Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 306 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HOẮC TIỂU NGỌC TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Tưởng Phòng

Trong những năm Đại Lịch, có Lý sinh người Lũng Tây tên Ích, hai mươi tuổi đỗ Tiến sĩ. Năm sau bạt tụy[1], đang đợi thi cử ở thiên quan. Mùa hạ, tháng Sáu, chàng đến Trường An và sống tại Tân Xương lý. Vốn sinh trưởng trong gia tộc hào môn, khi còn trẻ đã bộc lộ tài năng thơ hay từ đẹp, người đương thời đều coi là xuất chúng còn bậc hiển đạt trưởng bối ai nấy cũng rất khâm phục chàng. Sinh thường khoe tài năng và phẩm cách, muốn có được giai ngẫu, chàng đi khắp nơi tìm danh kỹ nhưng mãi vẫn chưa vừa ý. Trường An có bà mối tên Bào Thập nhất nương, từng làm kẻ áo xanh[2] trong nhà Tiết Phò mã, được xóa nợ chuộc thân đã hơn mười năm nay, tính tình thì cơ biến, lại dẻo mồm dẻo miệng, các nhà giàu có hay phủ đệ quốc thích không nơi nào bà chưa từng đi qua, về mảng bày mưu tính kế thì người ta phải tôn bà làm thủ lĩnh. Bà từng nhận hậu lễ và ủy thác của sinh nên cảm kích chàng nhiều lắm.

Qua mấy tháng, họ Lý đang nhàn cư ở Nam Đình. Khoảng giữa giờ Thân với giờ Mùi, chợt nghe tiếng gõ cửa rất gấp, báo rằng Bào Thập nhất nương đến. Chàng vội vén áo ra nghênh tiếp, hỏi rằng: “Bào nương hôm nay tìm đến không biết có việc gì?”. Họ Bào cười nói: “Ngài mơ thấy Tô cô tử[3] hay chưa? Có một nàng tiên bị trích xuống hạ giới, không thiết đến tiền tài, chỉ ái mộ người phong lưu. Nhan sắc như vầy quả thực rất xứng đôi vừa lứa với Thập lang”. Sinh nghe thấy mà mở cờ trong bụng, phấn chấn cả tinh thần, chàng cầm lấy tay Bào nương, vừa bái lạy vừa cảm tạ: “Cả đời làm nô bộc, chết cũng không tiếc”. Nhân đó hỏi nơi ở của nàng. Họ Bào cho hay: “Nàng là con gái của Hoắc Vương, tên Tiểu Ngọc, vương rất yêu quý. Người mẹ tên Tịnh Trì, là tỳ nữ sủng ái của Hoắc Vương. Vương vừa mất, các huynh đệ cho rằng nàng xuất thân thấp kém nên không muốn giữ lại, bèn phân chia tài sản rồi cho ở bên ngoài, nàng đổi sang họ Trịnh, không ai biết là lệnh ái của vương gia. Dung nhan nàng diễm lệ, cả đời mụ chưa

