Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VƯƠNG TẠ TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Khuyết danh

Vương Tạ thời Đường là người Kim Lăng, xuất thân trong gia đình cự phú, tổ tiên lấy hàng hải làm nghiệp. Một hôm, Tạ chuẩn bị thuyền lớn, muốn tới nước Đại Thực[1]. Đi hơn một tháng thì gió biển thổi mạnh, sóng dâng vọt trời, mây đen như mực, sóng tựa núi trôi. Kình ngao hết nổi rồi lại chìm, cá rồng thì thoắt ẩn thoắt hiện, gió dập sóng vùi không biết đã bao phen. Song thế gió ngày càng lớn, mỗi khi sóng ập tới thì thân thể cứ như bị tung lên chín tầng mây, còn lúc sóng rút đi thì con thuyền như rơi xuống đáy biển. Những người trên thuyền hết bị ném lên lại rơi xuống, hết rơi xuống lại văng lên. Không lâu sau thì con thuyền đã bị sóng đánh tan. Riêng mình Tạ bám lấy được mảnh ván, tiếp tục trôi nổi trên sóng gió. Mở mắt thì thấy quái ngư lao sang tả, hải thú trồi sang hữu, trừng mắt nhe răng, muốn nuốt chửng mình. Tạ chỉ biết nhắm mắt chờ chết mà thôi. Ba ngày sau thì dạt vào một hòn đảo. Tạ bỏ mảnh ván và lên bờ. Đi được trăm bước thì thấy hai ông bà lão, ai cũng mặc đồ đen, tuổi đã ngoài bảy mươi, họ mừng rỡ nói: “Đây là chủ nhân của chúng ta vậy. Sao lại đến chỗ này?”. Tạ kể hết sự thật, họ bèn dẫn về nhà. Vừa ngồi xuống thì họ nói: “Chủ nhân từ xa tới, chắc đói lắm rồi”. Liền dâng thức ăn lên, toàn món thủy sản cả.

Hơn một tháng, Tạ mới bình phục, ăn uống được như trước. Ồng lão nói: “Đến nước ta, phải gặp nhà vua trước. Lâu nay ngài mệt mỏi nên chưa thể đi lại. Nay thì tới được rồi”. Tạ nghe theo. Ông lão bèn dẫn đi ba dặm, qua chợ búa dân cư, thấy cũng náo nhiệt lắm. Lại qua một cây cầu dài, mới thấy được cung thất với đài tạ nối tiếp nhau không dứt, hình như là nơi ở của vương công đại nhân. Đến cửa đại điện, người canh gác chạy vào báo. Chẳng mấy chốc thì một phụ nữ bước ra, y phục rất đẹp đẽ, truyền lời rằng: “Quốc vương triệu kiến ông vào gặp”. Nhà vua ngồi trên đại điện, tả hữu đứng hai bên đều là phụ nữ. Vua mặc áo bào đen, đội mão đen, Tạ thì đứng dưới bậc thềm. Vua nói: “Ông là người phương Bắc tới, lễ không câu thúc, không cần phải bái lạy”. Tạ thưa: “Đã tới nước ngài, há có thể không bái sao?”. Vua cũng cúi mình đáp tạ, sau đó vui vẻ mời Tạ lên trên điện, ban cho ngồi và nói: “Nước ta yếu kém và xa xôi, hiền nhân vì cớ gì mà đến vậy?”. Tạ kể lại chuyện sóng gió đánh vỡ thuyền, vò tình dạt vào dây, chỉ mong vua thương lấy. Vua hỏi: “Nhà ông ở đâu?”. Tạ đáp: “Giờ đang ở nhà ông lão”. Vua cho triệu gấp. Ông lão đến thưa: “Đây vốn là chủ nhân ở cố hương, mọi chuyện tôi đều không dám để ngài không vừa ý”. Vua nói: “Cần gì thì cứ việc tâu lên”. Ông lão dẫn Tạ về, lại cho sống ở nhà mình. Ông lão có một cô con gái tuyệt đẹp, lúc mang cơm trà vào thì lại nép bên rèm cửa nhìn trộm, không kiêng dè chi cả.

