Bạch Hành Giản
Khiên Quốc Phu nhân Lý Oa là xướng nữ thành Trường An, có tiết hạnh cao đẹp, đáng để ca ngợi, cho nên Giám sát Ngự sử Bạch Hành Giản viết truyện kể về nàng.
Trong những năm Thiên Bảo, có vị Thứ sử Thường Châu gọi là Huỳnh Dương công, xin giấu tên họ không chép, đương thời ông rất có danh vọng, người nhà cũng rất đông. Đến năm tri mệnh[1] thì con ông cũng khéo vừa nhược quán[2], văn tài kiệt xuất, hơn hẳn muôn người, khiến ai nấy đều kính phục. Người cha cũng yêu quý và coi trọng chàng lắm, nói rằng: “Đây chính là thiên lý mã của nhà ta”. Huỳnh Dương công tử[3] ứng hương phú[4] tham gia thi tú tài. Lúc sắp đi, cha lo liệu y phục, ngựa xe rất đầy đủ, còn tính cả chi phí cần dùng khi chàng đến kinh sư. Người cha nói: “Ta thấy với tài nghệ của con thì một trận là xưng bá. Nay chuẩn bị cho con tiền dùng đủ hai năm, còn dư thêm chút ít để giúp con thỏa chí”. Chàng cũng rất tự phụ, xem như ngôi đầu đã cầm chắc trong tay. Xuất phát từ Bì Lăng, hơn một tháng thì tới được Trường An, sống ở trong Bố Chính.
Công tử từng đi chơi chợ Đông về, vào từ cửa Đông Bình Khang[5], muốn thăm hỏi bạn bè phía Tây Nam. Tới khúc Minh Kha thì nhìn thấy một ngôi nhà, cửa sân không rộng lắm, nhưng phòng ốc rất trang nghiêm. Cửa đóng một cánh, có cô gái áo xanh tựa vai tỳ nữ hai búi tóc đứng tại đó, tư dung rất xinh đẹp, chưa từng thấy trên đời. Chàng vừa gặp thì bất giác dừng ngựa một lúc lâu, bồi hồi không đi tiếp, bèn giả vờ rơi roi ngựa xuống đất, chờ tùy tùng tới nhặt lên, còn mình thì liếc trộm nàng tới mấy lần, nàng cùng chuyển mắt nhìn chăm chú, lộ rõ cảm xúc ái mộ, song chàng vẫn không dám nói câu nào, chỉ lẳng lặng rời đi. Từ đó chàng đâm ra tiếc nuối, liền âm thầm dò hỏi những người bạn thông thuộc đất Trường An. Bạn chàng bảo: “Đó là nhà của kỷ nữ Lý thị”. Chàng hỏi: “Có theo đuổi được không?”. Bạn chàng đáp: “Lý thị giá cao lắm, bọn người qua lại với nàng ấy trước giờ hầu hết là hào tộc, quý thích, ban thưởng rất hậu, không phải mấy trăm vạn thì không thể khiến nàng để mắt đâu”. Chàng nói: “Chỉ lo việc không thành, còn nếu được thì dù tốn cả trăm vạn cũng có gì phải tiếc?”.
