Thẩm Ký Tế
Nhâm thị là nữ yêu. Có sứ quân họ Vi; tên Dần, thứ chín, cháu ngoại của Tín An Vương Lý Y. Lúc trẻ ăn chơi phóng đãng, thích uống rượu. Em rể bên nhà tùng phụ của Dần họ Trịnh, thứ sáu, tên gì thì không nhớ, tập võ nghệ rất sớm, cũng mê tửu sắc, nghèo túng không nhà, phải ở nhờ chỗ vợ, có giao hảo với Dần, thường rong chơi cùng nhau.
Mùa hạ, tháng Sáu năm Thiên Bảo thứ chín, Dần và họ Trịnh cùng đi trên đường phố Trường An, định đến Tân Xương uống rượu. Tới phía Nam Tuyên Bình thì họ Trịnh có việc cáo từ, xin rời xa một lúc, lát nữa sẽ tới quán uống sau. Dần cưỡi ngựa trắng về hướng Đông. Họ Trịnh cưỡi lừa đi về Nam, vào cửa Bắc Thăng Bình. Tình cờ gặp ba cô gái, cô ở giữa mặc áo trắng, dung nhan tuyệt trần. Họ Trịnh nhìn thấy thì kinh ngạc và vui sướng, bèn vung roi thúc lừa, lúc đi trước, lúc đi sau, muốn trêu chọc nhưng chưa dám. Cô áo trắng hay liếc nhìn, có vẻ như mến rồi. Họ Trịnh nói đùa: “Xinh đẹp như nàng mà phải đi bộ, vì sao vậy?”. Cô áo trắng cười nói: “Có vật cưỡi nên chẳng hiểu giùm cho, không đi bộ thì còn làm gì được?”. Họ Trịnh nói: “Vật cười tầm thường này đâu xứng để giai nhân dùng đến, song nay cũng muốn dâng lên. Còn mỗ sẽ đi bộ theo cùng, thế là thỏa mãn rồi”. Họ nhìn nhau cười lớn. Hai cô gái cùng đi cũng đưa mắt cám dỗ, dần thân thiết với Trịnh. Họ Trịnh theo về phía Đông, đến Lạc Du viên thì trời đã sẩm tối. Thấy một căn nhà, tường xây bằng đất còn cửa thì đủ để xe qua, phong cách uy nghiêm lắm. Cô áo trắng sắp vào, ngoảnh lại nói với Trịnh: “Xin đợi một chút”, rồi nàng vào. Có một tỳ nữ đứng giữa cửa chính và bình phong, hỏi họ và vai vế của Trịnh, Trịnh đáp xong thì hỏi lại. Cô nói: “Họ Nhâm, thứ hai mươi”. Thoáng chốc cũng cho mời Trịnh vào. Trịnh buộc lừa ở cửa và đặt mũ trên yên. Bước vào liền thấy ngay một phụ nữ trên ba mươi tuổi ra đón tiếp, đó là chị của Nhâm thị. Họ châm nến bày tiệc, nâng chén hoan ẩm. Nhâm thị trang điểm bước ra, mọi người cùng uống rất vui, đến đêm khuya mới đi ngủ. Nàng yêu kiều và xinh xắn như vậy, ca hát hay mỉm cười đều trông rất diễm lệ, e là nhân gian không thể có. Trời sắp sáng, Nhâm thị nói: “Chàng về đi. Chị em thiếp đều treo tên giáo phường[1], đứng dưới quyền Nam nha, lúc hừng đông là phải đi, không thể ở lâu được”. Bèn hẹn Trịnh lần sau lại đến. Trịnh đi rồi, tới lý môn thì thấy còn chưa mở. Bên cửa có nhà bán bánh của người Hồ vừa thắp đèn châm bếp. Họ Trịnh ngồi nghỉ dưới rèm đợi trống canh, nhân đó chuyện trò với chủ quán. Trịnh chỉ ngôi nhà mình vừa ở và hỏi: “Từ đây về phía Đông có căn nhà, ai sống trong đó vậy?”. Chủ quán đáp: “Nơi ấy là tường đổ đất hoang, có nhà cửa gì đâu”. Trịnh nói: “Tôi vừa thấy kia mà, sao lại bảo là không có?”. Rồi tranh cãi với chủ quán. Chủ quán chợt hiểu ra và nói: “A! Tôi biết rồi. Ở đó có một con hồ ly, hay dụ dỗ đàn ông tới ngủ chung, tôi từng thấy ba lần rồi. Giờ đến lượt ngài gặp ư?”. Trịnh xấu hổ che giấu: “Không có”. Để chắc chắn, Trịnh qua nơi ấy thêm lần nữa, vẫn thấy tường đất cửa rộng y như trước, nhưng trộm nhìn thì bên trong chỉ toàn cỏ hoang với vườn trống mà thôi. Bèn về gặp Dần. Dần trách Trịnh thất hứa. Trịnh không tiết lộ chuyện mà dùng việc khác để lấp liếm lý do. Nhưng trong lòng Trịnh vẫn mơ tưởng dung nhan ấy, muốn gặp nàng thêm lần nữa, chưa từng bỏ ý định.