từng thấy lần nào, tình cảm đã cao quý mà thần thái cũng phiêu dật, mọi điểm đều hơn hẳn người thường, âm nhạc thi thư không có môn nào nàng không biết. Hôm trước nàng nhờ mụ tìm giúp đấng lang quân, nhân phẩm và phong cách đều phải thật tương xứng. Mụ đã giới thiệu Thập lang. Nàng ấy cũng biết danh tiếng Lý Thập lang nên ưng ý vô cùng. Nàng sống tại khúc Cổ Tự ở phường Thắng Nghiệp, vừa vào nhìn thấy gian nhà có xa môn là đúng đấy. Mụ cũng đã hẹn sẵn với nàng rồi. Giờ Ngọ ngày mai, ngài chỉ cần tới khúc đó tìm Quế Tử là xong”. Bào Nương đi rồi, sinh bèn tính trước kế hoạch, liền sai gia nhân tên Thu Hồng tới chỗ người anh là Tham quân Kinh Triệu Thượng Công mượn lấy một con ngựa ly xanh và một bộ cương vàng. Đêm ấy, sinh giặt áo tắm gội, chỉnh sửa dung mạo cử chỉ, nhiều cảm xúc đan xen nên suốt đêm không chợp mắt. Trời vừa sáng thì đã vén tóc đội khăn, rồi lấy kính soi lại, sợ có chỗ chưa chỉn chu. Đang lúc loay hoay thì đã tới chính Ngọ. Chàng bèn sai đánh ngựa lao gấp, nhắm thẳng phường Thắng Nghiệp. Đến chỗ hẹn, quả nhiên thấy có đứa áo xanh đứng chờ, nó đón chàng và hỏi: “Có phải Lý Thập lang không?”. Chàng liền xuống ngựa, sai dắt vào trong nhà rồi vội khóa cửa ngay. Lại thấy Bào nương ở trong đó bước ra, từ xa xa cười nói: “Không biết ai đến giờ này?”. Sinh còn chưa cười đáp lại thì đã bị kéo vào trong rồi. Giữa sân có bốn gốc anh đào, phía Tây Bắc treo một chiếc lồng anh vũ, thấy sinh đến thì nó nói: “Có người tới, mau hạ rèm”. Bản tính sinh nhã đạm, trong dạ còn bán tín bán nghi, chợt nghe thấy tiếng chim thì kinh ngạc không dám bước. Chàng còn đang chần chừ thì Bào nương đưa Tịnh Trì xuống bậc thềm chào hỏi, sau đó dẫn chàng vô mời ngồi. Tịnh Trì chừng hơn tứ tuần, dáng vẻ khoan thai yểu điệu, nói cười rất lôi cuốn. Bà bảo sinh rằng: “Vốn đã nghe danh tài hoa phong nhã của Thập lang từ lâu, hôm nay lại được diện kiến dung mạo tuấn tú, quả nhiên danh bất hư truyền. Mụ đây có một đứa con gái, tuy ít ăn học nhưng nhan sắc không đến nỗi xấu xí, nếu sánh duyên với quân tử thì chắc hẳn cũng xứng đôi. Nhiều lần được Bào Thập nhất nương nói cho biết ý định, giờ mụ xin để tiểu nữ được theo hầu hạ ngài”. Sinh đáp tạ nói rằng: “Bỉ nhân ngu muội, đâu có ý trèo cao, nhưng nếu được chọn thì dầu sống hay chết cũng lấy làm vinh dự”. Tịnh Trì liền sai bày tiệc rượu, còn cho gọi Tiểu Ngọc từ khuê phòng ở phía Đông sảnh đường ra chào khách. Sinh liền tới nghênh bái, cảm thấy gian nhà như trở thành quỳnh lâm ngọc thụ đang chiếu sáng lần nhau, khi ánh mắt nàng long lanh liếc nhìn mình. Nàng tới ngôi bên cạnh mẹ. Người mẹ nói: “Thường ngày con thích đọc mấy câu Gió cuộn rèm lay trúc, người xưa ngỡ đến đây[4], đó là thơ của Thập lang đấy. Ngâm cả ngày như thế, chi bằng gặp một lần”. Tiểu Ngọc cúi đầu mỉm cười và nói khẽ: “Gặp mặt đâu bằng nghe danh, đã là tài tử thì dung mạo sao có thể tầm thường?”. Sinh vội đứng dậy thi lễ: “Tiểu nương tử mến tài, còn bỉ nhân thì trọng sắc, hai bên ngưỡng mộ nhau, quả thật là tài sắc vẹn toàn”. Hai mẹ con nhìn nhau mà mỉm cười, chuốc rượu sinh mấy tuần. Sinh đứng lên mời Tiểu Ngọc ca hát. Lúc đầu nàng không chịu, nhưng người mẹ kiên quyết van nài. Giọng hát nàng trong trẻo mà ca khúc cũng tuyệt hay. Tiệc tàn thì trời đã sẩm tối, họ Bào dẫn sinh về Tây viện nghỉ ngơi, phòng ốc rộng rãi còn rèm mạc thì hết sức hoa lệ. Bào nương sai a hoàn Quế Tử và Hoán Sa giúp sinh cởi giày tháo đai. Chưa bao lâu thì Tiểu Ngọc đến, lời nói nghe dịu ngọt còn ngữ khí thì uyển chuyển mê người. Khi nàng trút la y thì càng thêm xinh đẹp, nàng bước vào trong màn và gần kề bên gối, mang đến phút ân ái vui say. Sinh cho rằng Vu Sơn[5] hay Lạc Phố[6] cũng không thể sánh bằng.