Hôm khác, công tử mặc y phục tươm tất, dẫn theo nhiều khách khứa với tùy tùng tới gõ cửa nhà nàng, chốc lát thì có thị nữ ra mở cửa. Chàng hỏi: “Đây là nhà ai vậy?”. Thị nữ không đáp mà chạy đi hô lớn: “Là chàng trai đánh rơi roi lúc trước đấy”. Lý Oa vui lắm, nàng nói: “Ngươi bảo chàng đợi một chút, để ta trang điếm thay áo rồi sẽ ra”. Chàng nghe thấy mà mừng thầm trong dạ, bèn bước tới tiêu tường, thấy một bà lão lưng còng tóc bạc phơ, đó là mẹ của Lý Oa. Chàng liền quỳ lạy và cung kính hỏi: “Nghe nói nơi đây có phòng trống, muốn cho người thuê ở có phải không?”. Bà lão đáp: “Chỉ sợ nơi đây quê mùa và nhỏ hẹp, không xứng với bậc trưởng giả, sao dám nói cho thuê?”. Rồi bà dẫn chàng tới phòng khách, nội thất bày tuyệt đẹp. Hai người ngồi đối diện nhau, bà nói: “Lão thân có một đứa con gái, nó biết chút kỹ nghệ, lại thích gặp khách khứa, xin để nó ra chào ngài”. Bèn cho gọi Lý Oa. Ánh mắt nàng lấp lánh, cánh tay trắng như ngọc, mỗi bước đều uyển chuyển mê hồn, chàng ngạc nhiên đứng dậy, nhưng không dám ngước nhìn. Hai bên chào nhau xong thì hàn huyên mấy câu, vẻ đẹp ấy quả thật chàng chưa bao giờ gặp. Mọi người lại ngồi xuống rồi pha trà châm rượu, mọi đồ dùng đều cực kỳ sạch sẽ. Một hồi lâu sau thì trời đã về chiều, tiếng trống bốn bề vang dội. Bà lão hỏi nơi chàng ở có xa không, chàng nói dối là “bên ngoài Diên Bình Môn mấy dặm”, hy vọng họ thấy xa mà giữ mình lại đây. Bà lão nói: “Trống đánh rồi, ngài nên về mau đi, chớ phạm vào điều cấm”. Chàng nói: “May thay được các vị khoản đãi tiếp chuyện, không biết đã tắt nắng hết ngày, đường về thì xa xôi, mà trong thành lại không người thân thích, tôi biết làm sao đây?”. Lý Oa nói: “Ngài không chê chỗ chúng tôi tầm thường, hơn nữa cũng đang định thuê ở, vậy nghỉ lại một đêm có sao đâu?”. Chàng mấy lần đưa mắt nhìn bà lão, bà nói: “Được, được”. Chàng bèn gọi gia đồng mang hai cuốn lụa đến, nhờ họ chuẩn bị giúp bàn cơm tối. Lý Oa cười mỉm và chối từ, nàng bảo: “Lễ nghi chủ khách không nên làm như thế. Phí dụng đêm nay hàn xá xin lo liệu, mang chút cơm canh đạm bạc ra tiếp ngài. Những chuyện khác thì sau này hẵng tính”. Nàng dứt khoát không nhận lụa. Thoáng chốc đã chuyển đến Tây đường, màn trướng với rèm giường nơi đó trông chói lòa lộng lẫy, hộp trang sức và gối chăn cũng hết sức xa hoa. Bèn thắp đuốc mở tiệc, thức ăn bày la liệt trên bàn. Ăn xong thì người mẹ ra ngoài, để cho chàng và Lý Oa nói chuyện, hai người cười đùa vui vẻ, kể hết mọi thứ trên đời. Công tử nói: “Lúc trước ta tình cờ đi ngang qua nhà nàng, thấy nàng đang tựa đầu bên cánh cửa, sau đó thì đêm ngày mong nhớ, đến ăn ngủ cũng không phút nào quên”. Lý Oa đáp: “Lòng thiếp đây cũng thế”. Chàng nói tiếp: “Hôm nay ta tìm đến, không phải chỉ thuê phòng thôi đâu, ta còn muốn thỏa mãn chí bình sinh, song chẳng biết vận khí như thế nào?”. Chàng chưa nói xong thì bà lão lại đến, bà hỏi nguyên do, chàng thưa hết với bà. Bà cười nói: “Giữa nam với nữ luôn tồn tại sự si mê, nếu đã sinh tình rồi thì lệnh cha mẹ cũng không sao cản được. Tiểu nữ quê mùa, đâu xứng được theo hầu quân tử”. Chàng vội xuống bậc thềm bái lạy, cảm tạ mà thưa rằng: “Nguyện lấy thân làm nô bộc theo hầu hạ”. Bà lão bèn gọi chàng là “lang”, mọi người ăn uống đến thỏa thích mới thôi. Sáng ra, chàng thu dọn hết đồ đạc, tới định cư tại Lý gia. Từ đó chàng giấu tên ẩn mình, không đi lại với bạn bè thân thích nữa, ngày ngày tụ tập với ca kỹ cùng yến ẩm chơi bời. Khi cạn túi thì chàng bán con ngựa, bán luôn đứa gia đồng. Hơn một năm sau, tư trang, tiền bạc, ngựa cưỡi với người hầu, chàng không còn gì hết. Bà lão dần dần lộ rõ ý khinh mạn, nhưng tình cảm của Lý Oa thì ngày càng đậm sâu.
