Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DƯƠNG THÁI CHÂN NGOẠI TRUYỆN (QUYỂN HẠ)

❊ ❊ ❊

Nhạc Sử

Lúc trước, cuối những năm Khai Nguyên, Giang Lăng dâng giống quýt ngọt, vua lấy mười cây trồng ở cung Bồng Lai. Đến mùa thu, tháng Chín năm Thiên Bảo thứ mười thì kết trái. Vua tuyên chiếu ban thưởng cho Tể tướng, nói rằng: “Gần đây, trẫm có trồng mấy gốc quýt trong hoàng cung, mùa thu này, cây đã đơm hơn một trăm năm mươi trái, không kém gì hoa quả của Giang Nam và đất Thục dâng lên, chỉ khác chút ít thôi”. Tể tướng dâng biểu chúc mừng:

Thân trộm nghĩ: những vật do trời đất nuôi dưỡng không thể đổi khác đi tính thường, thứ nào tự cổ chưa từng có, đáng xưng là cảm ứng khác lạ. Thế mới biết thánh nhân ngự vật, lấy nguyên khí để ban bố tường hòa, đạo lớn theo thời, ắt các phương hợp điệu. Và lại giống cam quýt đó, Nam Bắc khác tên, quả thực tạo hóa có phân chia, không phải do âm dương mà ngăn cách. Bệ hạ có phong thái thoát tục, kỷ độ thuần chính, lục hợp một nhà, mưa móc thắm nhuần, tưới trùm khắp vòm thiên. Cây cỏ có tính linh, nhờ địa khí mà lưu thông. Cho nên thứ quả của đất Giang ngoại này mới kết trái trong cung cấm. Cuống non sương ngậm, điện gấm thoảng hương, áo vàng chói sáng, đình son rực rỡ vân vân.

Vua lại ban thưởng cho các đại thần. Ngoài ra còn có quả hợp hoan, vua và Quý phi giữ lại để cùng nhau thưởng ngoạn. Vua nói: “Quả này hình như biết ý người, trẫm với khanh vòn dĩ là một thể, cho nên mới hợp hoan”. Thế là ngồi bên nhau và cùng ăn. Nhân đó sai vẽ lại tranh để lưu truyền hậu thế.

Quý phi sinh ra ở đất Thục, thích ăn quả vải. Vải xứ Nam Hải ngon hơn hẳn ở Thục, cho nên mỗi năm trạm dịch phải phi ngựa dâng lên. Song quả vải gặp trời nóng là chín ngay, qua một đêm thì không còn hương vị, hậu nhân không biết dâng vải như thế nào?

Vua chơi đổ xúc xắc với Quý phi, sắp thua, phải trùng tứ mới chuyển bại thành thắng. Hô liên tục, xúc xắc xoay tròn mà thành ra trùng tứ, bèn sai Cao Lực Sĩ ban sắc đỏ cho mặt tứ, phong tục vẫn giữ nguyên không đổi.

Quảng Nam dâng lên anh vũ trắng, hiểu được tiếng người, gọi là Tuyết y nữ. Một sáng nọ, con anh vũ bay lên đài gương của Quý phi, nói rằng: “Tuyết y nữ đêm qua mơ thấy bị chim chí đuổi bắt”. Vua bảo Quý phi lấy “Đa tâm kinh” dạy nó, đọc đến thuần thục. Về sau, vua với Quý phi đến vui chơi biệt điện, đặt Tuyết y nữ trên tay đòn bộ liễn cho theo cùng. Bỗng đâu có chim ưng bay đến, gắp anh vũ và giết chết. Vua và Quý phi than thở một hồi lâu, bèn sai chôn nó trong ngự uyển, gọi là anh vũ trủng.

Giao Chỉ tiến cống hương long não, hình dạng như ve tằm, tổng cộng năm chục miếng. Người Ba Tư nói trong đốt cây long não già mới có. Cung cầm gọi là thụy long não. Vua ban cho Quý phi mười miếng, Quý phi ngầm sai minh đà sứ (minh đà sứ, dưới bụng có lông mao, đêm có thể phát sáng ngày đi năm mươi dặm) mang

ba miếng thưởng cho An Lộc Sơn, còn cho Lộc Sơn đồ trang sức bằng vàng, hộp ngọc và bát sắt dát vàng.

