PHỤ LỤC 1

Đường Tống Truyền Kỳ

Lượt đọc: 236 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 8 - LƯU HỒNG KÝ

❊ ❊ ❊

Trương Thực[1]

Thời Đường Hy Tông, có Nho sĩ Vu Hựu, chiều hôm tản bộ trên con phố ngoài cung cấm. Khi ấy, cỏ cây đều khô héo, đầu thu gió se lạnh, vầng dương thì ngả bóng về Tây, lòng lữ khách càng ngổn ngang trăm mối. Hựu nhìn lá rơi nổi trên ngự câu, từ từ theo dòng nước trôi đi. Hựu đến bên ngồi rửa tay. Được hồi lâu thì một chiếc lá chợt rụng xuống, lớn hơn những cái khác, nhìn từ xa, dường như có dấu mực viết trên đó. Lá thắm bồng bềnh, viễn ý mênh mang. Hựu vớt lên xem thử, quả nhiên trên lá có đề bốn câu thơ:

Nước kia sao chảy gấp?

Cung sâu cả ngày nhàn

Ân tình nhờ lá thắm

Mang đến chốn nhàn gian.

Hựu có được bài thơ thì cất vào rương sách, suốt ngày ngâm vịnh, thích thú với những câu mang thi ý tươi đẹp và mới mẻ, nhưng không biết người nào đã viết thơ lên lá. Nghĩ đến nước ngự câu từ cung cấm chảy ra, thơ này ắt là do mỹ nhân trong cung sáng tác vậy. Hựu quý lắm, lúc nào cũng để dạ, lại thường hay kể cho những kẻ hiếu sự nghe. Từ đó Hựu nhung nhớ đến mức hao kiệt tinh thần.

Một hôm, có người bạn trông thấy và nói rằng: “ Sao anh lại gầy gò xanh xao đến mức này? Tất có nguyên do rồi, xin hãy nói tôi nghe”. Hựu nói: “Suốt mấy tháng nay, tôi mất ăn mất ngủ”.

Sẵn đó kể lại chuyện câu thơ trên lá thắm. Người bạn cười ồ bảo: “Sao anh ngốc thế? Kẻ viết thơ này nào có ý với anh. Anh tình cờ nhặt được thôi, cần chi phải nhớ thương nhường ấy? Tuy ngày ngày anh tơ tưởng, nhưng cung cấm thâm nghiêm, dẫu mọc cánh cũng chẳng dám bay vào. Cái ngốc của anh, kể ra buồn cười thật!”. Hựu nói: “Trời tuy cao ngất nhưng cũng nghe bên dưới, nếu người nào có chí thì trời ắt thuận lòng. Tôi nghe chuyện Ngưu Tiên Khách gặp Vô Song[2], cuối cùng nhờ kế lạ của Cố sinh tác hợp. Chỉ lo không có chí mà thôi, nào ai biết trước sự đời?”. Rốt cuộc, Hựu vẫn lo nghĩ không thôi, bèn đề lại hai câu trên chiếc lá:

Từng xem lá thắm ghi u oánTrên đó biên thơ gửi đến ai?

Rồi thả xuống dòng nước ở thượng nguồn ngự câu. Người ta chế giễu chàng, những tên hiếu sự thì kể lại nhau nghe. Có kẻ còn tặng thơ viết:

Ơn vua khôn cản được dòng nước

Ngòi kia tuôn chảy cuốn cung tình.

