Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒNG TUYẾN433

❊ ❊ ❊

Viên Giao

Hồng Tuyến là a hoàn trong nhà của Tiết độ sứ Lộ Châu Tiết Tung[1], giỏi gảy đàn Nguyễn Hàm[2] lại làu thông kính sử, nên được Tung cho giữ các tín trát, tấu chương, gọi là “Nội ký thất”. Có lần bày tiệc lớn trong quân, Hồng Tuyến nói với Tung: “Tiếng trống kiết có giai điệu bi ai, người đánh trống hẳn có chuyện trong lòng”. Tung cũng thông hiểu âm luật, nói: “Đúng như lời nàng vậy”. Rồi cho triệu vào hỏi, anh ta thưa: “Đêm qua vợ mất, nhưng tôi không dám xin nghỉ”. Tung lập tức cho về quê.

Lúc đó đã sang thời Chí Đức, Hà Nam và Hà Bắc chưa ổn định, khi mới chiêu mộ nghĩa quân, triều đình muốn trấn thủ Cam Dương nên lệnh cho Tung đi đàn áp Sơn Đông, giết giặc vô số. Chiến sự kết thúc, quân phủ bắt đầu xây dựng lại, triều đình sai Tung gả con gái cho con trai của Tiết độ sứ Ngụy Bác là Điền Thừa Tự[3], còn sai Tung cưới con gái của Tiết độ sứ Hoạt Châu là Lệnh Hồ Chương cho con trai. Ba trấn kết thông gia với nhau nên thường cho sứ qua lại. Điển Thừa Tự đã mắc phải bệnh phổi, đến mùa hè thì bệnh càng nguy kịch hơn, mỗi lần như vậy đều nói: “Phải chi được trấn thủ Sơn Đông, khí trời mát mẻ, thế thì mạng ta có thể kéo dài thêm vài năm”. Bèn chiêu mộ ba ngàn lính ở trong quân, người nào cũng vũ dũng gấp mười, gọi là “Ngoại trạch nam”, chu cấp và nuôi dưỡng họ rất hậu, thường sai ba trăm người đi tuần trực ban đêm, còn cho bói xem ngày lành để thôn tính Lộ Châu. Tung nghe tin thì ngày đêm lo lắng, lẩm bẩm một mình, nhưng không nghĩ ra được cách đối phó.

Một hôm, trống báo canh sắp đánh, viên môn cũng đóng rồi, Tung chống gậy bước ra thềm trước sân, chỉ có Hồng Tuyến theo cùng. Hồng Tuyến nói: “Cả tháng nay chủ nhân ăn ngủ không yên, trong lòng đầy lo lắng, chắc không phải là vì chuyện biên cảnh đấy chứ?”. Tung nói: “Việc lớn an nguy, nàng không lo liệu nổi đâu”. Hồng Tuyến nói: “Tuy thiếp thấp kém nhưng cũng muốn giải ưu giúp chủ nhân”. Tung bèn đem mọi chuyện ra kể lại, rồi nói: “Ta kế thừa cơ nghiệp của tổ phụ, nhận ơn sâu của quốc gia, nếu sớm mai để mất cương thổ thì công sức trăm năm coi như tiêu tan hết”. Hông Tuyến nói: “Dễ thôi mà, chuyện này chủ nhân đâu cần lo lắng. Xin cho thiếp đến quận Ngụy một chuyến, quan sát tình hình, thăm dò hư thực. Canh một thiếp đi, đến canh ba thì về phục mệnh. Xin chủ nhân chuẩn bị sẵn một con ngựa, một sứ giả và một lá thư thăm hỏi, những chuyện khác đợi thiếp về rồi hẵng tính”. Tung kinh ngạc nói: “Ta thật hồ đồ, không biết nàng là kỳ nhân. Nhưng nếu việc không thành, trái lại họa đến nhanh hơn, vậy biết làm thế nào?”. Hồng Tuyến nói: “Thiếp mà đi thì tất sẽ thành công”. Rồi nàng vào khuê phòng chuẩn bị đồ dùng, búi tóc giống như người Ô Man, cài trâm kim phụng, mặc áo ngắn thêu hoa tím, hồng buộc tơ xanh, đi giày nhẹ, trước bụng là cây chủy thủ chạm rồng, trán viết tên thần Thái Ất. Nàng vái Tung hai vái vừa xong thì đã chẳng thấy đâu. Tung trở vào và đóng cửa, một mình ngồi quay lưng về phía ngọn đèn. Bình thường, Tung uống rượu chỉ được vài ba hớp, nhưng đêm nay thì nâng hơn mười chén vẫn chưa say. Chợt có tiếng tù và báo sáng vang trong gió, mấy chiếc lá rụng trong sương mai ngoài

