấy tháng thì nàng ấy cũng qua đời. Nghị bèn dời nhà đến Kim Lăng. Chàng thường buồn bã vì cô quạnh, muốn tìm kiếm bạn đời. Một người mai mối nói với chàng: “Có cô gái họ Lư, người Phạm Dương. Cha tên là Hạo, từng làm Thanh Lưu tể, cuối đời thì chuộng đạo nên một mình ngao du giữa vân tuyển, nay chẳng biết đã đi đâu? Mẹ nàng tên Trịnh thị. Năm ngoái gả nàng cho họ Trương ở Thanh Hà, không may chàng Trương mất sớm. Bà mẹ thương con mình còn trẻ, tiếc cho tài sắc của nàng nên đang muốn chọn người có đức làm rể. Không biết ý ngài như thế nào?”. Nghị bèn chọn ngày tốt và cử hành hôn lễ. Trai gái hai họ đều thuộc hàng hào tộc, lễ vật bày ra thì phong phú vô cùng. Nhân sĩ Kim Lăng không ai không tỏ lòng ngưỡng mộ.
Ở với nhau hơn một tháng, hôm nọ Nghị về nhà vào ban đêm, chàng nhìn kỹ vợ mình thì cảm thấy nàng rất giống với Long Nữ, nhưng dung nhan kiều diễm ấy thì dường như có phần hơn. Nhân đó chàng kể lại chuyện khi xưa. Người vợ bảo Nghị rằng: “Trên đời há có chuyện như vậy sao? Thôi chàng với thiếp hãy có một đứa con”. Nghị càng thêm quý trọng nàng. Sau khi sinh được một tháng thì nàng thay đổi y phục thật lộng lẫy, mời Nghị vào gian phòng sau bức rèm và cười nói với chồng: “Chàng không còn nhớ thiếp khi xưa ư?”. Nghị đáp: “Hai nhà trước nay chưa từng có quan hệ, ta lấy gì mà nhớ?”. Người vợ nói: “Thiếp chính là con gái Động Đình Quân. Nỗi oan ở Kinh Xuyên may có chàng rửa sạch. Chịu ơn của chàng, thiếp thề phải báo đáp. Quý thúc Tiền Đường bàn luận chuyện thông gia không thành, sau đó thì tình cảnh ngang trái khiến mỗi người một nơi, không thể gặp được nhau. Phụ mẫu muốn gả thiếp cho con trai của Trạc Cẩm, thiếp bèn đóng cửa cắt tóc để tỏ ý chối từ. Tuy quân tử cự tuyệt và không biết ngày gặp lại, song tấm lòng thuở trước thì đến chết vẫn không thay. Phụ mẫu thương cho chí ấy, muốn đến báo cho chàng biết. Nhưng gặp lúc chàng liên tiếp thành thân, trước là cưới họ Trương, sau lại cưới họ Hàn. Đến khi hai nàng Trương, Hàn qua đời cả, chàng chọn đến định cư tại nơi đây, cha mẹ mừng cho thiếp đã có dịp báo ơn. Hôm nay được hầu hạ quân tử, có thể bên nhau đến suốt đời, thiếp dẫu chết cũng không ân hận chi nữa”. Nói xong thì nàng khóc nức nở, lệ châu lã chã tuôn rơi. Nàng lại nói với Nghị: “Trước thiếp không nói bởi biết chàng không có lòng trọng sắc, nay thiếp nói ra vì biết chàng đã có ý yêu mình. Phận gái đen bạc, sợ không thể giữ mãi tình yêu kia, cho nên mới nương nhờ tình cảm chàng thương con để gửi gắm mong ước cùng chung sống. Chưa biết ý chàng như thế nào, lòng thiếp vừa buồn vừa lo mà không cách nào giải tỏa. Hôm ấy nhận thư, chàng cười nói với thiếp rằng: ‘Ngày sau nàng về lại Động Đình, xin chớ tránh mặt ta’. Thiếp quả thật không biết vào lúc đó, chàng có ý tính đến chuyện hôm nay chăng? Tới khi quý phụ ngỏ lời thì chàng lại kiên quyết từ chối. Chàng thật sự cho là không thể chăng, hay chỉ bởi cơn phẫn nộ? Xin chàng cho thiếp biết”. Nghị đáp: “Dường như đó là số mệnh vậy. Khi trước ta gặp nàng ở bên bờ Kinh Dương, trông nàng hàm oan tiều tụy, đúng là cảm thấy bất bình thay cho nàng. Nhưng ta tự kìm lòng, ngoài việc chuyển nỗi oan giúp nàng thì ta không nghĩ gì khác nữa. Nói xin chớ tránh mặt chỉ là ngẫu nhiên thôi, nào có ý chi đâu? Đến lúc Tiền Đường Quân ép ta, ta thấy không hợp đạo lý cho nên mới phẫn nộ. Lúc đầu đã có lòng hiệp nghĩa, há có thể giết chồng rồi cưới vợ người ấy được hay sao? Đó là điều không thể thứ nhất. Huống chi ta vẫn lấy tiết tháo làm chí hướng, sao có thể chịu khuất để theo ý người ta? Đó là điều không thể thứ hai. Hơn nữa đang lúc tỏ bày gan ruột, thù tạc chung vui, ta chỉ biết nói lời ngay, không tính đến tai họa. Song đến ngày tương biệt, thấy dáng vẻ nàng vẫn như trước, lòng ta ân hận vô cùng. Rốt cuộc bị chuyện đời câu thúc, không thể đón nhận tấm chân tình. Chà, hôm nay, Lư thị nàng lại xuất hiện giữa nhân gian, xem như ý định khi xưa cũng chưa phải hão huyền. Từ nay trở đi, ta với nàng sẽ vui vẻ bên nhau, không còn lo gì nữa”. Nàng lại nũng nịu bật khóc, khóc rất lâu vẫn chưa thôi.