Năm thứ mười một, Lý Lâm Phủ chết. Vua phong Quốc Trung làm Tể tướng, kiêm hơn bốn mươi sứ vụ. Năm thứ mười hai, lại cho Quốc Trung làm Tư không. Con trưởng là Huyên, trước lấy Diên Hòa quận chúa, phong thêm Ngân thanh Quang lộc Đại phu, Thái thường khanh, kiếm Hộ bộ Thị lang. Con nhỏ tên Phỉ, cưới Vạn Xuân công chúa. Đường đệ của Quý phi là Giám làm Bí thư Thiêu Giám, lấy Thừa Vinh quận chúa. Một nhà một quý phi, hai công chúa, ba quận chúa, ba phu nhân. Năm thứ mười hai, tặng cho Huyền Diễm chức Thái úy, tước Tề Quốc Công, mẹ Quý phi được phong hiệu Lương Quốc phu nhân. Sai quan lập miếu, ngự chế bia đá và văn thư. Thúc phụ của Quý phi là Huyền Khuê được phong chức Công bộ Thượng thư. Con rể Hàn Quốc phu nhân là Bí thư Thiếu giám Thôi Tuần có con gái làm phi của Đại Tông, con trai của Quắc Quốc phu nhân là Bùi Huy lấy con gái Đại Tông là Diên Quang công chúa, con gái thì làm dâu Nhượng Đế[1], con rể của Tần Quốc phu nhân là Liễu Trừng có con trai tên Quân cưới Trường Thanh Huyện chúa, em Trừng tên Đàm cưới Hòa Chính công chúa – con gái của Túc Tông.

Mùa đông, tháng Mười hằng năm, vua lâm hạnh cung Hoa Thanh, thường thì qua đông mới quay về cung khuyết, hễ đi thì lại ngồi cùng xe với Quý phi. Cung Hoa Thanh có lầu Đoan Chính, tức nơi Quý phi đến chải tóc rửa mặt, có suối Liên Hoa, dùng làm buồng tắm cho Quý phi. Quốc Trung được ban cho phủ đệ ở phía Nam cửa Đông cung Hoa Thanh, đối diện nơi ở của Quắc Quốc phu nhân. Phủ của Hàn Quốc phu nhân và Tần Quốc phu nhân cũng kế tiếp ngay đó. Thiên tử ghé thăm thì chắc chắn đi qua hết năm nhà, thưởng cho yến nhạc. Mỗi khi tháp tùng xa giá thì mỗi nhà thành một đội, mỗi đội một màu áo. Năm nhà chia đội cùng sánh bước, như trăm hoa đua nở. Tiền rớt, giày rơi xuống ào ào, trân châu phỉ thúy thì chói lọi trên đường, có thể vốc lấy. Từng có người cúi mình nhìn trộm xe một cái, mùi hương suốt mấy ngày chưa phai. Ngựa có hơn ngàn con, cho nghi trượng cắm cờ tiết Kiếm Nam đi phía trước mở đường. Ra thì bày tiệc đưa tiễn, vào thì dọn yến tẩy trần. Xa gần đua nhau đến biếu tặng đồ trân ngoạn, chó ngựa, thị thần, ca nhi. Tới khi Tần Quốc phu nhân chết trước, chỉ còn lại Quắc Quốc, Hàn Quốc với Quốc Trung, họ ngày càng hưng thịnh. Quắc Quốc phu nhân lại dâm loạn với Quốc Trung, không e dè lễ nghĩa. Mỗi khi vào triều, Quốc Trung với Hàn Quốc phu nhân và Quắc Quốc phu nhân lại nối cương đồng hành, vung roi thúc ngựa, lấy đó làm trò vui. Các nữ tùng quan cưỡi ngựa theo hầu nhiều đến hơn trăm người. Đêm thì thắp đuốc sáng rực, ngày thì mặc áo rực rỡ ra đường, không kiêng sợ ai cả. Đường phố đông nghịt người đứng xem, không ai không thở dài kinh hãi. Hôn sự của chư vương mười nhà đều cậy Hàn, Quắc giới thiệu giùm, mỗi người phải nộp một ngàn quan, nhà vua mới chấp thuận.