Một hôm, ông mời Tạ uống rượu. Lúc ngà ngà say, Tạ thưa với ông: “Mỗ sống nơi đắt khách, nhờ ông bà nên mới giữ được mạng, làm kiếp lữ hành mà như chẳng mất nhà, đức ấy lớn thay! Nhưng một thân vạn dặm, thương mình cô khổ, ngủ không say giấc, ăn chẳng thấy ngon, khiến người uất ức. Chỉ sợ khi ngã bệnh liệt giường thì lại mệt cho ông thôi”. Ông lão nói: “Lão định mở lời, nhưng còn lo mạo muội. Nhà lão có đứa con gái, tuổi vừa mười bảy, sinh trong nhà chủ nhân. Lão muốn cho kết hảo, giúp khuây khỏa lữ hoài, ngài thấy như thế nào?”. Tạ đáp: “Vậy thì quá tốt”. Ông lão bèn chọn ngày lành và chuẩn bị lễ, nhà vua cũng ban cho rượu, thức ăn với lễ vật, giúp họ kết nhân duyên. Ngày thành thân, Tạ nhìn kỹ cô gái, thấy nàng mắt đẹp eo thon, tóc mây má hạnh, nhẹ nhàng như bay, trăm vẻ yêu kiều. Tạ hỏi tên nước thì nàng đáp: “Nước Ô Y (áo đen)”. Tạ nói: “Cha nàng thường xem ta như chủ nhân, nhưng ta lại không quen cụ, cũng chưa từng sai bảo điều gì, sao gọi là chủ nhân?”. Cô gái nói: “Chàng ở lâu thì khắc biết”. Về sau hay tổ chức yến ẩm. Lúc ngồi bên bàn tiệc, cô gái nhiều lần rưng lệ, còn nhíu mày sầu thương. Tạ hỏi: “Nàng làm sao vậy?”. Cô gái đáp: “E rằng không lâu nữa phải chia ly”. Tạ nói: “Tuy ta phận bọt bèo, nhưng có được nàng thì quên cả đường về. Sao nàng lại nhắc đến chia ly?”. Cô gái nói: “Chuyện do số mệnh, chẳng phải bởi người”.

Nhà vua mời Tạ tới điện Bảo Mặc dự tiệc, đồ dùng hết thảy đều màu đen, nhạc đội đứng dưới đình cũng vậy. Nâng ly tấu nhạc, nghe rất nhẹ nhàng và trong trẻo, chỉ không rõ là khúc gì. Vua sai lấy ly huyền ngọc ra mời rượu, nói rằng: “Đến nước của ta, xưa nay chỉ hai người, đời Hán có Mai Thành, thời nay có túc hạ. Xin viết một bài thơ để làm giai thoại cho hậu nhân”. Rồi bảo đưa giấy bút. Tạ làm thơ rằng:

Tổ tiên vốn nghiệp thuyền bè

Dặm ngàn thân khách cưỡi ghe quen rồi

Năm nay gió dập sóng dồi

Chẳng may mắc nạn, lạc trôi giữa dòng

Gió như hàng vạn tiên phong

Ào ào tuôn mực mấy trùng vân thiên

Đại dương phun sóng tinh chiên

Cả thuyền ai nấy thân quyên cung rồng

Lập lòe ánh lửa tầng không

Ngỡ đâu sóng vỗ nối thông lưng trời

Mắt kình đỏ nửa biển khơi

Đầu ngao vọt nước giữa trời trắng phau

Cột buồm đáy bể đảo chao

Nghe như chớp giật, xôn xao sấm rền

May nhờ thần thánh vớt lên

Dạt theo mảnh ván tới miền đất xa

Ơn vua nhun tưới bao la

Nỗi niềm lữ khách dễ là đã quên?

Trông về quê cũ buồn tênh

Hận không mọc cánh ở trên thân này.

Vua xem xong, thấy thích thú và nói: “Thơ ông hay tuyệt, chớ khổ sở vì nhớ nhà, không lâu nữa sẽ được trở về thôi. Tuy không mọc cánh nhưng cũng có thể khiến ông bước đi giữa khói mây”. Tiệc tan, ai nấy đều làm thơ. Cô gái hỏi: “Sao câu cuối lại tỏ ý châm biếm nhau?”. Tạ không hiểu ý nàng. Chẳng bao lâu, trên biển nổi gió êm nắng ấm. Cô gái khóc nói: “Chàng có ngày về rồi”. Vua sai người tới báo: “Đến ngày đó ông phải về, nên lần lượt từ biệt người thân đi”. Cô gái bày rượu, nhưng đau xót đến tuôn lệ, không thể nói thành lời, như mưa tưới hoa thơm, sương móc nhánh liễu, sầu ưu chắt dạ, hương nhạt thân gầy. Tạ cũng lấy làm thương cảm. Cô gái viết bài thơ từ biệt rằng:

Bấy lâu hoan hỷ, buồn lo ít

Tự cổ tròn duyên chẳng mấy ngườiĐêm nay phòng trống thiên thu hậnMộng hồn gió Bắc cuốn xa khơi.