Đến nửa đêm thì Tiểu Ngọc chợt tuôn lệ nhìn sinh và nói: “Thiếp vốn là con nhà hát xướng, tự biết không xứng với chàng. Nay lấy nhan sắc để nương cậy nhân hiền, song thiếp lo mai này nhan sắc mình kém đi, ắt nghĩa đổi tình đời, khiến thiếp như nữ la không chỗ dựa, như chiếc quạt bị vứt giữa mùa thu. Đang lúc cuộc vui lên đỉnh điểm, bất giác thiếp cảm thấy ưu buồn”. Sinh nghe vậy thì thở dài thương cảm, bèn đưa tay để Tiểu Ngọc gối đầu, rồi từ từ nói với nàng: “Ý nguyện của đời ta hôm nay được thực hiện, dẫu tan xương nát thịt cũng quyết không bỏ nàng. Sao phu nhân lại nói ra những lời ấy? Xin lấy lụa trắng để ta viết lời thề”. Tiểu Ngọc nuốt nước mắt, sai a hoàn Anh Đào vén màn thắp nến, đưa nghiên bút cho sinh. Những lúc không đánh đàn thì Tiểu Ngọc cũng ưa thích thi thư, nghiên bút trong khuông quỹ đều là di vật của vương gia cả. Nàng mở túi gấm, lấy ba thước lụa trắng Việt cơ có thêu ô bằng chỉ đen đưa cho sinh. Sinh vón đa tài nên hạ bút thành chương, chàng dẫn dụ sông núi, thề thốt trước nhật nguyệt, câu nào câu nấy cũng chân thành khẩn thiết, nghe cảm động lòng người. Viết xong thì sinh bảo Tiểu Ngọc hãy đem cất vào rương báu. Từ đó hai người quấn lấy nhau như phỉ thúy giữa đường mây. Hai năm cứ thế trôi qua, họ sớm tối không rời.