Ngày mồng một tháng Sáu năm thứ mười bốn, vua lâm hạnh cung Hoa Thanh, hôm ấy là sinh nhật Quý phi. Vua sai đội nhạc tiểu bộ (tiểu bộ đặt ra theo pháp bộ Lê viên, gồm ba mươi người, đều dưới mười lăm tuổi) tấu khúc mới ở điện Trường Sinh, khúc ấy chưa có tên, vừa khéo Nam Hải mang vải vào tiến cống, bèn gọi là “‘Lệ chi hương”. Tả hữu tung hô, âm thanh vang động núi rừng. Tháng Mười một năm ấy, An Lộc Sơn tạo phản ở U Lăng (Lộc Sơn vốn có tên Yết Lạc Sơn, là người Hồ tạp chủng. Mẹ là một vu sư. Lộc Sơn về già thì càng béo, bụng phệ quá gối, tự cân được ba trăm năm mươi cân, nhưng múa xoay điệu Hồ trước mặt vua thì nhanh nhẹn như gió. Vua từng đặt bức bình phong Đại kim kê trong gian sảnh phía Đông lầu Cấn Chính, bày một chiếc giường lớn, cuốn rèm đi, cho Lộc Sơn ngồi. Phía dưới diễn các loại tạp kịch, vua với Lộc Sơn cùng xem. Túc Tông can rằng: “Trong khắp cổ kim, chưa từng nghe chuyện hạ thần với thánh thượng cùng nhau ngồi xem kịch”. Huyền Tông nói: “Hắn có dị tướng ta muốn giải trừ nên mới vậy”. Vua lại từng mời Lộc Sơn dự dạ yến, Lộc Sơn say nằm đó, hóa thành một con lợn đầu rồng. Tả hữu vội báo ngay, vua nói: “Đó là thứ rồng lợn, không thể làm gì đâu”. Cuối cùng vẫn không giết, để hắn làm loạn Trung Quốc), lấy danh nghĩa diệt Quốc Trung. Quần thần đều nói Quốc Trung, Quắc Quốc với Quý phi là ba kẻ có tội, nhưng không dám tâu vua. Vua muốn để cho Hoàng Thái tử giám quốc, còn tính truyền ngôi để mình ngự giá thân chinh. Khi bàn với Quốc Trung thì Quốc Trung sợ lắm, quay về nói với tỷ muội rằng: “Chúng ta ắt chết trong sớm chiều, nay Đông cung giám quốc, tất đòi mạng các vị nương tử đấy”. Ai nấy khóc lóc kêu than với Quý phi, Quý phi ngậm đất[2] van xin, chuyện kia mới lắng xuống.