thềm, Tung kinh ngạc, còn chưa rõ chuyện gì thì đã thấy Hồng Tuyến trở về. Tung vui mừng an ủi nàng và hỏi: “Việc thành hay chưa?”‘. Đáp: “Thiếp đâu dám làm nhục mệnh”. Lại hỏi: “Có làm bị thương hoặc giết ai không?”. Nàng đáp: “Không tới mức đó đâu, thiếp chỉ lấy cái hộp vàng ở đầu giường Điền Thừa Tự về làm tin mà thôi”. Hồng Tuyến kể lại: “Lúc ba khắc trước nửa đêm là thiếp tới được quân Ngụy, qua vài cửa thì tìm thấy phòng ngủ của họ Điền. Bọn “Ngoại trạch nam” nằm dưới mái hiên, ngáy như tiếng sấm, lại thấy bọn sĩ tốt hô gọi nhau ở ngoài sân. Thiếp mở cửa trái rồi tới chỗ màn ngủ, thấy Điền thông gia nằm trên giường, gác chân say ngủ, đầu kê gối sừng tê, tóc thì bọc trong túi mịn màu vàng. Trước gối lộ ra một thanh Thất tinh kiếm, trước kiếm là chiếc hộp vàng để mở, trong hộp viết ngày tháng năm sinh và tên thần Bắc Đẩu, còn dùng hương liệu và châu báu đẹp đẽ phủ bên trên. Bày biện dương uy như thế, đủ thấy những mong muốn phát đạt của hắn lúc sinh tiền, hắn mơ mộng giữa lan đường mà không hề biết tính mạng đang treo dưới tay thiếp. Thà vất vả một chút, chứ giết hắn thì sinh lắm chuyện phiền hà. Lúc bấy giờ, ánh nến dần ngưng tụ, lò hương cũng tàn tro, thiếp thấy bọn người hầu thì ở khắp bốn phía, còn binh khí cũng bày ra la liệt, bọn chúng hoặc cúi đầu dựa bình phong mà ngáy, hoặc duỗi thắng người nằm ngủ và vung tay phe phẩy khăn, thiếp bèn rút lấy trâm cài, khuyên tai, rồi buộc quần áo của chúng lại. Đứa nào cũng ngủ say như chết, chẳng ai phát giác cả. Xong xuôi thì thiếp lấy hộp vàng và quay về. Ra khỏi cửa Tây của Ngụy thành gần được hai trăm dặm, nhìn thấy Đồng Đài cao ngất, dòng Chương Thủy chảy về Đông, xa xa đã có gà gáy sáng, vầng trăng thì chếch bóng bên cánh rừng, khi đi thì lo lắng, nhưng lúc về lại thấy vui, lập tức quên hết bao nhiêu sự vất vả. Thiếp cảm cái ơn tri ngộ của chủ nhân, trong lòng luôn muốn có cơ hội báo đáp, cho nên mới nửa đêm canh ba lên đường, đi về hết bảy trăm dặm, ra vào nơi nguy hiểm, vượt qua năm sáu tòa thành, hy vọng có thể giảm bớt ưu tư giúp chủ nhân, chứ nào dám nói là gian khổ?”. Tung bèn sai sứ mang thư gửi đến Điển Thừa Tự, thư viết:

Đêm qua có vị khách từ quận Ngụy tới, nói rằng đã lấy được một cái hộp để bên đầu nằm của Nguyên soái, tôi không dám giữ, nay kính cẩn xin ngài thu nhận lại.

Sứ giả đi nhanh tựa sao bay, mới nửa đêm đã tới, thấy cảnh lùng kiếm hộp vàng, binh sĩ ai nấy đều nghĩ ngợi, lo toan. Sứ giả lấy roi ngựa gõ cửa, xin được gặp mặt ngay. Thừa Tự ra đón, lúc sứ giả dâng hộp vàng lên thì kinh hoàng đến suýt nữa ngã người, bèn giữ sứ giả ở lại nhà, bày tiệc thân mật khoản đãi và ban thưởng rất hậu. Hôm sau thì sai sứ mang theo ba vạn xấp lụa, hai trăm con ngựa tốt và nhiều lễ vật khác, gọi là chút lòng thành biếu cho Tung, nói rằng:

Đầu tôi còn treo đó là nhờ ân đức của ngài vậy. Tôi đã biết lỗi và sẽ sửa, không dám làm cái việc xằng bậy ấy nữa đâu, chỉ một lòng nghe lời ngài chỉ bảo, đâu dám bàn luận đến thông gia. Xin được làm kẻ theo sau xe hầu ngài, tới nhận cờ và roi ngay trước ngựa, chỉnh đốn kỷ cương. Còn những kẻ được gọi là “Ngoại trạch nam” vốn dĩ chỉ để phòng trộm cắp, chứ chẳng hề có mưu đồ gì khác, nay tôi sẽ cho chúng giải giáp về quê cày ruộng.