Hơn mười ngày sau, họ Trịnh đi chơi, vào hàng áo quần ở chợ Tây thì liếc thấy Nhâm thị, có cả tỳ nữ kia theo cùng. Trịnh bèn gọi lớn, nàng nghiêng mình lẩn vào giữa đám đông. Trịnh gọi mấy lần và đuổi theo, nàng đứng quay lưng lại, dùng chiếc quạt che mặt và nói: “Chàng đã biết rồi thì còn gần gũi thiếp làm chi?”. Trịnh nói: “Biết thì biết, nhưng nàng lo gì chứ?’. Nàng đáp: “Chuyện xấu hổ thế, thiếp còn mặt mũi nào gặp lại chàng”. Trịnh nói: “Ta nhớ nàng như vậy mà nàng nỡ bỏ ta sao?”. Nàng nói: “Thiếp đâu dám bỏ chàng, chỉ sợ chàng chán ghét thôi”. Họ Trịnh liền thề, lời lẽ vô cùng khẩn thiết. Nhâm thị bỏ quạt và ngoảnh đầu, nhan sắc vẫn diễm lệ như trước, nàng bảo Trịnh: “Thế gian không phải chỉ có một trường hợp như thiếp, chàng không biết hết đâu, nên đừng lấy làm lạ”. Họ Trịnh xin nàng hãy vui vẻ với mình. Nàng nói: “Bọn thiếp bị căm ghét chỉ bởi một nguyên nhân, đó là hay hại người. Nhưng thiếp không phải vậy đâu. Nếu chàng không ghét bỏ thì thiếp nguyện suốt đời theo nâng khăn sửa túi”. Họ Trịnh đồng ý cùng chung sống với nàng. Nhâm thị nói: “Từ đây về phía Đông có một chỗ nhô ra khỏi những gốc đại thụ, nơi đó là con hẻm yên tĩnh, thuê ở cũng khả dĩ. Người cưỡi ngựa trắng đi sang Đông từ phía Nam Tuyên Bình hồi trước không phải côn đệ bên nhà vợ của chàng hay sao? Nhà hắn chứa nhiều đồ gia dụng, có thể mượn dùng”. Lúc bấy giờ, chú bác của Dần đang tòng quân ở bốn phương, đồ dùng của tam viện đều chất đầy ra đó. Họ Trịnh theo lời nàng đến xem nhà, lại sang chỗ Dần mượn đồ. Dần hỏi mượn làm gì, Trịnh nói: “Đệ mới cưới được giai nhân, đã thuê chỗ ở rồi, nay mượn đồ tới đó dùng”. Dần cười nói: “Coi bộ dạng của đệ thì nhất định cưới phải loại xấu xí quê mùa chứ giai nhân nỗi gì”. Dần bèn cho mượn giường chiếu chăn màn, rồi sai đứa nô bộc thông minh lanh lợi đi theo dõi. Thoáng chốc đã chạy thục mạng trở về, thở hồng hộc và ướt đẫm mồ hôi. Dán kêu lại hỏi: “Có không?”. Rồi hỏi tiếp: “Dung mạo thế nào?”. Nó đáp: “Kỳ lạ lắm! Khắp thiên hạ chưa từng thấy”. Thân tộc của Dần vốn đông đúc, hơn nữa hay cùng họ rong chơi nên đã thấy qua nhiều giai nhân. Bèn hỏi: “Ai đẹp bằng nàng?”