Một ngày nọ, Lý Oa nói với chàng: “Yêu nhau đã một năm nhưng thiếp chưa có mang. Thiếp thường nghe nói vị thần trong rừng trúc rất linh thiêng, nay muốn đến dâng lễ cầu tự, chàng thấy thế nào?”. Công tử không biết kế của nàng nên vui vẻ nhận lời, bèn lấy quần áo đi cầm để chuẩn bị lao lễ, cùng theo nàng tới miếu thần khấn vái, ngủ trọ lại hai đêm mới về. Chàng đánh lừa theo phía sau, tới cửa Bắc thì Lý Oa lại nói: “Từ đây rẽ sang khúc nhỏ ở phía Đông sẽ thấy nhà dì thiếp. Mình tới nhà dì nghỉ ngơi có được không?”. Chàng nghe theo lời nàng, đi tới chưa đầy trăm bước thì quả nhiên bắt gặp một xa môn, liếc mắt nhìn vào, thấy bên trong rất rộng rãi. Thị nữ từ sau xe ngăn lại nói: “Đến rồi”. Chàng xuống xe, vừa khéo cũng có người ra hỏi: “Ai vậy?” Đáp: “Lý Oa đây”. Bèn chạy vào thông báo. Trong chốc lát, một phụ nữ xuất hiện, niên kỷ có lẽ hơn tứ tuần, bà đón chàng và hỏi: “Cháu ta đến phải không?”. Lý Oa bước xuống xe thì bà gặng hỏi nàng: “Sao lâu nay cháu không tới thăm ta?”. Hai dì cháu nhìn nhau cười. Lý Oa dẫn công tử lại bái kiến. Họ cùng nhau vào khoảng sân bên mé Tây cổng chính, ở đó có sơn đình với gốc trúc xanh tươi, còn ao hồ, thủy tạ lại càng thêm u nhã. Chàng hỏi Lý Oa: “Đây là nhà riêng của dì ư?”. Nàng chỉ cười mà không đáp, nói lảng sang chuyện khác. Chẳng mấy chốc thì trà và hoa quả được dâng lên, món nào cũng quý hiếm. Qua thời gian ăn hết một bữa cơm, thấy có người đầy mồ hôi cưỡi ngựa Đại Uyển chạy lại nói: “Cụ nhà bệnh nặng, gần như không tỉnh táo nữa rồi, nàng mau trở về đi”. Lý Oa nói với dì: “Lòng con rối lắm, giờ con cưỡi ngựa đi trước, rồi cho xe tới sau, dì và chàng cùng đến nhé!”. Chàng muốn đi theo, nhưng dì nàng và thị nữ truyền tai nhau mấy lời rồi vẫy tay ngăn lại, bà nói: “Cụ sắp mất rồi, ngài với mụ nên bàn bạc chuyện ma chay để tháo gỡ nguy cấp cho Lý Oa, việc gì mà phải chạy theo nó?”. Chàng dừng chân trước cửa rồi quay vào, lo liệu đồ tang lễ. Nhưng chiều tối vẫn khống thấy xe tới đón. Dì nàng bảo: “Sao không thấy báo tin? Ngài mau về xem thử, mụ cũng đến ngay thôi”. Chàng liền tới nhà nàng, thấy cửa ngõ đóng kín và có dấu niêm phong. Chàng vô cùng kinh hãi, vội hỏi thăm hàng xóm. Người ta bảo: “Họ Lý vốn thuê nhà ở đây, song giờ đã hết hạn nên chủ nhà thu lại. Bà lão cũng dọn đi từ hai hôm nay rồi”. Chàng hỏi dọn đi đâu. Người ta đáp: “Đi đâu không rõ”. Chàng vội chạy về Tuyên Dương hỏi dì nàng, nhưng trời đã tối rồi, chàng biết chắc là không kịp, bèn lấy y phục đổi thức ăn chỗ ngủ. Chàng vô cùng căm phẫn, suốt cả đêm không tài nào chợp mắt, vừa hừng sáng thì vung roi khởi hành. Tới nơi, chàng gõ cửa liên tiếp nhưng không ai đáp lại. Gọi to mấy tiếng thì có một quan viên từ từ bước ra. Chàng hỏi ngay: “Dì đâu rồi?”