Lại nói: “Từ đây thiếp không qua bờ Bắc nữa. Nếu chàng thấy thiếp không phải hình dạng như bây giờ, có khi sẽ chán ghét, còn đâu sự yêu thương? Thiếp thấy chàng biết đâu cũng sinh lòng đố kỵ, cho nên sẽ không qua bờ Bắc, nguyện chết già tại cố hương. Tất cả vật nơi đây chàng đều không giữ được. Xin chớ tiếc làm gì”. Nàng sai người hầu lấy một viên linh đan ra và nói: “Viên đan này có thể triệu hồn người, ai chết mà chưa quá một tháng đều có thể hồi sinh. Phương pháp là mang một tấm kính để lên ngực người chết, lấy viên đan đặt trên cổ, dùng nhánh ngải Đông Nam làm trụ để đốt cứu, lập tức sống lại ngay. Đây là bảo bối của hải thần, nếu không dùng hộp ngọc Côn Lôn để đựng thì không thể nào qua biển”. Khéo thay nàng cũng có hộp ngọc, liền trao viên đan và buộc hộp vào tay trái của Tạ, rồi từ biệt trong đau đớn. Vua nói: “Nước ta không có gì làm quà”. Bèn lấy giấy và viết bài thơ rằng:

Biển Nam thuyền lớn xuôi năm ấy

Trôi dạt quê ta, kiếp khách nhân

Hôm nay tiễn biệt thôi đành vậyMuôn dặm nước mây cách nẻo trần.

Tạ bái lạy cáo từ. Vua sai lấy Phi vân hiên. Mang tới, hóa ra chỉ là một tấm thảm màu đen. Vua bảo Tạ bước vào, lại sai lấy nước ao Hóa Vũ tưới lên khắp tấm thảm. Còn cho triệu hai ông bà lão, lệnh họ hộ tống Tạ về quê. Vua cảnh báo Tạ rằng: “Nên nhắm mắt, chốc lát sẽ tới nhà ông ngay, bằng không thì rơi xuống biển đấy”. Tạ nhắm mắt, chỉ nghe tiếng sóng gió thét gào. Một hồi lâu, Tạ mở mắt thì đã đến nhà rồi, đang ngồi giữa chính đường. Xung quanh chẳng có lấy một ai, duy ở trên xà nhà có một đôi chim én kêu ríu rít. Tạ ngước nhìn, liền hiểu ra nơi mà mình vừa tới chính là nước chim én vậy. Ngay sau đó, người nhà chạy lại hỏi thăm, họ đều hỏi: “Nghe đâu sóng đánh vỡ thuyền, còn ngài đã chết rồi. Làm sao mà quay về được thế?”. Tạ đáp: “Chỉ mình ta vớ lấy được mảnh ván nên còn sống”. Nhưng không kể gì về đất nước mình ghé qua. Tạ chỉ có một con trai, lúc đi nó mới vừa ba tuổi. Nay không thấy, Tạ bèn hỏi người nhà, họ bảo: “Đã chết nửa tháng rồi”. Tạ thương cảm mà bật khóc, nhân đó nhớ đến viên linh đan, bèn sai mở quan tài mang thi thể ra ngoài, đốt cứu đúng theo phương pháp, quả nhiên nó sống dậy. Thu sang, lúc sắp sửa bay đi, đôi én cất tiếng kêu thảm thiết ở sân đình. Tạ vẫy gọi thì chúng đậu trên cánh tay. Bèn lấy giấy viết một bài tuyệt cú, đem buộc vào đuôi chim. Thơ rằng:

Mơ đến Hoa Tư[2] lạc bước chân

Tài ấy bao hôm cảm ngọc nhân

Vân hiên bay vút, không tin tức

Gió thâm lệ tuôn biết mấy lần.