. Nó đáp: “Không so sánh được”. Dần liền kể một lượt ra bốn năm người đẹp, nó đều nói: “Không thể sánh bằng”. Cô con gái thứ sáu của Ngô Vương là em vợ Dần, xinh đẹp như tiên nữ, đứng đầu trong số các chị em. Dần hỏi: “So với con gái thứ sáu của Ngô Vương thì sao?’’. Nó lại nói: “Vẫn không thể sánh”. Dần vỗ tay kinh ngạc bảo: “Trên đời há có người như vậy
chăng?”. Bèn sai múc nước lau cổ, rồi chỉnh sửa khăn áo mà tìm tới. Đến nơi thì họ Trịnh vừa ra ngoài. Dần vào cửa, thấy một đứa nô bộc đang cầm chổi quét tước, một tỳ nữ đứng kế bên, ngoài ra không có ai khác. Hỏi đứa nô bộc thì nó cười bảo: “Không có người này”. Dần nhìn quanh căn nhà, thấy dải quần hồng lộ ra dưới cánh cửa, liền tới gần xem thử, gặp Nhâm thị đang thu người trốn bên trong. Dần dắt ra ngoài sáng nhìn cho kỹ, sợ đứa nô bộc nói quá lời. Dần yêu quá phát cuồng, ôm lấy nàng muốn chiếm đoạt, nàng không chịu. Dần dùng sức cương chế, tới lúc nguy cấp thì nàng nói: “Ta phục rồi, xin nhẹ tay một chút”. Dần vừa buông tha thì nàng lại chống cự như trước, cứ như vậy hết bốn lần. Dần dùng hết sức ôm chặt nàng, còn Nhâm thị thì kiệt sức, vã mổ hôi như tắm. Nàng tự biết không tránh được nên buông xuôi không kháng nữa, nhưng thần sắc trông thê thảm. Dần hỏi: “Sao nàng có vẻ không vui?”. Nhâm thị thở dài nói: “Trịnh lục đáng thương thay!”. Dần hỏi: “Sao lại nói vậy?”. Nàng đáp: “Trịnh sinh thân cao sáu thước mà không thể bảo vệ một phụ nữ, há đáng mặt trượng phu sao? Ngài từ bé đã hào hoa xa xỉ, gặp vô số giai nhân, loại như tôi đối với ngài có thiếu gì. Nhưng Trịnh sinh thì bần cùng nghèo khó, chỉ yêu mỗi tôi thôi. Ngài nhẫn tâm đoạt lấy thứ ngài thừa từ người đang thiếu ư? Thương thay Trịnh sinh đói rét, không thể tự lập, phải mặc áo của ngài, ăn cơm của ngài, cho nên mới bị ngài ràng buộc. Ví phỏng tự kiếm được cơm hẩm cháo hoa thì đâu đến nước này”. Dần hào sảng có nghĩa khí, khi nghe được lời ấy thì buông tay, thu vạt áo tạ lỗi: “Không dám”. Chốc lát Trịnh sinh về, gặp Dần thì cười vui.