. Hắn đáp: “Không có”. Chàng hỏi: “Chiều qua còn ở đây, sao giờ lại biến mất?”. Sẵn đó chàng hỏi luôn đây là nhà của ai. Hắn trả lời: “Đây là nhà của Thôi Thượng thư. Hôm qua có người thuê sân này, nói là chờ họ hàng từ xa đến, nhưng chưa tối đã đi rồi”. Công tử hoảng loạn đến phát cuồng, chẳng biết phải làm sao, đành trở về nhà cũ nơi Bố Chính. Chủ nhà thương xót cho ăn uống, nhưng chàng oán hận và phiền muộn nên tuyệt thực ba ngày, đến nỗi lâm trọng bệnh, hơn một tuần thì bệnh càng nặng thêm. Chủ nhà lo chàng không qua khỏi, bèn chuyển cho tiệm vàng mã. Chàng thoi thóp qua ngày, dần dần người trong tiệm cũng động lòng, thay nhau cho chàng ăn. Về sau chàng đỡ ốm, nếu chống gậy thì có thể đi lại được. Tiệm vàng mã sai chàng trông nom rèm linh cữu, giúp chàng có công việc để tự mình kiếm sống. Mấy tháng sau thì chàng dần hồi phục. Mỗi lần nghe thấy những câu hát bi thương, chàng lại tự trách bản thân còn không bằng người chết, rồi nghẹn ngào rơi lệ, chẳng thể tự cầm lòng. Khi về, chàng mô phỏng học theo. Vốn thông minh nhanh nhạy, không bao lâu, khúc ca chàng hát đã tới mức tuyệt diệu, cả Trường An không một kẻ sánh bằng.
Hồi trước, hai tiệm vàng mã ở đây cạnh tranh nhau rất quyết liệt. Tiệm phía Đông thì kiệu xe đều đẹp đẽ, không chỗ nào hơn được, chỉ có phần văn ca là yếu kém. Chủ tiệm biết tiếng chàng, bèn góp đủ hai vạn tiền để thuê. Bậc kỳ cựu trong nghề thử so tài, rồi đem sở học ra dạy lại, họ hướng dẫn làn điệu mới, còn hát đệm cho chàng nữa. Suốt mấy tuần, không ai biết chuyện kia. Hai chủ tiệm nói với nhau: “Chúng ta bày dụng cụ ra phố Thiên Môn để phân định cao thấp, kẻ thua bị phạt năm vạn tiền, dùng để khao rượu thịt, được chứ?”. Hai bên nhận lời, liền cho lập phù khế rồi ký tên đảm bảo, sau đó bày cả lên. Nam phụ lão ấu đều kéo đến, tụ tập mấy vạn người. Thế là Lý tư báo cáo với Tặc tào, rồi Tặc tào đem trình lên Kinh Triệu, kẻ sĩ bốn phương hết thảy đều ùa tới, trong ngõ không còn một bóng người. Hai bên bày biện từ sáng sớm đến giữa trưa, về kiệu xe hay nghi trượng thì tiệm phía Tây đều không thắng. Người chủ thấy mất mặt, bèn cho dựng đài cao ở góc Nam, rồi một gã râu dài ôm chiếc chuông đi tới, có mấy người theo hộ vệ. Thế rồi hắn dựng râu nhướng mày, chống tay ngẩng mặt bước lên, ca vang khúc “Bạch mã”, cậy mình luôn chiến thắng nên liếc khắp hai bên, không coi ai ra gì. Thính giả cũng đồng thanh tán thưởng, cho rằng độc bộ đương thời, không ai đánh bại được. Một lúc sau, chủ tiệm phía Đông cũng lập đài tại góc Bắc, một thiếu niên đội khăn đen, có năm sáu người đi bên cạnh, cầm quạt lông bước lên đài, đó chính là công tử. Chàng chỉnh sửa y phục, động tác rất ung dung, lấy giọng rồi cất cao tiếng hát, không kìm được bi thương trên nét mặt.