Mùa xuân năm ấy, sinh nhờ thư phán bạt tụy mà đăng khoa, nhậm chức Chủ bạ huyện Trịnh. Đến tháng Tư, lúc sắp đi làm quan thì sinh bái khánh ở Đông Lạc, thân thích tại Trường An phần lớn đều đến dự tiệc đưa tiễn. Lúc bấy giờ, sắc xuân còn chưa nhạt, cảnh hạ mới vươn mình, tiệc tàn thì khách khứa đi hết, nhưng tình cảm ly biệt vẫn bịn rịn trong tim. Tiểu Ngọc nói với sinh: “Với tài năng và danh tiếng của chàng thì rất nhiều người ngưỡng mộ, những kẻ muốn chung đôi chắc chắn cũng rất đông. Huống chi chàng còn có nghiêm thân, trong nhà lại chưa lập chính thất, chàng đi chuyến này nhất định sẽ nên duyên. Câu thề khi trước chỉ như lời nói suông. Nhưng thiếp còn chút tâm nguyện xin được nói ra ngay, mong chàng luôn nhớ lấy, chẳng biết chàng có muốn nghe không?”. Sinh ngạc nhiên nói: “Ta làm gì nên tội mà nàng nói mấy lời này? Nàng có gì thì nói đi, ta sẽ kính cẩn nghe theo”. Tiểu Ngọc nói: “Thiếp vừa đôi chín, chàng mới hai hai, đợi đến khi chàng tráng thất[7] vẫn còn tám năm nữa. Hoan ái một đời xin dùng hết lúc này. Về sau chàng tuyển chọn cao môn để kết duyên Tấn Tần cũng xem như không muộn. Còn thiếp sẽ vứt bỏ chuyện đời, cắt tóc làm ni, nguyện ước hồi xưa đến đây là thỏa mãn”. Sinh vừa hổ thẹn vừa thương cảm, bất giác lệ trào. Chàng bèn nói với Tiểu Ngọc: “Câu thề rực sáng ấy ta quyết giữ cho tới chết. Mong ước trọn kiếp bên nàng còn chưa thỏa, nào dám một dạ hai lòng? Xin nàng đừng ngờ vực, cứ ở yên đợi ta. Tháng Tám này ta sẽ đến Hoa Châu, cho sứ rước nàng về, ngày gặp lại không xa đâu”. Mấy hôm sau, sinh dứt khoát từ biệt, theo hướng Đòng lên đường. Nhậm chức được một tuần thì chàng xin nghỉ phép tới Đông đô thăm nhà. Chàng còn chưa về mà thái phu nhân đã bàn bạc xong với biểu muội Lư thị, hôn ước cũng định rồi. Thái phu nhân xưa nay nghiêm nghị, sinh do dự không dám trái lời bà, bèn thi lễ tạ ơn, còn định ngày trong thời gian gần nhất. Họ Lư cũng là nhà Giáp tộc, hễ gả con gái cho nhà khác thì sính lễ phải lên đến trăm vạn, không đủ số ấy thì theo lý chối từ. Nhà sinh vốn nghèo khó, muốn làm việc này, tất phải vay mượn, bèn viện cớ đi xa nhờ bạn hữu, lội hết Giang, Hoài, từ mùa thu đến mùa hạ. Sinh tự biết mình đã phụ lời thề, để lỡ mất kỳ hẹn, chàng muốn dập tắt hy vọng của Tiểu Ngọc nên dặn hết với bạn bè gần xa không được tiết lộ chuyện.

Từ lúc sinh trễ hẹn thì Tiểu Ngọc cũng mấy lần dò hỏi tin tức, nhưng kẻ bảo thế này, người nói thế kia, chẳng ngày nào nghe giống nhau. Nàng lại tìm khắp các vu sư nhờ chiêm bói, trong lòng vừa lo vừa giận, chồng chất qua năm tháng, Tiểu Ngọc tiều tụy giữa buồng không gối chiếc, lâu dần sinh bệnh. Tuy thư từ với sinh đã chấm dứt nhưng lòng của Tiểu Ngọc vẫn không thay, nàng biếu tặng tiền của cho bạn bè, nhờ họ nghe ngóng giùm tin tức. Mong muốn tìm kiếm thì khẩn thiết nhưng tiền bạc cứ bỏ không, nàng lại thường xuyên bảo thị tỳ lén mang trang sức trong rương ra chợ Tây, gửi cho tiệm của Hầu Cảnh Tiên nhờ bán giúp. Có lần, nàng sai thị tỳ Hoán Sa mang chiếc thoa tử ngọc nhờ Cảnh Tiên bán hộ. Dọc đường gặp phải thợ ngọc già của đại nội, ông nhìn thấy thứ Hoán Sa đang cầm nên chạy lại và nói: “Chiếc thoa này là do lão làm ra đấy. Năm xưa tiểu nữ của Hoắc Vương muốn cài tóc nên sai lão chế tạo, còn thưởng cho vạn tiền. Lão còn nhớ chưa quên. Cô là ai vậy, từ đâu mà có được vật này?”. Hoán Sa đáp: “Tiểu nương tử của tôi chính là con gái Hoắc Vương. Gia sự tan tác, lại thất thân với người ta. Chàng rể ngày trước về Đông đô nhưng giờ thì bặt vô âm tín. Nàng ưu uất sinh bệnh, tới nay đã hai năm rồi. Giờ sai tôi bán thứ này lấy tiền để biếu xén người khác, nhờ họ thăm dò tin tức”. Người thợ ngọc đau buồn, rơi nước mắt và nói: “Nam nữ quý nhân một khi đã sa cơ thất thế thì đều như vậy cả. Lão niên kỷ sắp tận, lại nhìn thấy cơn dâu bể thịnh suy này, không thể nén được đau xót”. Bèn dẫn tới nhà Diên Tiên công chúa kể lại hết mọi chuyện, công chúa cũng thương cảm một hồi lâu, ban cho mười hai vạn tiền.