Từ đó trở đi, phàm củi lửa gạo thịt cho Nhâm thị đều do Dần cung cấp. Nhâm thị ra ngoài thì có xe, ngựa, kiệu, thỉnh thoảng cũng đi bộ, không có nơi đến cố định. Dần ngày ngày dạo chơi với nàng rất vui vẻ. Mỗi lần như vậy đều gần gũi thân thiết, chỉ có không dâm loạn mà thôi. Bởi thế Dần càng yêu nàng sâu đậm, không tiếc thứ gì, có đồ ăn thức uống chưa bao giờ quên nàng. Nhâm thị biết Dần yêu mình nên cảm tạ nói rằng: “Thiếp rất hổ thẹn trước sự ưu ái kia. Nhìn lại cảm thấy mình quê mùa, đâu đáng để đáp đến hậu ý, hơn nữa cũng không dám phụ Trịnh sinh, cho nên chẳng thể cùng ngài vui thỏa thích. Thiếp là người đất Tần, lớn lên ở Tần Thành, gia đình vốn theo nghiệp Linh Luân[2], thân thích nội ngoại phần nhiều làm ái thiếp nhà người, vậy nên mọi ngõ hẻm ở Trường An thiếp đều nắm rõ cả. Nếu có cô nào xinh đẹp, ngài yêu thích nhưng không thể có được thì thiếp sẽ giúp cho. Nguyện lấy đó để báo lại đức này”. Dần nói: “Được vậy thì may lắm”. Trong chợ có người phụ nữ bán áo tên Trương Thập ngũ nương, da dẻ trắng hồng, Dần từng yêu mến. Nhân đó hỏi Nhâm thị xem có quen biết nàng ta không. Nhâm thị đáp: “Đó là em họ của thiếp đấy, nếu ngài muốn thì dễ thôi”. Hơn một tuần sau, quả nhiên nàng ta tới, song chừng mấy tháng thì Dần chán chê rồi bỏ. Nhâm thị nói: “Người ở phố chợ dễ kiếm, không đủ để tỏ bày thành ý. Nếu ngài thích cô nào mà xa xôi cách trở, khó lòng có được thì xin nói thử thiếp nghe. Thiếp nguyện vì ngài mà dốc hết trí lực”. Dần nói: “Hôm qua là Tết Hàn thực[3], ta cùng hai ba người bạn đi chơi chùa Thiên Phúc. Thấy tướng quân Điêu Miễn bày nhạc ở điện đường. Trong đó có cô gái giỏi thổi sênh, tuổi vừa đôi tám, tết hai bím tóc rủ xuống tai, dáng vẻ xinh tươi kiều diễm. Nàng có quen không?”. Nhâm thị nói: “Nó là đứa tỳ nữ được sủng ái. Mẹ nó là chị họ của thiếp, nếu muốn thì được thôi”. Dần liền bái tạ nàng. Nhâm thị nhận lời rồi thì thường ra vào Điêu gia. Hơn một tháng, Dần hối thúc nàng tính kế. Nhâm thị xin hai cuốn lụa để làm của hối lộ. Dần y lời đưa cho. Hai ngày sau, Nhâm thị và Dấn đang ăn cơm thì Điêu Miễn phái nô bộc dắt ngựa ô tới rước nàng. Nhâm thị nghe hắn gọi thì cười nói: “Xong rồi”. Ban đầu, Nhâm thị khiến cho cô tỳ nữ kia mắc bệnh, châm cứu hay uống thuốc đều không đỡ. Mẹ cô và Miễn lo lắng lắm, định cho mời thầy pháp. Nhâm thị bèn bí mật hối lộ thầy pháp, dặn y chỉ tới chỗ mình, bảo đến đây thì được cát. Lúc xem bệnh, thầy pháp nói: “Tại gia thì không lợi, nên dời đến Đông Nam mà sống, để giữ lấy sinh khí”. Miễn và mẹ cô xem xét kỹ nơi ấy, hóa ra là nhà của Nhâm thị. Miễn liền xin vào ở. Nhâm thị vờ từ chối nói nhà mình nhỏ hẹp, đợi năn nỉ lắm mới đồng ý. Miễn chở ngay quần áo, đồ dùng và đưa mẹ con cô tỳ nữ sang nhà Nhâm thị. Tới nơi thì khỏi bệnh. Chưa được mấy hôm, Nhâm thị bí mật dẫn Vi Dần đến tư thông, sau một tháng thì có thai. Mẹ cô lo sợ nên dẫn về chỗ Miễn, bởi vậy mà cắt đứt.