Đó chính là khúc “Giới lộ”[6], âm thanh trong trẻo vô cùng, vang vọng khắp rừng cây, khúc ca còn chưa dứt mà người nghe đã thở dài tuôn lệ. Chủ tiệm phía Tây bị công chúng chê cười nên càng thêm hổ thẹn, ngầm sai người mang tiền phạt ra phía trước, còn mình thì lẳng lặng trốn đi. Bốn phía đều ngạc nhiên nhìn chàng, thật không ngờ đến.
Trước đó thiên tử vừa hạ chiếu, lệnh cho quan mục bên ngoài cứ mỗi năm về kinh khuyết một lần, gọi là “nhập kế”. Lúc bấy giờ, khéo thay cha của chàng đang ở tại kinh sư, còn lén cởi triều phục dẫn đồng liêu đi xem hội. Có lão thụ là chồng của nhũ mẫu chàng, nhìn thấy cử chỉ ngôn từ thì lập tức nhận ra ngay, nhưng lão chưa dám nói, chỉ tuôn lệ khóc thầm. Cha chàng ngạc nhiên hỏi, lão đáp: “Dáng vẻ của người đang hát rất giống với vong tử của ngài”. Huỳnh Dương công nói: “Con ta vì mang nhiều tiền của nên mới bị cướp giết hại, sao có thể đến đây?”. Nói xong thì ông cũng bật khóc. Sau khi về, lão thụ âm thầm quay trở lại, dò hỏi bạn bè chàng: “Người vừa hát là ai vậy, sao ca hay đến thế?”. Mọi người đều nói: “Là con trai nhà đó”, nhưng hỏi họ tên thì đã đổi hết rồi. Lão thụ vô cùng hoang mang, từ từ tiến lại gần nhìn cho kỹ. Chàng thấy lão thì biến sắc, vội quay mặt lẩn trốn vào đám đông. Lão nắm tay áo chàng và nói: “Há chẳng phải là công tử hay sao?”. Họ ôm nhau mà khóc, rồi lão dẫn chàng về. Về tới nhà, cha chàng trách: “Phẩm hạnh như thế đúng là ô nhục gia môn, ngươi còn mặt mũi nào để gặp lại ta nữa?”. Rồi lôi chàng tới phía Đông vườn Tây Hạnh tại Khúc Giang, lột y phục, dùng roi ngựa đánh mấy trăm roi. Chàng không chịu nổi nên ngã gục, người cha cũng bỏ mặc mà đi. Thầy của công tử sai đám bạn của chàng ngầm đi theo, khi nghe báo lại thì ai nấy đều đau lòng thương cảm, bèn bảo hai người mang chiếu lau chôn cất chàng. Họ đến nơi thì thấy bụng chàng còn hơi ấm, nhấc lên một lúc thì khí huyết mới lưu thông, họ cùng nhau khiêng chàng về, lấy ống lau bón cho từng thìa nước, qua một đêm thì sống dậy. Hơn một tháng, tay chân chàng vẫn chưa thể cử động, những chỗ bị roi đánh đều thối rữa lở loét, hôi thối vô cùng. Đám bạn cũng đâm ra chán ghét. Một đêm nọ, chúng vứt chàng bên vệ đường. Người qua đường đều thương hại, thường mang cơm thừa đến cho ăn, nhờ vậy mà qua được cơn đói. Mười tuần sau, chàng đã có thể chống gậy đứng lên được. Áo lông chàng mặc nay vá chằng vá đụp, lam lũ như chim cun cút, tay cầm cái chậu vỡ đi khắp các làng mạc thôn xóm, xin ăn sống qua ngày. Thu hết đông sang, đêm thì chàng ngủ trong nhà xí hay hầm đất, còn ban ngày thì lang thang phố chợ.