Lúc bấy giờ, Lư thị – hôn thê của Lý sinh – đang ở tại Trường An, sinh cũng lo xong sính lễ nên quay về huyện Trịnh. Tháng Chạp năm ấy, chàng lại xin nghỉ về thành thăm người thân. Sinh ngầm chọn nơi ở thật yên tĩnh, không để người khác biết. Có Minh kinh Thôi Đoản Minh là biểu đệ của sinh, tính tình rất cung kính đôn hậu, khi xưa từng chung vui với sinh ở Trịnh gia, cùng ăn uống nói cười vô cùng thân thiết. Mỗi lần có thư của sinh thì Thôi đều báo hết cho Tiểu Ngọc. Tiểu Ngọc cũng hay trợ cấp rơm củi, áo quần cho họ Thôi. Thôi cảm kích nàng lắm. Sinh vừa đến thì Thôi cho Tiểu Ngọc biết ngay. Tiểu Ngọc ôm hận than rằng: “Thiên hạ lại có chuyện như vậy ư?”, rồi nàng nhờ bằng hữu khắp nơi giúp mình mời sinh đến. Sinh tự biết mình lỗi hẹn bội ước, lại biết Tiểu Ngọc đã mắc bệnh lâu ngày, chàng hổ thẹn nên nén lòng dứt bỏ, nhất quyết không chịu đến. Chàng sớm đi tối về, có ý muốn tránh mặt. Tiểu Ngọc thì khóc ngày khóc đêm, quên ăn mất ngủ, muốn gặp sinh một lần nhưng không có cơ hội. Oan khuất và mối hận ngày càng sâu, khiến Tiểu Ngọc gần như chẳng thể bước xuống giường. Trường An dần dà cũng có người biết chuyện. Danh sĩ phong lưu ai nấy đều thương cảm sự đa tình của Tiểu Ngọc, các bậc hào hiệp hết thảy đều căm phẫn thói bạc hạnh của Lý sinh.

Khi ấy đã là tháng Ba, người người nô nức du xuân. Sinh và năm sáu người bạn đến chùa Sùng Kính ngắm mẫu đơn, bước qua hành lang phía Tây, họ luân phiên ngâm vịnh mấy câu thơ.

Có Vi Hạ Khanh người Kinh Triệu là bạn thân của sinh cũng đi cùng, nói với sinh rằng: “Phong quang tuyệt đẹp, hoa cỏ xanh tươi. Thương thay họ Trịnh hàm oan nơi phòng trống! Túc hạ dứt áo bỏ rơi nàng, đúng là kẻ nhẫn tâm. Lòng dạ đại trượng phu thì không nên như thế. Mong túc hạ suy nghĩ lại”. Đang lúc than thở trách móc thì chợt có một hào sĩ âm thầm đến lắng nghe, anh ta mặc áo gai màu vàng, tay cầm cung đạn, cả dung mạo lẫn thần thái đều hơn người, y phục gọn gàng đẹp đẽ, dẫn một đứa bé người Hồ tóc ngắn theo sau. Thoáng chốc anh đã tới trước mặt, vái chào sinh và nói: “Ngài chẳng phải là Lý Thập lang đó ư? Gia tộc mỗ vốn ở Sơn Đông, kết thông gia với ngoại thích của ngài. Tuy không có tài văn nhưng xưa nay vẫn yêu mến bậc hiền. Ngưỡng mộ thanh danh ngài đã lâu,