Về sau, Hựu nhiều lần thi không đỗ, lận đận xứ người, bèn nương nhờ môn quán của quý nhân Hàn Vịnh đất Hà Trung, được cấp chút tiền bạc lụa là, cũng không còn ý tiến thủ. Lầu sau, Vịnh gọi Hựu đến nói: “Cung cấm có hơn ba ngàn người mắc tội, vua cho đi lấy chồng, có Hàn phu nhân là người cùng họ với ta, lâu nay ở trong cung, giờ ra khỏi đó thì sẽ tới nhà ta sống. Ông hiện chưa cưới vợ, tuổi lại quá tráng niên, một thân khốn khổ, không có tiếng tăm gì, sống cô đơn hiu quạnh, ta rất lấy làm thương xót. Nay trong tráp của Hàn phu nhân không dưới ngàn quan tiền, lại là con nhà lương thiện, tuổi mới ba mươi, nhan sắc tuyệt trần. Ta sẽ bảo nàng kết duyên với ông, ông thấy thế nào?”. Hựu rời chiếu và nằm phục xuống nói: “Học trò nghèo khó, ăn nhờ dưới cửa, ngày no đêm ấm, chịu ơn đức đã lâu, chỉ hận mình chẳng có chút sở trường nên không thể báo đáp, sớm chiều hổ thẹn, không biết làm gì, nào dám trông vọng như thế?”. Vịnh bèn sai người mai mối, giúp Hựu các món dê nhạn, chuẩn bị đủ cả sáu lễ, rồi nối kết hai họ. Vào đêm Hựu thành hôn, ai nấy đều vui sướng tột cùng. Sáng hôm sau, thấy Hàn thị có hồi môn hậu hĩnh, dung nhan tuyệt đẹp, vốn dĩ Hựu không dám trông mong được như thế, ngỡ như mình lạc đến động tiên, thần hồn bay bổng. Khi Hàn thị tìm thấy chiếc lá thắm trong rương sách của Hựu thì hết sức kinh ngạc, nói rằng: “Đây là mấy câu thơ do thiếp viết, làm sao chàng có được?”. Hựu kể hết sự thật. Hàn thị lại nói: “Thiếp cũng nhặt được lá thắm trong dòng nước, không biết thơ đó ai làm?”. Bèn mở tráp lấy ra, ấy chính là thơ của Hựu đề. Hai người ngạc nhiên nhìn nhau, cảm thương và tuôn rơi lệ mãi, bảo rằng: “Chuyện đó há phải ngẫu nhiên chăng? Nếu không thì là do trời định vậy”. Hàn thị nói: “Ban đầu khi thiếp vớt lá lên, thấy có sẵn bài thơ, nay vẫn còn giữ trong tráp”. Rồi mang tới cho Hựu xem. Thơ rằng:

Bên ngự câu độc bước

Vớt chiếc lá lên bờ

Tình này ai hiểu được?

Đứt ruột một câu thơ.

Những người nghe chuyện, không ai không kinh ngạc mà than là kỳ lạ. Một hôm, Hàn Vịnh mở tiệc mời Vu Hựu và Hàn thị. Vịnh nói: “Hôm nay hai người có thể cảm ơn kẻ mai mối”. Hàn thị cười đáp: “Thiếp được tác hợp với Hựu là do trời, đâu phải sức của người mai mối”. Vịnh hỏi: “Sao lại nói thế?”. Hàn thị bảo lấy bút làm thơ, lời rằng:

Diễm thi trôi xuống theo dòng nước

Mười năm thương nhớ dạ ưu phiền

Hôm nay đôi lứa nên loan phượng

Mới hay lá thắm kết lương duyên.

Vịnh nói: “Giờ ta đã biết, mọi chuyện trong thiên hạ chẳng có gì là ngẫu nhiên”.

Hy Tông lâm hạnh đất Thục[3], Vịnh sai Hựu dẫn một trăm gia đồng đi trước dẫn đường. Do Hàn thị là cung nhân nên được gặp nhà vua, kể đầu đuôi sự việc lấy Hựu cho vua biết. Vua nói: “Ta cùng có nghe sơ qua”. Rồi cho truyền Hựu đến. Vua cười bảo: “Khanh là môn hạ cũ của trẫm vậy”. Hựu nằm phục xuống đất mà tạ tội. Vua trở về Tây đô[4], Hựu nhờ tùng giá được phong quan, làm Ngu hầu quân Thần Sách. Hàn thị sinh hạ năm trai và ba gái. Con trai ra sức học hành, ai cũng làm quan, còn con gái thì gả vào danh gia vọng tộc. Hàn thị trị gia có phép tắc, cuối đời được sắc phong mệnh phụ.