Một ngày nọ, Nhâm thị nói với họ Trịnh: “Chàng có thể gom được năm sáu ngàn tiền không? Thiếp kiếm lãi cho”. Trịnh nói: “Được”. Bèn vay mượn người ta, được sáu ngàn tiền. Nhâm thị nói: “Ngoài chợ có kẻ bán ngựa, đùi ngựa có chút tật, chàng mua lấy về nuôi”. Trịnh ra đến chợ, quả nhiên thấy một anh dắt ngựa rao bán, ngựa có tật bên đùi trái. Trịnh mua về. Đám em vợ cười chê Trịnh, họ nói: “Thứ bỏ đi như vậy mua làm gì?”. Không lâu sau, Nhâm thị nói: “Ngựa bán được rồi, phải bán giá ba vạn”. Trịnh bèn đem bán. Có người trả hai vạn, Trịnh không bán. Cả chợ đều bảo nhau: “Người kia việc gì mà mua cao đến vậy, còn tên này thì tiếc chi mà không bán?”. Trịnh cưỡi ngựa về nhà, người mua cùng theo đến tận cửa, nhiều lần nâng giá, lên tới hai vạn năm ngàn tiền. Song Trịnh vẫn không chịu, nói rằng: “Không đủ ba vạn thì không bán”. Lũ em vợ tụ lại mắng nhiếc chàng. Trịnh không chịu nổi nên bán đi, rốt cuộc không kiếm được ba vạn. Chàng bí mật theo dõi người kia thì vỡ lẽ nguyên do. Ra là huyện Chiêu ứng có nuôi con ngự mã bị tật ở đùi, chết đã ba năm, viên lại không kịp thời gạch sổ. Quan cho ước tính, kết toán sáu vạn tiền. Nếu mua bằng nửa giá thì vẫn còn lời to. Một khi ngựa đủ số thì phí thóc nuôi ngựa trong ba năm đều do quan lại hưởng huống chi bỏ ra ít như vậy, do đó họ mới mua.
Nhâm thị thấy áo quần đã cũ nên tìm Vi Dần xin y phục. Dần định mua lụa rực rỡ tặng cho nàng. Nhâm thị không muốn vậy, nàng nói: “Mua thứ có sẵn là được rồi”. Dần gọi Trương Đại là dân kẻ chợ đi mua, bảo hẳn tới gặp Nhâm thị, hỏi nàng thích loại nào. Trương Đại gặp nàng thì ngạc nhiên nói với Dần: “Đây chắc chắn là thiên nhân quý thích bị ngài bắt cóc về, nhân gian không thể có người như thế, ngài mau trả lại đi, kẻo mang họa đấy”. Dung mạo của nàng kinh động lòng người đến vậy đó. Cuối cùng vẫn mua đồ có sẵn chứ không tự cắt may, Dần không hiểu được ý nàng.
Hơn một năm sau, họ Trịnh được điều động võ quan, nhậm chức Quả nghị úy phủ Hòe Lý tại huyện Kim Thành. Bấy giờ Trịnh vừa lập gia thất, tuy ngày đi lại bên ngoài nhưng tối đến về nhà ngủ, thường tiếc vì không thể ở trọn đêm. Lúc sắp đi làm quan thì năn nỉ vợ theo cùng. Nhâm thị không muốn đi, nàng nói: “Đồng hành một tuần hay trọn tháng không thể xem là vui vẻ. Xin chàng lo tốt chuyện cơm áo, còn thiếp sẽ ở yên đợi chàng về”. Trịnh càng năn nỉ thì Nhâm thị càng không chịu. Trịnh bèn nhờ Dần nói giúp. Dần khuyên nàng hết mấy lượt, còn gặng hỏi nguyên do. Hồi lâu nàng mới nói: “Thầy bói bảo năm nay thiếp không nên về hướng Tây, cho nên chẳng muốn đi”. Trịnh nghi ngờ lắm, không nghĩ chuyện gì khác, cười nói với Dần: “Thông minh như nàng sao lại bị yêu ngôn mê hoặc?”. Rồi vẫn năn nỉ nàng cùng đi. Nhâm thị nói: “Ngộ nhỡ lời thầy bói ứng nghiệm, kéo cả chàng chết chung, thế được ích lợi gì?”. Trịnh với Dần đều nói: “Há có chuyện đó ư?”. Họ vẫn cố nài như lúc đầu. Nhâm thị bất đắc dĩ đành đi theo. Dẩn cho mượn ngựa, đưa tiễn tới Lâm Cao thì vẫy áo chia tay. Nghỉ trọ hai đêm thì đến Mã Ngôi. Nhâm thị cưỡi ngựa đi trước, Trịnh cưỡi lừa đi sau, sau nữa là tỳ nữ và biệt giá. Lúc ấy người nuôi ngựa của Tây môn đang huấn luyện chó săn ở Lạc Xuyên, được một tuần rồi. Họ vừa đi ngang thì có con chó xanh nhảy ra khỏi bụi cỏ. Trịnh thấy Nhâm thị thình lình ngã xuống đất, hiện nguyên hình và lao vọt về phía Nam. Con chó xanh truy đuổi. Trịnh chạy theo hò hét nhưng không cản được. Chạy hơn một dặm thì Nhâm thị bị chó bắt. Trịnh nuốt lệ dốc tiền trong túi ra, chuộc nàng về an táng, còn đẽo gỗ làm bia. Quay lại thấy con ngựa đang gặm cỏ bên vệ đường, y phục còn để lại trên yên, giày tất vẫn treo trên bàn đạp; cứ nghe ve thoát xác. Duy có trang sức trên đầu thì rơi xuống đất, ngoài ra không có gì khác nữa. Bọn tỳ nữ cũng mất tăm.