luôn mong mỏi được diện kiến. Hôm nay hạnh hội, xem như đã tận mắt chiêm ngưỡng phong cách phi phàm. Tệ xá của mỗ cách nơi này không xa, cũng có lời ca tiếng nhạc, đủ giúp ngài mua vui. Mỹ nhân có đến tám, chín nàng, tuấn mã nhiều tới mười mấy con, ngài muốn bao nhiêu tùy thích. Chỉ xin ngài ghé đến một lần”. Bè bạn của sinh nghe được những lời này thì tấm tắc khen ngợi, nhân đó dắt ngựa đi theo vị hào sĩ. Lướt qua hết mấy phường thì tới ngay Thắng Nghiệp. Sinh thấy gần chỗ ở của họ Trịnh, tỏ ý không muốn qua, nên mượn cớ thoái thác và cho ngựa quay đầu. Hào sĩ nói: “Tệ xá chỉ còn trong gang tấc, ngài nỡ bỏ đi sao?”. Bèn kéo ngựa của sinh và dẫn đi. Trong lúc dắt ngựa thì họ đã tới Trịnh khúc. Sinh thần sắc hoảng loạn, vung roi tính quay về. Vị hào sĩ liền sai mấy người nô bộc ôm lấy sinh giữ lại, phút chốc đã đưa chàng vào xa môn, đồng thời cho khóa cửa và thông báo: “Lý Thập lang đến rồi”. Cả nhà vừa vui mừng vừa kinh ngạc, tiếng nói vang ra đến bên ngoài.

Trước đó một đêm, Tiểu Ngọc đã nằm mơ thấy có người áo vàng dẫn sinh đến, khi tới bên giường thì bảo nàng cởi hài ra. Tiểu Ngọc giật mình và kể lại cho mẹ biết. Nàng tự giải thích rằng: “Hài tức hài hòa[8], vợ chồng tái ngộ vậy. Cởi tức rời xa. Tái ngộ mà phải rời xa, cũng có nghĩa là vĩnh quyết. Điểm báo này cho thấy mình chắc chắn gặp lại chàng, nhưng sau khi gặp lại thì mình sẽ chết”. Sáng hôm sau, nàng xin mẹ trang điểm chải tóc giúp. Người mẹ cho là nàng mắc bệnh lâu ngày nên thần trí mê loạn, không nghe lời nàng nói. Song nàng cứ ra sức van nài nên bà cũng miễn cưỡng làm theo. Vừa mới trang điểm xong thì quả nhiên sinh tới thật. Tiểu Ngọc lâu nay ốm liệt giường, muốn chuyển mình cũng phải cần người giúp đỡ, nhưng chợt nghe sinh đến thì bỗng dưng tự ngồi dậy, thay áo rồi bước ra, cứ như là thần linh xui khiến. Tiếu Ngọc vừa gặp lại sinh thì ngưng mắt nhìn chàng trong nỗi hận, chẳng nói được lời nào. Khi đó, nàng gầy yếu kiều mỵ, tưởng chừng không đứng nổi, lấy vạt áo che mặt và quay lại trước