Tháng Sáu năm thứ mười lăm, Đồng Quan thất thủ, vua chạy đến Ba Thục, Quý phi cũng đi theo. Tới Mã Ngôi, Hữu Long Vũ Tướng quân Trần Huyền Lễ sự lòng quân rồi loạn, bèn nói với binh sĩ: “Nay thiên hạ phân băng, ngôi cửu ngũ chấn động, há chẳng phải bởi Dương Quốc Trung bóc lột dân chúng, dẫn tới bước đường này hay sao? Nếu không tru diệt hắn thì lấy gì tạ tội với thiên hạ?”. Đều nói: “Chúng tôi mong thế đã lâu rồi”. Gặp lúc sứ Thổ Phồn đang thưa chuyện với Quốc Trung ở trước cửa dịch trạm, quần sĩ hô to: “Dương Quốc Trung cấu kết với người Phiên mưu phản”. Binh lính bèn bao vây bốn mặt dịch trạm, giết Quốc Trung và cả bọn Dương Huyên con trai hắn (Quốc Trung tên cũ là Chiêu, vốn là con của Trương Dịch Chi[3]. Trong những năm Thiên Thụ, Dịch Chi được ân sủng không ai bằng. Mỗi lần về phủ riêng, vua hạ lệnh bắt phải ở lâu cao, còn dẹp bỏ thang đi, rào gai quanh chỗ ở, không cho nữ tỳ nào hầu hạ. Người mẹ sợ họ Trương tuyệt tự, bén giấu nữ tỳ Tân Xu trong vách lầu, do đó mà có thai. Về sau gả cho nhà họ Dương). Vua liền ra cửa dịch trạm ủy lạo lục quân, nhưng lục quân không giải tán. Vua hỏi tả hữu nguyên do, Cao Lực Sĩ đáp: “Quốc Trung có tội nên chư tướng trừ đi. Nhưng Quý phi là em gái Quốc Trung, vẫn đang ở bên cạnh bệ hạ, quần thần sao có thể không lo sợ? Cúi xin bệ hạ suy xét rồi quyết định! (Một bản chép: “Gốc giặc vẫn còn, sao dám giải tán?”, ý trách Quý phi vậy). Vua quay vào dịch trạm, bên cửa trạm có ngõ nhỏ, vua không nỡ về hành cung, bèn gục đầu chống gậy đứng trong ngõ. Lòng vua bối rồi, rất lâu vẫn chưa đi. Tư lục Kinh Triệu là Vi Ngạc (con trai Vi Kiến Tố) vào tâu: “Xin bệ hạ nhẫn nhục quyết đoán, dứt bỏ ân tình để giữ yên nước nhà”. Vua lần lửa mãi rồi mới đến hành cung, vỗ về Quý phi ra cửa sảnh, đến góc tường ở phía Bắc đại lộ thì từ biệt, sai Lực Sĩ ban chết cho Quý phi. Quý phi khóc lóc nghẹn ngào, nói chẳng cạn tình. Nàng thưa: “Mong bệ hạ hãy bảo trọng, thiếp quả thực phụ quốc ân, chết không hối tiếc, chỉ xin để thiếp được lễ Phật”. Vua nói: “Cầu cho phi tử được đầu thai đất lành”. Lực Sĩ liền treo cổ Quý phi dưới gốc lê trước Phật đường. Nàng vừa tắt thở thì quả vải do phương Nam dâng cống lại đưa tới. Vua trông thấy thì gào khóc không thôi, sai Lực Sĩ rằng: “Tế Quý phi cho ta!”. Tế xong lục quân vẫn chưa giải tán. Vua lấy chăn thêu trùm lên giường để giữa sân dịch trạm, truyền bọn Huyền Lễ vào xem. Huyền Lễ nâng đầu Quý phi, biết nàng đã chết, liền nói: “Đúng vậy rồi”. Vòng vây được giải. Đem chôn Quý phi ở dưới trũng phía Bắc đường, ngoài thành Tây chừng một dặm. Năm đó Quý phi ba mươi tám tuổi. Ngồi trên ngựa, vua cầm quả vải nói với Trương Dã Hồ: “Từ đây tới Kiếm Môn, chim hót hoa rơi, non xanh nước biếc, không thứ gì không khiến trẫm nhung nhớ Quý phi cả”. Lúc trước, khi ở cung Hoa Thanh, Huyền Tông cưỡi ngựa ra cửa cung muốn đến nhà Quắc Quốc phu nhân. Huyền Lễ nói: “Chưa tuyên sắc thông báo với bề tôi thì thiên tử không thể khinh suất đi như vậy”. Vua đành quay ngựa. Năm nọ, ở cung Hoa Thanh, vào tiết Thượng Nguyên, vua tính đi chơi đêm, Huyền Lễ lại tâu: “Ngoài cung là đóng không mông quạnh, tất phải chuẩn bị. Nêu muốn đi chơi đêm thì xin về thành khuyết”. Vua lại không thể làm trái lời can gián. Đến lúc giết Quý phi ở Mã Ngôi, đều là do dám nói dám làm vậy. Thuở xưa, thuật sĩ Lý Hà Chu có thơ rằng:

Người chợ Yên cùng đến

Hàm Quan ngựa không về

Nêu gặp quỷ dưới núi

Vòng buộc tại la y.

“Người chợ Yên cùng đến”, Lộc Sơn là nhân sĩ Kế Môn, từ đất Yên kéo đến. “Hàm Quan ngựa không về”, Ca Thư Hàn đã thua trận tại Đồng Quan vậy. “Nếu gặp quỷ dưới núi”, đó là chữ “ngôi”[4], tức dịch trạm Mã Ngôi. “Vòng buộc tại la y”, Quý phi có tiểu tự là Ngọc Hoàn (vòng ngọc), khi chết bị Lực Sĩ dùng khăn la treo cổ. Quý phi lại hay dùng búi tóc giả làm trang sức, còn thích mặc váy vàng. Cuối thời Thiên Bảo, ở kinh sư có lời đồng dao nói rằng: Tóc giả ném dưới sông, tóc vàng trôi theo nước, đến đây xem như ứng nghiệm rồi. Hồi đó, Lộc Sơn thường ứng đối trước mặt vua, nói nhiều lời hài hước. Quý phi ngồi cạnh, khiến Lộc Sơn động lòng, đến lúc nghe tin nàng đã chết tại Mã Ngôi thì than thở tiếc nuối suốt mấy hôm. Tuy nói là bởi Lâm Phủ nuôi dưỡng, do Quốc Trung xúi giục, nhưng âm mưu tạo phản của Lộc Sơn còn xuất phát từ chính bản thân hắn.