Một buổi sáng, tuyết rơi dày đặc, Huỳnh Dương công tử bị cái lạnh và cơn đói thúc giục, không quản gió tuyết bước ra ngoài, cất tiếng xin ăn rất thảm thiết, người nào nghe thấy cũng xót lòng. Nhưng bấy giờ tuyết lớn quá, hầu hết các nhà đều đóng chặt. Chàng tới cửa Đông An Ấp, men theo tường về phía Bắc, đi qua bảy tám căn, chỉ duy nhất một ngôi nhà còn mở cánh cửa trái, đó chính là nhà của Lý Oa. Chàng không hề hay biết, vẫn cứ gọi liên hồi, nói mình đói và lạnh lắm, giọng hết sức thê lương, khiến người ta bất nhẫn. Lý Oa trong khuê phòng nghe được, nói với thị nữ rằng: “Chắc chắn là công tử đấy, ta nhận ra giọng chàng”. Nàng vội chạy ra xem, thấy chàng gầy khô đau ốm, không còn ra dáng người. Nàng thương cảm hỏi chàng: “Chẳng phải công tử đó ư?”. Chàng phẫn nộ đến mức ngã gục, miệng không nói được câu nào, chỉ gật đầu mà thôi. Lý Oa chạy tới ôm cổ chàng, dùng áo lụa choàng lấy rồi dẫn đến mái Tây, nàng gào khóc thất thanh: “Nay chàng ra thế này, đều là lỗi của thiếp”. Nàng ngất đi tỉnh lại. Bà lão kinh hãi chạy tới hỏi: “Sao thế?”. Nàng đáp: “Là chàng đấy”. Bà bảo: “Đuổi hắn đi! Sao còn cho hắn đến?”. Nàng thay đổi sắc mặt, nhìn thẳng bà và nói: “Không được! Chàng là con cháu nhà lương thiện, khi xưa ngồi xe cao, mang vàng bạc đến nhà ta, nhưng chưa tới một năm đã tiêu sạch. Chúng ta lại bày ngụy kế, bỏ rơi chàng và đuổi đi, thật không phải hành vi của con người, để cho chàng thất chí, không được đứng giữa nhân luân. Đạo cha con vốn là thiên tính vậy, khiến người cha dứt tình, đánh chết bỏ mặc chàng, lại để chàng khốn quẫn đến bước này, người trong thiên hạ đều biết là do con. Thân thích của chàng đứng khắp cả triều đình, nêu một mai kẻ nắm quyền tra hỏi rõ ngọn ngành thì tai họa sẽ ập đến. Huống chi lừa trời phụ người là việc mà quỷ thần không dung, không nên tự chuốc lấy vạ. Làm con của mẹ đến nay đã hai chục năm ròng, kiếm được đâu phải chỉ ngàn vàng. Bây giờ mẹ đã ngoài sáu mươi, con xin dùng tiền ăn mặc hai mươi năm để chuộc mình, rồi sẽ dẫn chàng đi nơi khác, chỗ đó cũng không xa, sớm tối vẫn có thể đến đây hiếu kính mẹ. Xin để con toại nguyện”. Biết ý nàng đã quyết nên bà đành chấp thuận. Trả cho bà lão xong thì còn dư trăm lượng vàng, nàng liền tới góc phía Bắc cách đó năm căn thuê một khu viện trống. Nàng tắm rửa và thay y phục cho công tử, còn nấu cháo cho chàng ăn lót dạ, sau đó mang bơ sữa tới để nhuận tràng. Hơn một tuần, nàng mới dâng sơn hào hải vị lên. Khăn đầu giày tất, hết thảy đều làm từ vải lụa quý giá. Chưa được mấy tháng thì da dẻ hồng hào, sau một năm thì chàng hồi phục như trước.