sinh. Những người xung quanh đều cảm vật thương người, ai nấy nức nở mãi không thôi. Lập tức có mười mấy đĩa rượu thịt từ bên ngoài đưa tới. Khách khứa lấy làm ngạc nhiên, vội hỏi nguyên do, hóa ra là vị hào sĩ kia mang tặng. Nhân đó mở tiệc chiêu đãi, chủ khách quây quần lại mà ngồi. Tiểu Ngọc xoay người ngoảnh mặt, liếc nhìn sinh một hồi lâu. Sau đó nàng nâng chén mời chàng ta và nói: “Thiếp là phận gái, bạc mệnh như vầy. Chàng là trượng phu, bạc tình như thế. Tóc mây da ngọc đành ôm hận xuống mồ, từ mẫu vẫn còn mà không sao phụng dưỡng. Quản huyền tơ lụa thôi xếp xó từ đây, lẻ bóng hoàng tuyền đều do chàng ban tặng. Lý quân hỡi Lý quân, hôm nay vĩnh biệt chàng. Sau khi thiếp chết, nhất định hóa thân thành ác quỷ, khiến cho thê thiếp chàng suốt kiếp chẳng được yên”. Bèn đưa tay trái nắm lấy cánh tay sinh, ném chén rượu xuống đất, nàng gào khóc mấy tiếng rồi qua đời. Người mẹ nâng thi thể nàng đặt vào lòng sinh, bảo chàng gọi Tiểu Ngọc, nhưng Tiểu Ngọc không bao giờ tỉnh dậy nữa. Sinh vì nàng mặc tang phục, khóc từ sáng đến tối rất đau đớn. Đêm trước khi an táng, sinh chợt nhìn thấy Tiểu Ngọc trong màn trướng đặt linh cữu, dung mạo vẫn xinh đẹp tựa như lúc sinh tiền. Nàng mặc quần màu thạch lựu, khoác áo trùm màu tím, choàng ấp vai hồng lục. Tiểu Ngọc nghiêng người dựa bức màn, tay cầm đai gấm, nàng nhìn sinh và nói: “Thiếp hổ thẹn phải để chàng tống biệt, cho thấy vẫn còn chút dư tình. Thiếp ở cõi u minh biết chuyện, sao có thể không cảm thán?”. Nói xong thì không thấy nàng đâu nữa. Hôm sau, nàng được an táng ở Ngự Túc Nguyên tại Trường An. Sinh đến mộ nàng, dốc hết nỗi thương xót mới chịu về.

Hơn một tháng sau, sinh thành hôn với Lư thị. Chàng thương tình cảm vật, thường u uất không vui. Mùa hạ, tháng Năm, sinh cùng Lư thị quay trở về huyện Trịnh. Đến huyện được một tuần thì sinh mới ngủ với Lư thị, chợt nghe ngoài màn trướng có tiếng kêu gào la hét. Sinh giật mình nhìn kỹ thì thấy một chàng trai khoảng chừng hai mươi tuổi, khuôn mặt và vóc dáng đều đẹp đẽ, ẩn mình bên tấm màn, liên tiếp gọi Lư thị. Sinh bàng hoàng lao tới, chạy quanh hết mấy vòng, nhưng bỗng chốc không còn thấy gì cả. Từ đó sinh nảy ra lòng ngờ vực, nghi kỵ đủ điều, cuộc sống vợ chồng chỉ còn sự vô vị mà thôi. Nhờ thân thích hết lời khuyên nhủ, sinh mới bình tĩnh lại. Một tuần sau, sinh từ bên ngoài trở về nhà, gặp Lư thị đang ngồi đánh đàn trên giường, chợt thấy từ cửa ném tới một chiếc hộp rơi vào lòng Lư thị, hộp này khảm hoa làm bằng sừng tê ngưu lốm đốm, kích cỡ hơn một tấc, bên trong lấy lụa mịn kết đồng tâm. Sinh mở hộp ra xem thì thấy hai hạt đậu đỏ tương tư[9], một con khấu đầu trùng[10], một món phát sát tuy[11], còn có một ít lư câu mị[12]. Khi ấy sinh tức giận la hét, tru tréo như hổ báo sài lang, cắm lấy đàn đánh vợ, bắt khai ra sự thật. Lư thị rốt cuộc vẫn không thể tự biện bạch cho mình. Về sau sinh cũng hay đánh đập vợ như thế, ngược đãi nàng một cách rất thậm tệ, cuối cùng thì thưa kiện với công đình xin bỏ nàng. Lư thị đi rồi, sinh tạm thời ăn nằm với thị tỳ, dắng thiếp, nhưng càng thêm ghen ghét họ, có người còn vì thế mà bị giết. Sinh từng du ngoạn Quảng Lăng, quen biết một danh cơ tên Doanh Thập nhất nương, cả dung nhan lẫn thần thái đều mê hồn, sinh lấy làm thích lắm. Mỗi khi trò chuyện, chàng đều nói với nàng rằng: “Ta từng đến nơi đó, gặp được cô gái đó, cô ta phạm lỗi đó, ta dùng cách đó giết đi”. Ngày ngày chàng nói vậy là muốn nàng ấy sợ mình, nhằm xua tan ý dâm loạn giữa khuê môn. Hễ ra ngoài thì mang bồn tắm úp nàng Doanh trên giường, còn niêm phong bốn mặt, về nhà thì quan sát kỹ lưỡng rồi mới mở. Chàng còn giấu một thanh đoản kiếm vô cùng sắc bén, nói với bọn thị tỳ: “Đây là thép Cát Khê ở Tín Châu, chuyên dùng để chém đầu quân mang tội’’. Nhìn chung, sinh gặp cô gái nào cũng cảm thấy nghi ngờ, chàng cưới đến lần thứ ba mà kết quả vẫn như lượt đầu tiên[13].