Lúc bây giờ, Quắc Quốc phu nhân đã đến quan điếm Trần Thương trước. Tin Quốc Trung bị giết loan truyền tới, Huyện lệnh Tiết Cảnh Tiên dẫn bọn lại đuổi theo. Chạy vào khu rừng trúc, ngỡ quân giặc đuổi bắt, Quắc Quốc phu nhân bèn giết con trai là Huy trước, kế đến giết con gái. Vợ Quốc Trung là Bùi Nhu nói: “Sao nương tử không tiện tay giúp ta luôn?”. Quắc Quốc phu nhân bèn giết cả Bùi Nhu lẫn con gái rồi tự vẫn, nhưng không chết, bị giải về giam trong ngục. Quắc Quốc phu nhân hỏi ngục lại: “Là triều đình ư? Hay là giặc vậy?”. Ngục lại đáp: “Cả hai”. Quắc Quốc phu nhân bị máu ngưng ở cổ họng mà chết, đem chôn dưới gốc dương phía Bắc đường, cách thành Đông hơn mười bước.

Vua rời khỏi Mã Ngôi, đi tới đạo Phù Phong. Bên đường có hoa, cạnh chùa thấy cây thạch nam mọc um tùm, vua rất thích, bèn gọi là cây đoan chính để gửi gắm lòng thương nhớ. Lại đến cửa khẩu Tà Cốc, hơn chục ngày mưa tầm tã, trên sạn đạo, giữa cơn mùa, nghe thấy tiếng chuông cách núi non vang vọng, vua lại nhớ Quý phi, nhân đó chọn âm điệu soạn ra khúc “Vũ lâm linh” ghi lại nổi hận ấy.

Năm Chí Đức thứ hai, triều đình thu hồi được Tây kinh. Tháng Mười một, vua từ Thành Đô trở về, sai tế nàng, sau còn muốn cải táng, song bọn Lý Phụ Quốc không nghe theo. Khi đó, Lễ bộ Thị lang là Lý Quỹ tâu rằng: “Tướng sĩ Long Vũ nghĩ Dương Quốc Trung làm phản, cho nên mới diệt trừ. Nay cải táng Quý phi, e rằng tướng sĩ Long Vũ sẽ nghi hoặc và lo sợ”. Túc Tông bèn dừng việc ấy. Thượng hoàng bí mật sai trung quan dời Quý phi an táng ở nơi khác. Lúc mới chôn cất Quý phi, vua dùng chăn tím bọc thi thể, đến khi di táng thì da thịt đã tan hết, nhưng trước ngực vẫn còn túi gấm hương. Trung quan an táng xong thì dâng lên, Thượng hoàng cất giữ bên mình, lại sai họa sư vẽ hình Quý phi trong biệt điện, sớm tối ngắm nhìn mà than thở. Thượng hoàng đến sống ở phía Nam đại nội, đêm khuya, vua lên lầu Cần Chính, tựa lan can và nhìn về phương Nam, chỉ có sương trăng trước mắt. Vua nhân đó ca rằng:

Vin lấy cây ngọc ngoài sân trước

Chinh thú biên cương mãi chửa về.

Hát xong, vua nghe văng vẳng như thôn xóm có ai đó đang ca, bèn quay sang nói với Cao Lực Sĩ: “Có phải người cũ của Lê viên đó chăng? Đến sáng, ngươi hãy dò hỏi cho ta!”. Ngày hôm sau, Lực Sĩ ngầm tìm kiếm người trong thôn, tìm được rồi thì dẫn về, quả đúng là đệ tử Lê viên vậy. Sau đó, vua ngồi cùng với thị nữ của Quý phi tên Hồng Đào, hát bài “Lương Châu” do Quý phi sáng tác. Vua đích thân thổi sáo ngọc để đệm lời. Hết khúc thì nhìn nhau, ai nấy che mặt mà khóc. Vua cho phổ biến khúc nhạc ấy, đến nay, khúc “Lương Châu” ngày càng được lưu truyền rộng rãi.