Mùa xuân năm sau thì cánh én trở về, bay thẳng xuống đậu lên tay Tạ, đuôi có lá thư nhỏ. Tạ mở ra xem, thấy viết một bài thơ tuyệt cú, lời rằng:

Thuở trước tương phùng như số mệnh

Giờ đây chia cách đúng sinh ly

Xuân sau dẫu có lời thương nhớ

Ba tháng trời Nam én chẳng đi.

Tạ vô cùng dằn vặt. Năm sau, én không quay lại nữa. Chuyện ấy mọi người truyền tai nhau, nhân đó gọi nơi Tạ ở là Ô Y hạng. Trong “Kim Lăng ngũ vịnh” của Lưu Vũ Tích có bài “Ô Y hạng” viết rằng:

Bên cầu Chu Tước cỏ sương

Ô Y ngõ vắng, chiều buông nắng đào

Én nhà Vương Tạ năm nào

Lạc đường sa cánh bay vào dân gia.

Đủ biết chuyện Vương Tạ không phải là giả vậy[3].

[1] Nước Đại Thực tức Đế quốc Ả Rập (632 – 1258). Năm 750, As-Saffah lật đổ nhà Omeyyad và lập nên nhà Abbas – vương triều thứ hai của Đế quốc Ả Rập. Vương triều này được sử sách Trung Hoa gọi là “Hắc y Đại Thực” (Đại Thực áo đen).

[2] Thiên “Hoàng Đế” trong sách “Liệt Tử” chép: “(Hoàng Đế) Ban ngày nằm mộng, du ngoạn nước Hoa Tư. Nước của họ Hoa Tư nằm ở phía Tây Yểm Châu, phía Bắc Thai Châu, không biết nơi đây cách nước Tề bao nhiêu dặm. Không có thuyền xe nào đủ sức đi tới đó, thần du mà thôi. Nước này không có bậc sư trưởng, tự trị mà thôi. Dân không có lòng ham muốn, tự nhiên mà thôi. Không biết ham sống, không biết sợ chết, cho nên không người nào chết yểu. Không biết yêu mình, không biết xa vật, cho nên không có lòng yêu ghét. Không biết quay lưng với kẻ nghịch, không biết hướng về nơi người thuận, cho nên không nói đến lợi hại. Không thương tiếc thứ gì, cũng không úy kỵ điều chi”.

[3] Ô Y hạng (ngõ Áo Đen) là một địa danh nằm tại bờ Nam sông Tần Hoài thuộc Kim Lăng, đây vốn là nơi đóng quân của Ô Y doanh nước Đông Ngô thời Tam Quốc, cho nên lấy theo tên đó. Cầu Chu Tước là cây cầu bắc ngang sông Tần Hoài, muốn vào Ô Y hạng tất phải qua cầu này.Cuối thời Tây Tấn xảy ra “Loạn Vĩnh Gia”, Ngũ Hồ công đánh Trung Nguyên, nhà Tây Tấn sụp đổ. Nhân sĩ đất Bắc chạy xuống phương Nam, đưa Tư Mã Duệ lên ngôi, tức Tấn Nguyên Đế, lập ra triều Đông Tấn, định đô tại Kim Lăng, Ô Y hạng trở thành nơi sinh sống của các nhà đại tộc, trong đó có họ Vương và họ Tạ. Sang thời Lưu Tống và Nam Tề thì họ Vương ở Ô Y hạng sa sút, quan chức không cao nên bị một chi nhánh khác của họ Vương sống trong Mã Phẩn hạng áp chế. Tới thời Đường, nhà thơ Lưu Vũ Tích (772 – 842) đến Kim Lăng, thấy cầu Chu Tước nay mọc đầy cỏ hoang, Ô Y hạng thì điêu tàn, nghĩ đến cảnh đổi thay dâu biển của nhân sinh mà viết ra bài thơ “Ô Y hạng”. Trong đó câu thứ ba là “Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến” (舊時王謝堂前燕), hai chữ “Vương Tạ” (王謝) ở đây chỉ họ Vương, họ Tạ. Trong truyện này, tác giả sửa lại thành “Vương Tạ” (王榭) – tên một nhân vật, đồng thời hư cấu nên câu chuyện hoàn toàn khác.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.