Có lần nàng nói với Nghị: “Chàng đừng cho khác loài thì vô tâm, vốn có lòng báo ân cả. Rồng hưởng thọ đến vạn tuổi, từ nay chàng cũng thế. Trên bờ dưới nước chẳng nơi nào không đến được. Chàng chớ nghĩ thiếp nói bừa”. Nghị khen nàng rằng: “Ta không biết là sứ giả lại trở thành thần tiên đấy”. Rồi cùng nhau đến bái kiến Động Đình. Khi tới nơi thì chủ khách bày lễ tiệc rất long trọng; không thể nào tả hết. Sau đó họ định cư Nam Hải; chỉ mới bốn mươi năm, phủ đệ, ngựa xe, thức ăn, phục sức mà họ dùng, dù là bậc công hầu cũng không sao sánh kịp. Thân tộc của Nghị ai cũng được thơm lây. Xuân thu chàng tăng thêm nhưng dung mạo thì không hề suy lão, người ở Nam Hải không ai không lấy làm kinh ngạc.
Từ niên hiệu Khai Nguyên, thượng phương chú ý đến tiên nhân nên sai người đi khắp nơi cầu đạo thuật. Nghị thấy bất an nên cùng vợ quay trở lại Động Đình, hơn mười năm ấy không ai biết được tung tích. Đến cuối thời Khai Nguyên, biểu đệ của Nghị là Tiết Hỗ làm Kinh kỳ lệnh, bị giáng chức xuống Đông Nam. Khi đi qua Động Đình thì giương mắt trông hết vòm trời cao biêng biếc, chợt thấy ngọn sóng vọt ra giữa non xanh. Người trên thuyền đều đứng nép về một bên, họ nói: “Nơi này vốn không có núi, e là thủy quái đấy”. Lúc tay chỉ mắt nhìn thì núi với thuyền đã sáp lại gần nhau, một con thuyền rực rỡ từ ngọn núi lao tới nghênh đón Hỗ. Trong đó có người lên tiếng nói: “Liễu công đang cung kính đợi ngài”. Hỗ chợt nhớ ra, bèn tới dưới chân núi rồi kéo áo chạy nhanh lên. Giữa núi có cung khuyết như ở chốn nhân gian, thấy Nghị đứng giữa cung, phía trước bày tơ trúc, đằng sau phủ thúy châu, đồ dùng phong phú gấp mấy lần cõi người. Lời lẽ của Nghị thì càng thêm huyền diệu, còn dung mạo thì có phần trẻ ra. Vừa chào đón ở bậc thềm, chàng đã cầm tay Hỗ nói: “Xa cách chẳng bao lâu, vậy mà râu tóc đệ đã ngả vàng”. Hỗ cười đáp: “Huynh thành thần tiên, còn đệ hóa xương khô, ấy là mệnh vậy”. Nghị bèn lấy năm mươi viên thuốc tặng cho Hỗ và nói: “Mỗi viên thuốc này có thể kéo dài tuổi thọ thêm một năm. Đủ số năm thì đệ trở lại đây, đừng ở lâu giữa nhân gian để tự mình chịu khổ”. Hoan ẩm xong xuôi, Hỗ từ biệt lên đường. Từ đó về sau, không còn ai nghe tin tức gì nữa. Hỗ thường đem
chuyên ấy kể lại với người đời. Hết bốn kỳ[5] thì Hỗ cũng không biết đã đi đâu.
Lý Triều Uy người Lũng Tây thuật lại mà than rằng: Đứng đầu ngũ trùng[6] ắt phải loài thiêng; nhìn vào đó để phân biệt. Con người là lỏa trùng; lấy chữ tín đối đãi với lân trùng. Động Đình bao dung và chính trực; Tiền Đường nhanh nhạy và lỗi lạc, đáng để kế thừa. Tiết Hỗ ca vịnh mà không chép; để riêng mình kề cận cảnh giới kia. Còn kẻ ngu muội đây thấy đó là việc nghĩa nên viết ra thiên truyện này.
[1] Đời sau dựa theo cốt truyện này để cải biên thành nhiều hý khúc, như thời Nguyên có “Liễu Nghị truyền thư” của Thượng Trọng Hiền, thời Minh có “Long tiểu ký” của Hoàng Duy Tiếp và “Quất phố ký” của Hứa Tự Xương.
[2] Tức chuyện Hạng Vũ đốt cung A Phòng của nhà Tần.
[3] Sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, phần Ngoại kỷ, quyển 1 cũng nhắc đến chuyện này: “Đế Minh lập Đế Nghi làm con nối, cho cai trị phương Bắc, phong vua làm Kinh Dương Vương, cho cai trị phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ. Vua cưới con gái Động Đình Quân tên Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Xét “Đường kỷ”, thời Kinh Dương có phụ nữ chăn dê tự nhận là con gái út của Động Đình Quân, gã cho con thứ của Kinh Xuyên, bị ruồng bỏ, gửi thư cho Liễu Nghị, nhờ tâu với Động Đình Quân. Vậy Kinh Xuyên, Động Đình nhiều đời làm thông gia, đã có từ xưa vậy”.
[4] Thời vua Nghiêu xảy ra nạn hồng thủy, Cổn trị thủy hết chín năm vẫn chưa xong, tới lượt con của Cổn là Vũ mới giải quyết được nạn ấy.
[5] Huyền Sơn là nơi sản sinh ra giống lúa quý gia hỏa trong truyền thuyết.
[6] Một kỷ là mười hai năm.