Hơn một tuần sau, họ Trịnh trở về thành. Dần gặp chàng thì vui mừng chặn hỏi: “Nàng Nhâm có khỏe không?”. Trịnh rưng rưng nước mắt đáp: “Nàng mất rồi”. Dần nghe thấy cũng sừng sờ, họ dẫn nhau vào nhà, cả hai đều đau thương cực độ. Rồi từ từ hỏi nguyên nhân cái chết, Trịnh nói: “Bị chó giết hại”. Dần nói: “Chó tuy hung dữ nhưng đâu thể hại chết người”. Trịnh nói: “Nàng ấy không phải người”. Dần giật mình hỏi: “Không phải người thì là gì?”. Trịnh bèn thuật lại đầu đuôi. Dần kinh ngạc than thở mãi. Ngày hôm sau, sai đóng ngựa cùng đi với họ Trịnh tới Mã Ngôi, đào mồ lên nhìn nàng, ngậm ngùi lâu lắm mới chịu về. Nhớ lại chuyện cũ, nghĩ đến việc nàng không tự may áo thì thấy hơi khác thường. Sau đó Trịnh được làm Tổng Giám sứ, nhà rất giàu, chuồng ngựa hơn chục con, sống đến sáu mươi lăm tuổi mới mất.
Trong những năm Đại Lịch, Thẩm Ký Tế sống ở Chung Lăng, thường giao du với Vi Dần, hay nghe kể chuyện này, cho nên nhớ rất tường tận. Về sau Dần làm Điện trung Thị Ngự sử kiếm Thứ sử Lũng Châu, chết ở nơi làm quan. Than ôi, cái tình của dị vật mà cũng có đạo người! Gặp cường bạo không thất tiết, phụng sự người cho đến chết, dù là phụ nữ ngày nay cũng chưa chắc sánh bằng. Uổng cho Trịnh sinh không phải người tinh tế, chỉ mê đắm dung nhan mà không hiểu tính tình. Giá như Trịnh là nhân sĩ có học thức uyên bác, tất vận dụng đạo biến hóa, xem xét thần với người, viết thành thiên văn chương tuyệt mỹ để truyền đạt tình cảm vi diệu ấy, chứ đâu phải chỉ thưởng sắc mà thôi. Đáng tiếc thay!
Năm Kiến Trung thứ hai, Ký Tế nhậm chức Tả Thập di ở Kim Ngô. Tướng quân Bùi Ký, Kinh Triệu Thiếu doãn Tôn Thành, Hộ bộ Thị trung Thôi Nhu, Hữu Thập di Lục Thuần đều bị biếm xuống Đông Nam, từ Tần đến Ngô, thủy bộ chung đường. Khi đó Thập di tiền nhiệm là Chu Phóng nhân cớ ngao du nên cùng đi. Bơi thuyền trên Dĩnh Thủy rồi vượt qua Hoài Hà, thuyền nối đuôi nhau xuôi theo dòng chảy. Ngày uống rượu, đêm đàm đạo, mỗi người đều kể chuyện lạ lùng. Lúc nghe đến sự tích của Nhâm thị thì ai nấy đều thở dài ngạc nhiên, sẵn đó bảo Ký Tế viết truyện để ghi lại điều kinh dị. Thẩm Ký Tế bèn soạn rạ thiên này.