[1] Một mục trong chế độ khoa cử thời Đường.

[2] Tức người hầu.

[3] Tô cô tử tức Tô Tiều Tiểu (479 – 502), một ca kỹ nổi tiếng ở Tiền Đường thời Nam Tề.

[4] Nguyên văn:開簾風動竹疑是故人來Khai liêm phong động trúc,Nghi thị cố nhân lai.Đây là hai câu trong bài thơ “Trúc song văn phong ký Miêu Phát, Tư Không Thự” của Lý Ích. Câu trên vốn là 開門復動竹 “Khai môn phục động trúc” (cửa mở lay cành trúc).

[5] “Cao Đường phú” của Tống Ngọc thời Chiến Quốc có câu: “Thiếp ở đỉnh Vu Sơn, cao khâu hiểm trở, sáng làm mây sớm, chiều hóa mưa trời. Sáng sáng chiều chiều ở dưới Dương Đài”, về sau “Vu Sơn” trở thành điển tích chỉ nam nữ ân ái.

[6] Lộc Phổ tức bến Lạc Thủy. Tương truyền nữ thần Lạc Thủy là Mật Phi, thơ văn cổ thường dùng điển tích này để chỉ người đẹp.

[7] Tức ba mươi tuổi. Thiên “Khúc lễ – thượng” trong sách “Lễ ký” nói: “Ba mươi gọi là tráng, có gia thất”.

[8] Chữ “hài” (鞋) nghĩa là “chiếc giày” và chữ “hài” (諧) trong “hài hòa” là hai chữ đồng âm.

[9] Xuất xử từ bài thơ “Tương tư” của Vương Duy thời Đường:Hồng đậu sinh Nam quốc,Xuân lai phát kỷ chi.Nguyện quân đa thái hiệt,Thử vật tối tương tư.(Đậu đỏ vùng Nam quốcXuân sang trổ mấy cànhXin hái nhiều đi nhéTương tư lắm đó anh).Do vậy “đậu đỏ” thường được dùng với nghĩa “tương tư”.

[10] Khấu đầu trùng là một loại côn trùng cánh cứng thuộc họ Bổ củi (Elateridae), thường cúi về phía trước như con người đang cầu nguyện.

[11] Tên một loại xuân dược.

[12] Sách “Vật loại tương cảm chí” nói: “Phàm lừa (lư), ngựa (câu) lúc mới sinh, chưa rơi xuống đất, trong miệng có một vật như khối thịt, gọi là mị, phụ nữ mang vật này có tên là “lư câu mị”.

[13] Lý Ích (khoảng 750 – 830) tự Quân Ngu, người Trịnh Châu, nguyên quán Địch Đạo, Lũng Tây, là một nhà thơ nổi tiếng thời Đường. Sách “Tân Đường thư” nói: “Ích lúc trẻ si cuồng mà đa nghi, canh chừng thê thiếp rất nghiêm khắc, nên người đời mới gọi tính ghen tuông là bệnh Lý Ích”.Thời Minh, Thang Hiển Tổ từng cải biên truyện này thành vở Côn kịch “Tử tiêu ký”, nhưng thay đổi kết cục, đề cho Lý Ích và Hoắc Tiểu Ngọc đoàn viên.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.