Trong những năm Chí Đức, vua lại lâm hạnh cung Hoa Thanh, các quan viên tùy tùng với phi tần đa số không phải là người xưa. Vua ở dưới lầu Vọng Kinh, sai Trương Dã Hồ tấu khúc “Vũ lâm linh”, được nửa khúc thì vua nhìn quanh bốn phía rồi ủ rũ, bất giác rơi lệ, tả hữu cũng lấy làm cảm thương. Tân Phong có nữ linh tên gọi Tạ A Man, giỏi múa khúc “Lăng ba”, thuở trước từng ra vào cung cầm, được Quý phi hậu ái. Hôm ấy, vua sai nàng múa, múa xong, A Man dâng lên chiếc vòng tay ngọc hồng túc, nói rằng: “Thứ này là do Quý phi ban thưởng”. Vua cầm lầy, buồn bã tuôn nước mắt và nói: “Khi xưa, Đại Đế[5] tổ của ta phá Cao Ly, thu được hai bảo vật: một là đai tử kim, hai là vòng hồng ngọc. Lúc Kỳ Vương dâng tặng “Long Trì thiên”, trẫm thưởng cho đai tử kim, còn vòng hồng ngọc thì ban cho Quý phi. Sau này, Cao Ly biết hai món bảo vật ấy đã về với triều ta, bèn tâu lên: ‘Bản quốc vì mất bảo vật nên mưa gió trái mùa, dân lìa, binh yếu’. Trẫm thấy hai món kia chẳng có chi đáng quý, liền sai trả lại đai tử kim, duy chiếc vòng thì không trả. Ngươi có được từ Quý phi, nay trẫm nhìn nó mà càng đau buồn và thương xót”. Nói xong thì nước mắt lại đầm đìa.

Đến năm Càn Nguyên thứ nhất, Hạ Hoài Trí lại tâu lên: “Mùa hè năm xưa, bệ hạ đánh cờ với thân vương, sai thần gảy tỳ bà (cây tỳ bà đó dùng đá làm giá đàn, lấy gân gà làm dây, dùng sắt để gảy), Quý phi đứng trước bàn quan sát. Vua đếm nước cờ sắp thua, Quý phi thả con chó của Khang Quốc vào khiến trận cờ hỗn loạn, vua vui lắm. Khi ấy, gió thổi khăng choàng cổ của Quý phi bay lên khăn của thần, lâu sau, Quý phi quay người thì khăn mới rơi xuống. Lúc thần về, cảm thấy toàn thân đượm hương thơm, bèn cởi khăn đội đầu cất vào trong túi gắm, nay xin dâng chiếc khăn thần vẫn giữ bấy lâu”. Thượng hoàng mở túi và nói: “Đây là mùi hương của thụy long não vậy. Ta từng ướp lên đóa sen ngọc trên hồ ấm, khi trở lại vẫn thấy hương thoang thoảng, huống chi là những thứ mềm mịn như tơ lụa”. Vua buôn bã mãi không thôi.

Từ đó, Huyền Tông canh cánh ở trong lòng, thường ngâm rằng:

Khắc gỗ, quay tơ cỗi tấm thân

Da gà, tóc hạc hệt tiên nhân

Chợt ngưng điệu múa, yên muôn sự

Tựa như một kiếp đã xoay vần.