Từ đó, cứ hai tháng thì Hà Bắc, Hà Nam lại cho người qua lại với nhau. Chợt một ngày nọ, Hồng Tuyến đến cáo từ ra đi. Tung hỏi: “Nàng sinh ra trong nhà ta mà giờ lại muốn đi ư? Hơn nữa, nay ta cần đến nàng, nàng đi sao được?”. Hồng Tuyến đáp: “Kiếp trước thiếp là nam nhi, đi lại học nghệ trên giang hồ, đọc “Thần Nông dược thư”, cứu người khỏi bệnh tật. Khi ấy có một phụ nữ mang thai mà bụng dạ chợt sinh trùng, thiếp lấy rượu nguyên hoa để trị, khiến cả người mẹ lẫn hai con trong bụng đều chết hết, phạm vào tội ác một tay giết ba mạng người. Cõi âm giáng tội, bắt đầu thai làm phận gái, còn phải chịu kiếp nô lệ thấp hèn, khí số vướng phải sao tai. May thay sinh vào nhà chủ nhân, sống trong nhung lụa suốt mười chín năm nay, cho ăn món sơn hào, được yêu thương hết mực, vinh hoa cũng đến tột độ rồi. Huống chi hiện giờ, đất nước đang hưng phục, khấp nơi đều yên ổn vô cùng, những kẻ làm trái với thiên lý đều bị tiêu diệt cả, chẳng còn chút mối lo. Việc thiếp sang quận Ngụy mới đây chính là để bày tỏ lòng báo đáp. Nay hai xứ đã giữ được thành trì, muôn dân cũng giữ được mạng sống, khiến bọn loạn thần tặc tử phải biết sợ, các danh sĩ được vỗ về, phận gái mà làm được như thế, cũng xem như là công lao không nhỏ, ngõ hầu có thể chuộc tội lỗi kiếp trước, trở lại thân xác ban đầu. Thiếp theo lẽ nên tránh chốn bụi trần, để tâm nơi ngoại vật, gạn trong thần khí, thoát khỏi vòng sinh tử”. Tung nói: “Nếu vậy thì ta sẽ ban tặng ngàn vàng để nàng làm lộ phí sinh sống giữa núi non”. Hồng Tuyến nói: “Chuyện liên quan đến kiếp sau, há có thể dự tính trước?”. Tung biết không giữ được nàng, bèn mở buổi dạ yến đưa tiễn, chiêu tập khách khứa đến dự trong chính đường. Tung vừa ca vừa mời rượu Hồng Tuyến, còn mời tọa khách Lãnh Triêu Dương làm bài từ, lời rằng:

Thái Lăng oán chiếc mộc lan

Lầu cao trăm thước tiễn nàng đi xa

Lạc phi sương khói bay qua

Trôi theo dòng nước phôi pha giữa trời[4].

Ca xong, Tung không kìm được sự đau khổ trong lòng, Hồng Tuyến vừa bái lạy vừa khóc, nhân đó giả vờ say rồi rời khỏi bữa tiệc, không ai biết nàng đi đến nơi nào.

[1] Thời Minh, Lương Thần Ngư có soạn vở tạp kịch “Hồng Tuyến nữ”. Năm 1918, ở lầu Quảng Đức tại Bắc Kinh, lần đầu tiên Mai Lan Phương công diễn vở Kinh kịch “Hồng Tuyến đạo hạp”, cũng lấy đề tài từ truyện này. Kim Dung phân tích: “Bấy giờ là sau loạn An Sử, các phiên trấn công đánh nhau không dứt, họa binh đao liên tục, lê dân chẳng sống yên. Trịnh Chấn Đạc nói tác phẩm được viết vào năm Mậu Tý thời niên hiệu Hàm Thông (tức năm 868). Năm đó Bàng Huân nổi dậy, gây chấn động thiên hạ. Viên Giao sáng tác truyện nhằm phản ánh mong ước hòa bình của nhân dân … Người đời Đường hay viết truyền kỳ bằng tản văn, nhưng trong “Hồng Tuyến” lại pha lẫn chút biền văn óng ánh như châu ngọc, ngoài ra còn mang sắc thái đặc thù”.

[2] Tiết Tung là hậu duệ của Tiết Nhân Quý, từng đứng trong phản quân vào thời “Loạn An Sử”. Sau cơn loạn thì quy thuận triều đình, được phong làm Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa, tước Bình Dương Quận Vương.

[3] Đàn Nguyễn Hàm là một loại tỳ bà đã có từ thời Tần Hán, lúc đó gọi là Tần Hán tử. Nguyễn Hàm tự Trọng Dung, cháu của Nguyễn Tịch, một trong “Trúc lâm thất hiền” đời Tây Tấn, ông là người tinh thông âm luật, rất giỏi gảy đàn này, do đó mới lấy theo tên ông.

[4] Điền Thừa Tự (705 – 779) cũng tham gia “Loạn An sử”, sau đầu hàng nhà Đường, được phong làm Tiết độ sử Ngụy Bác, tước Nhạn Môn Quận Vương.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.