Hôm khác, Lý Oa nói với chàng: “Thân thể đã khỏe mạnh, chí khí cũng tràn đấy, chàng tập trung suy nghĩ, nhớ lại học vấn khi xưa, xem thử còn ôn tập được không?”. Chàng nghĩ ngợi rồi nói: “Mười phần thì ta chỉ nhớ khoảng hai ba phần mà thôi”. Nàng gọi xe xuất hành, chàng cưỡi ngựa theo sau. Đến hiệu sách ở cửa mé phía Nam kỳ đình, nàng bảo chàng chọn lựa rồi mua lấy, tốn cả trăm lượng vàng, sau đó chở hết về. Lý Oa khuyên công tử nên gạt bỏ tạp niệm, dốc sức học hành, đêm cũng như ngày, phải cần cù không lười biếng. Nàng hay ngồi bên cạnh để bầu bạn, đến nửa đêm mới đi ngủ. Hễ chàng mệt mỏi thì nàng lại khuyến khích chàng viết phú ngâm thơ. Hai năm sau, gặt hái thành tựu lớn, phàm là thư tịch trong thiên hạ, không có quyển nào chàng chưa xem. Chàng nói với Lý Oa: “Ta có thể ghi tên ứng thí rồi”. Lý Oa đáp: “Chưa đâu, chàng còn phải tinh thông thuần thục hơn, mới bước qua trăm trận”. Thêm một năm nữa, nàng nói: “Chàng đi thi được rồi”. Chàng vừa ứng thí liền đỗ tới Giáp khoa, danh tiêng vang xa đến Lễ bộ. Đọc văn chương của chàng, dù là bậc tiền bối cũng tỏ lòng kính ngưỡng, muốn kết giao bằng hữu nhưng không được. Lý Oa nói: “Vẫn chưa phải lúc. Giờ đây nêu tú sĩ được cất nhắc khoa danh, tự nghĩ mình có thể ngồi vào chức quan cao trong triều, nêu tiếng thơm cho thiên hạ. Khi trước chàng phẩm hạnh tầm thường, hành vi lại thấp kém, không bằng các vị nhàn sĩ kia. Chàng phải trui rèn lợi khí, chiến thắng thêm lần nữa, mới có thể liên hoành đa sĩ, tranh bá với quần anh”. Công tử càng khắc khổ chuyên cần, danh tiếng càng thêm cao. Kỳ khoa cử năm ấy, vua xuống chiếu trưng cầu nhân tài khắp bốn phương, chàng ứng thí khoa trực ngôn cực gián và ghi tên ngôi đầu, nhậm chức Tham quân phủ Thành Đô. Quan lại dưới Tam công đều là bạn chàng cả.
Lúc sắp đi làm quan, Lý Oa nói với công tử rằng: “Nay giúp chàng lấy lại được thân phận, xem như thiếp chẳng phụ chàng. Những năm tháng sau này, xin cho thiếp quay về phụng dưỡng mẹ. Chàng nên kết thân với con gái nhà vọng tộc để trông nom việc bái tế. Với trong ngoài nhân tộc, chàng chớ nên tự hạ thấp chính mình, phải yêu lấy bản thân. Đến lúc thiếp đi rồi”. Chàng nói khóc: “Nếu như nàng bỏ ta thì ta sẽ tự đâm cổ chết”. Lý Oa một mực chối từ, nhưng chàng nài nỉ rất khẩn thiết. Nàng bèn nói: “Thiếp sẽ tiễn chàng qua sông đến Kiếm Môn, khi đó chàng phải để thiếp về”. Chàng chấp nhận. Hơn một tháng thì họ tới Kiếm Môn. Chưa kịp xuất phát thì thư đã gửi đến, cha chàng từ Thường Châu vâng chiếu chỉ vào chầu, nhậm chức Thành Đô doãn kiếm Thái phỏng sứ Kiếm Nam. Sau mười hai ngày thì Huỳnh Đương công cũng đến nơi. Chàng bèn gửi danh thiếp xin yết kiến ở bưu đình. Người cha không dám nhận, nhưng nhìn thấy quan húy của tổ phụ viết trên đó thì vô cùng kinh ngạc, vội cho gọi con đến rồi vỗ lưng chàng mà khóc. Một lúc sau, ông báo: “Ta với con vẫn phụ tử như xưa”. Sẵn đó ông thăm hỏi nguyên do, chàng trình bày hết đầu đuôi câu chuyện. Huỳnh Dương công lấy làm lạ, hỏi Lý Oa giờ ở dâu. Chàng nói: “Nàng tiễn con tới đây thôi, con tính để nàng về”. Người cha bảo: “Không thể được”. Hôm sau, hai cha con đánh xe đi đến Thành Đô trước, giữ Lý Oa lại Kiếm Môn, dựng nhà riêng cho nàng ở. Ngày tiếp theo thì tìm mai mối thông báo đến hai họ, còn chuẩn bị sáu lễ[7] sang nghênh đón, để đôi lứa được nên duyên Tấn Tần. Cưới rồi, hằng năm Lý Oa đều cúng tế chu đáo, nàng trau dồi phụ đạo, trị gia nghiêm chỉnh, rất được người thân quý mến. Sau mấy năm, cha mẹ của công tử đều qua đời, nàng làm tròn đạo hiếu, khiến linh chi xuất hiện giữa ỷ lư[8], ngọn lúa cũng đâm nở ba bông, quan địa phương bèn tâu lên hoàng đế. Lại có mấy chục con én trắng đến làm tổ trên rui mái, vua lấy làm kinh ngạc, ân sủng càng tăng thêm. Khi mãn tang, công tử liên tiếp được thăng quan tiến chức, trong mười năm, chàng cai quản đến mấy quận, Lý Oa cũng được phong làm Khiên Quốc phu nhân. Họ có bốn người con, đều làm quan to cả, chức thấp nhất cũng là Thái Nguyên doãn. Anh em đều kết thân với con cháu Giáp môn, sang hiển trong ngoài, không ai sánh kịp.