Có đạo sĩ Dương Thông Ư từ đất Thục đến, biết Thượng hoàng nhung nhớ Dương Quý phi, tự nói mình biết pháp thuật của Lý Thiếu Quân. Thượng hoàng rất vui mừng, sai hiển lộ thần thông. Phương sĩ bèn trổ hết bản lĩnh ra tìm kiếm, nhưng không thấy. Lại cưỡi gió đi mây, hết lên thiên giới thì xuống đến địa phủ để tìm, vẫn không gặp được. Lại tra khắp tứ hư trên dưới, qua cực Đông, vượt biển lớn, băng ngang Bồng Hồ, chợt thấy ngọn núi cao nhất, trên đó nhiều lầu các. Tới nơi, dưới mái Tây có cửa động, hướng về phía Đông, cửa đóng kín, có tấm biển để “Ngọc phi Thái Chân viện”. Phương sĩ rút trâm gõ cửa, có đồng tử hai búi tóc ra đáp lời. Phương sĩ bước lên, chưa kịp nói thì đồng nữ đã đi vào. Thoáng chốc có thị nữ áo xanh đến, hỏi ông từ đâu tới. Phương sĩ tự xưng là sứ giả của thiên tử, đồng thời còn truyền đạt mệnh lệnh. Nàng áo xanh bảo: “Ngọc phi vừa ngủ, xin đợi một chút”. Qua một canh giờ, thị nữ áo xanh ra mời vào và nói: “Ngọc phi đến rồi”. Ngọc phi đội kim liên, khoác áo lụa tím, đeo ngọc đỏ, mang giày phượng, tùy tùng hai bên bảy tám người. Nàng vái chào phương sĩ, hỏi thăm hoàng đế có khỏe không, kế đến là hỏi những chuyện từ sau năm Thiên Bảo thứ mười bốn. Nói xong thì nàng thương xót lắm, bảo thị nữ áo xanh lấy kim thoa, hộp khảm, mỗi thứ chặt một nửa, đưa cho sứ giả và nói: “Thay ta cảm tạ Thái Thượng hoàng, nay kính dâng mấy vật này để tìm lại tình xưa”. Phương sĩ sắp đi, nét mặt lộ ra vẻ chưa thỏa mãn, Ngọc phi bèn hỏi ý ông như thế nào. Phương sĩ liền quỳ xuống tâu lên: “Xin Ngọc phi kể một chuyện lúc sinh thời, điều mà người khác chưa hay biết, để nghiệm chứng với Thái Thượng hoàng. Bằng không thì kim thoa, hộp khảm e cũng chỉ như lời dối trá của Tân Viên Bình mà thôi”. Ngọc phi thẫn thờ lùi lại, như đang nghĩ ngợi gì. Nàng từ từ nói với ông: “Khi xưa, năm Thiên Bảo thứ mười, ta theo hầu xa giá đi nghỉ mát ở cung Ly Sơn. Mùa thu, tháng Bảy, vào đêm Khiên Ngưu với Chức Nữ gặp nhau, vua ngồi tựa vai ta ngắm ánh sao, rồi ngửa mặt nhìn trời, cảm thán cho chuyện Khiên Ngưu, Chức Nữ, chúng ta bí mật thề với nhau rằng: ‘Nguyện đời đời làm phu thê. Nói xong thì nắm tay mà nghẹn ngào trong dạ. Chuyện này chỉ mỗi nhà vua biết”. Nàng lại đau buồn nói: “Do ý niệm ấy, ta chẳng thể ở đây lâu, phải xuống hạ giới kết hậu duyên. Dù trên trời hay nhân thế, nhất quyết phải gặp lại, bên nhau như lúc đầu”. Nàng nói tiếp: “Thái Thượng hoàng ở trần thế cũng không được bao lâu nữa, mong hãy bảo trọng, chớ tự làm khổ mình”. Sứ giả về, tâu hết với Thái Thượng hoàng. Trong lòng Thượng hoàng thấy kinh ngạc mà đau xót. Tới lúc dời vào điện Cam Lộ trong đại nội, vua ngày nào cũng nhớ đến Quý phi. Bèn tịch cốc phục khí[6], Trương Hoàng hậu[7] dâng anh đào và mật mía, thánh hoàng đều không ăn. Vua thường chơi sáo tử ngọc, nhân đó thổi mấy tiếng, có đôi hạc đậu dưới sân, bồi hồi một lúc mới bay đi. Thánh hoàng nói với người hầu Cung Ái rằng: “Ta vâng mệnh Thượng Đế, làm Nguyên thủy Khổng Thăng Chân nhân, lấn này có thể gặp lại Quý phi rồi. Cây sáo này không phải báu vật của ngươi, có thể tặng cho Đại Thu (Đại Thu là tiểu tự của Đại Tông)”. Rồi sai chuẩn bị nước tắm. “Nếu ta đi nằm thì cẩn thận, chớ kinh động đến ta”. Trong lúc vua ngủ, Cung Ái nghe có âm thanh, kinh hãi chạy lại nhìn, thấy vua đã băng rồi. Ngày Quý phi chết, bà lão ở Mã Ngôi nhặt được một chiếc tất gấm. Tương truyền, khách qua đường ai muốn xem thì phải trả trăm tiền, bà lão thu gom tổng cộng được nhiều lắm.