HỒ VI THÊ LỆNH SINH TỬ DUYÊN
Keikai
Khi xưa, lúc Thiên hoàng Kinmei (đứcAmekuni Oshiharaki Hironiwa trị vì trong cung Kanasashi tại Shikishima vậy) ngự thế, ở quận Ono thuộc nước Mino có kẻ muốn cưới vợ, bèn cưỡi ngựa lên đường tìm mỹ nhân. Bấy giờ, gặp được một cô gái xinh đẹp giữa cánh đồng, nàng quyến rũ chàng trai, dần dần chàng cũng chăm chú nhìn nàng ấy. Hỏi rằng: “Người đẹp đi đâu vậy?”. Nàng đáp: “Đi tìm người có thể cùng mình nên duyên”. Chàng trai lại hỏi: “Làm vợ ta được chăng?”. Nàng đáp: “Xin nghe”. Nàng nhận lời xong thì được đưa về nhà ngay, chung sống rồi ân ái. Không bao lâu, nàng có mang và hạ sinh một bé trai. Khi ấy, chó nhà chàng đẻ con vào ngày mười lăm tháng Mười hai. Con chó con mỗi khi gặp người vợ thì lại trừng mắt lên tru sủa. Nàng kinh sợ, bảo với chồng rằng: “Đánh chết con chó đi!”. Tuy lo lắng cho vợ; nhưng chàng vẫn không giết chó.
Truyện này cùng chủ đề với “Nhâm thị truyện”, được chép trong quyển Thượng bộ “Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác linh dị ký” của Keikai, soạn xong vào năm 822, cách thời của Thẩm Ký Tế (khoảng 750 – 800) không bao lâu.
Vào tháng Hai, tháng Ba, tới kỳ giã gạo hằng năm, người vợ rời khỏi những cô gái đang giã gạo, bước vào buồng cối đế chuẩn bị bữa xế, bỗng dưng con chó đuổi cắn nàng. Trong lúc hoảng hốt, nàng biến thành dã can[4], rồi nhảy lên trên cũi ngồi. Chồng thấy vậy bèn nói: “Nàng và ta đã có con với nhau, cho nên ta sẽ không quên nàng, nàng hãy thường đến ngủ cùng ta”. Hễ nhớ lời chồng thì nàng lại tới ngủ, do đó được đặt tên Kitsune[5]. Hôm nọ, nàng mặc bộ đồ lan[6] phần váy thì nhuộm đỏ (nay là váy hoa đào), yểu điệu đi tới rồi lặng lẽ ra đi. Người chồng nhìn theo bóng vợ đang mất hút, lưu luyến ca rằng:
Tình yêu luôn vướng trên ta,
Mà nay rơi mất, bay xa hết rồi.
Nàng ơi, xuất hiện chút thôi,
Bóng người con gái xa xôi khó tìm.
Vậy nên tên con cũng gọi là Kitsune, họ là Konoatae[7] vậy. Người này có sức mạnh phi thường, đi nhanh tựa chim bay. Nguồn gốc của dòng tộc Konoatae ở nước Mino là như thế.
[1] Giáo phường là tổ chức quản lý nhạc đội với hý kịch của cung đình, xuất hiện vào thời Đường Cao Tổ, dưới quyền Thái thường tự, tồn tại đến đời Thanh, còn được gọi là quan kỹ.
[2] “Linh Luân” là nhạc quan của “Hoàng đế”, sáng tạo nên âm luật.
[3] Tết Hàn thực được tính là sau tiết Đông chí 105 ngày, do sát với tiết Thanh minh nên dần dần hai ngày này được nhập chung làm một. Sách “Đường hội yếu” chép: “Năm (Khai Nguyên) thứ hai mươi bốn, tháng Hai, ngày mười một, lệnh rằng: Hàn thực, Thanh minh, nghỉ bốn ngày. Đến năm Đại Lịch thứ mười ba, tháng Hai, ngày mười lăm, lệnh rằng: Từ nay về sau, Hàn thực ăn chung với Thanh minh, nghỉ năm ngày” Nhiều tài liệu vẫn nói Tết Hàn thực là ngày mồng ba tháng Ba Âm lịch, nhưng ở Trung Quốc, mồng ba tháng Ba là Tết Thượng Tỵ.
[4] Có nghĩa là “hồ ly”.
[5] Như trên.
[6] Lan là loại y phục mà phần trên với phần dưới nối liền nhau, nay là váy hoa đào.
[7] Có nghĩa là “dòng dõi của hồ ly”.