Than ôi, con gái nhà hát xướng mà có được tiết hạnh giống như vậy, dù liệt nữ thời xưa cũng chẳng thể nào hơn, sao không đáng được ca ngợi? Bá tổ[9] của ta từng là quan mục Tấn Châu, sau chuyển về Hộ bộ, làm Thủy lục Vận sứ, ba lần nhậm chức đều thế chỗ của Huỳnh Dương công tử, cho nên biết rất rõ chuyện kia. Trong những năm Trinh Nguyên, ta và Lý Công Tá người Lũng Tây có bàn luận về phẩm cách tiết liệt của phụ nữ, nhân đó nhắc lại chuyện Khiên Quốc. Công Tá vỗ tay lắng nghe, còn bảo ta viết truyện. Bèn nâng bút vẫy mực, chép lại để giữ gìn. Khi đó là mùa thu, tháng Tám năm Ất Hợi, Bạch Hành Giản người Thái Nguyên viết.
[1] Hậu thế cũng dựa theo cốt truyện để cải biên thành hý khúc, như thời Nguyên có “Đả ngõa quán” của Cao Văn Tú và “Khúc Giang trì” của Thạch Quân Bào, thời Minh có “Khúc Giang trì” của Chu Hữu Đôn và “Tú nhu ký” của Tiết Cận Cổn. Năm 1959, Franz Walther Kuhn dịch tác phẩm này sang tiếng Đức. Năm 1983, Glen Dudbridge lại dịch sang tiếng Anh.
[2] Tức năm mươi tuổi. Thiên “Vi chính” trong sách “Luận ngữ” chép: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” (năm mươi tuổi thì biết mệnh trời).
[3] Tức khoảng hai mươi tuổi. Thời xưa, con trai hai mươi tuổi thì cử hành “quán lễ”, cho thấy đã trường thành, chưa đủ tuổi thì gọi là “nhược quán”.
[4] Nhân vật này, trong nguyên bản chỉ viết chung chung là “sinh”. Do chàng là con của Huỳnh Dương công nên gọi Huỳnh Dương công tử để cho tiện theo dõi.
[5] “Hương phú” còn gọi là “hương cống”, tức sĩ tử không thi ở học quán mà do châu huyện tiến cử lên ứng thí. Thiên “Tuyển cử chí – thượng” trong sách “Tân Đường thư” nói: “Thể chế khoa cử chọn kẻ sĩ thời Đường phần lớn giống với nhà Tùy… xuất thân từ học quán gọi là sinh đồ, xuất thân từ châu huyện gọi là hương cống”.
[6] Bình Khang là tên một con phố ở kinh đô Trường An thời Đường, nơi ở của kỹ nữ. Về sau, Bình Khang trở thành từ phiếm chỉ xóm yên hoa.
[7] “Giới lộ” là tên một khúc ca thời cổ, ví kiếp người mỏng manh như giọt sương trên lá hẹ, nên thường dùng làm văn ca phúng điếu.Trong sách “Hán thư” có chép lời Lý Lăng nói với Tô Vũ: “Đời người như giọt sương buổi sớm, có được bao lâu, sao tự làm khổ mình như thế?’’.
[8] Sáu lễ trong việc cưới xin bao gồm nạp thái (chạm ngõ), vấn danh (hỏi tên họ), nạp cát (đem lễ vật đến nhà thờ làm lễ), nạp trưng (đem lễ vật cho nhà gái), thỉnh kỳ (định ngày) và thân nghênh (rước dâu).
[9] Tức gian nhà thô sơ dành cho con cái ở trong thời gian để tang cha mẹ.