Thương thay! Huyền Tông tại vị lâu ngày, mệt mỏi với trăm việc, thường bị đại thần câu thúc, khó thỏa mãn mong muốn riêng. Từ khi có được Lý Lâm Phủ, ủy thác hết chính sự, cho nên dứt hẳn những lời nói khó nghe, mặc sức yến ẩm hưởng lạc, không phân biệt ngôi thứ, chẳng lấy đó làm sỉ nhục, ấy là nhờ Lâm Phủ giúp nên vậy. Tới lúc phải ngồi xe chạy nạn, đánh mất triều đình, trăm quan nguy khốn, Quý phi bị giết, binh lửa khắp thiên hạ, hung tàn đầy bốn biển, tất cả đều là tai họa do Quốc Trung mang tới.

Sử thần nói: Lễ là thứ định tôn ty, giúp tề gia trị quốc. Vua không ra vua thì lấy gì mà hưởng quốc? Cha không ra cha thì lấy gì tề gia đây? Hễ có một điểm thôi, chưa lần nào chẳng bại vong. Đường Minh Hoàng vì một sai lầm mà để mối thẹn cùng thiên hạ, vậy nên An Lộc Sơn phản loạn, thế gian chỉ tội ba người. Nay viết ra ngoại truyện, không phải nhằm thu nhặt truyện tích Dương Quý phi, cốt yếu muốn ngăn ngừa mầm họa vậy.

[1] Tức Lý Hiến, tên thật là Lý Thành Khí, con trưởng của Đường Duệ Tông. Khi Duệ Tông làm vua lần thứ nhất, ông được phong Thái tử. Đến khi Duệ Tông làm vua lần thứ hai, ông nhường lại ngôi Thái tử cho Lý Long Cơ. Lý Long Cơ kế vị, tức Đường Huyền Tông, do kiêng tôn hiệu của mẹ mình là Chiêu Thành hoàng hậu nên đổi tên Lý Thành. Khi thành Lý Hiến, đồng thời phong tước Ninh Vương. Năm 742, Lý Hiến mất, Huyền Tông ban thụy hiệu Nhượng Hoàng đế.

[2] Một hình thức xin tha tội chết của bề tôi thời xưa.

[3] Anh em Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông là những người tình của Võ Tắc Thiên, cả hai đều tuấn tú và tinh thông âm luật, rất được bà sủng ái, cho nắm giữ chức vụ quan trọng trong triều đình. Năm 705, các đại thần Trương Giản Chi, Thôi Huyền Vĩ phát động “Ngũ vương chính biến”, ép Võ Tắc Thiên thoái vị, Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông bị xử chém, sử sách nói Trương Dịch Chi là cậu của Dương Quốc Trung.

[4] Viết chữ “quỷ’ (鬼) dưới chữ “sơn” (山) thì sẽ thành chữ “ngôi” (嵬).

[5] Tức Đường Cao Tông, thụy hiệu Thiên Hoàng Đại Đế. Năm 666, thủ lĩnh Uyên Cái Tô Văn (Yeon Gaesomun) chết, Cao Câu Ly xảy ra nội loạn. Cao Tông nhân đó đưa quân sang đánh và đến năm 668 thì diệt được Cao Câu Ly.

[6] Tịch cốc phục khí là các phương pháp dưỡng sinh của Đạo gia.Tịch cốc có nghĩa là không ăn ngũ cốc, thuật này đã xuất hiện ngay từ thời Tiên Tần. Đạo gia cho rằng, ăn lương thực ngũ cốc sẽ kết phân trong ruột và sinh ra uế khí, cản trở quá trình thành tiên. Thiên “Tiêu dao du” trong “Nam Hoa kinh” nói: “Không ăn ngũ cốc, chỉ hít gió uống sương, đi mây cưỡi rồng mà chu du ngoài bốn biển”. Thiên “Lưu Hầu thế gia” trong “Sử ký” cũng ghi chép: “Trương Lương hay bệnh, bèn học thuật đạo dẫn, không ăn ngũ cốc, đóng cửa không ra ngoài hơn một năm”.Phục khí là phép hít thở, hấp thu tinh khí của trời đất đưa vào nuôi thân thể. “Dưỡng sinh luận” của Kê Khang nói: “Hít thở thổ nạp, phục khí dưỡng thân, khiến thần hình gần nhau, trong ngoài đều khỏe vậy”.

[7] Vợ của Đường Túc Tông.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.