Tể tướng Trương Tuấn[5] có viết bài thơ rằng:

Trường An trăm vạn hộ

Ngự thủy chảy về Đông

Lá thắm trôi theo nước

Chàng nhặt được thơ lòng

Họa mấy dòng trên lá

Cậy nước chuyển vào cung

Thâm cung đông vô kể

Hàn thị nhận lá hồng

Xuất cung ba ngàn kẻ

Hàn thị cũng ở trong

Quay đầu tạ ơn chúa

Phấn son ứa lệ nồng

Đến ở nhà phú quý

Tương ngộ thỏa ước mong

Mối mai đầy sáu lễ

Trăm năm kết vợ chồng

Con đàn rồi cháu đống

Hiển hách cả gia phong

Tự cổ chưa hề có

Nay truyền khắp núi sông.

Bàn rằng: Nước chảy là vô tình, mà lá thắm cũng vô tình. Đem cái vô tình gửi vào chỗ vô tình nhằm tìm kiếm hữu tình, cuối cùng thì có kẻ hữu tình nhặt được, rồi lại nên duyên với người hữu tình, tin rằng đó là chuyện đời trước chưa hề nghe. Phàm là việc có thể hợp lẽ trời, dẫu cách xa như Hồ, Việt cũng có thể tác hợp. Còn như lẽ trời không thuận, dù hàng xóm láng giềng cũng chẳng thể tác thành. Kẻ cố chấp, hạng cưỡng cầu, xin hãy xem truyện này rồi lấy đó làm răn vậy.

Cố Huống ở đất Lạc, nhân lúc rảnh rồi cùng ba người bạn thơ chơi thượng uyển, trên dòng nước nhặt được một chiếc lá ngô đồng lớn để thơ rằng:

Từ khi vào cung cấm

Bóng xuân khuất hậu đình

Chán chường để trên lá

Gửi ai đó hữu tình.

Hôm sau, Huống lên thượng nguồn, cũng đề thơ trên lá rồi thả theo sóng nước:

Thâm cung hoa rụng khiến oanh sâu

Cung nữ Thượng Dương cũng xót đau

Để thành khôn cản được dòng nước

Chiếc lá trao thơ lạc chốn nào?

Hơn mười ngày nữa, có người đến thượng uyển du xuân, lại đưa cho Huống xem một bài thơ trên lá:

Lá viết câu thơ bước khỏi thành

Hỏi ai họa lại đượm duyên xanh?

Nghĩ mình thua lá trồi theo sóng

Phiêu bạt du xuân, thế cũng đành.

Mạnh Khải: Bản sự thi, Tình cảm

PHỤ LỤC 2

ĐỀ HỒNG OÁN[6]

Phạm Sư

Đời Minh Hoàng, Mai phi, Quắc Quốc rất được vua sủng ái, cung nga ai nấy sầu muộn vì không được vua lâm hạnh, thường viết lên lá rụng rồi thả trôi theo ngự câu. Thơ rằng:

Quạt thu buôn cựu sủng

Xuân non đón tình nồng

Chán chường đề trên lá

Gửi ai đó giữa dòng.

Cố Huống từng đề thơ họa lại. Chuyện đến tai vua, không ít người được thả khỏi cấm cung, hoặc cho hiệu ngũ sứ. Họa rằng:

Liễu bay, oanh hót gợn thêm sầu

Cung nữ Thượng Dương cũng xót đau

Ơn vua khôn cản được dòng nước

Chiếc lá trao thơ lạc chốn nào?

Năm mà xá nhân Lư Ốc đi thi, vô tình đến bên ngự cầu, thấy một chiếc lá thắm, bèn sai người hầu vớt lên, trên lá có một bài tuyệt cú. Ốc đem cất trong rương áo, thỉnh thoảng cho bạn bè cùng xem. Đến lúc Tuyên Tông giảm bớt số cung nhân, vua hạ chiếu cho phép họ lấy trăm quan tư lại, chỉ ngoại trừ hạng cống cử. Về sau, Ốc cũng nhậm chức ở Phạm Dương, cưới một cung nhân cũ, khi tận mắt thấy lá thắm thì nàng than thở hồi lâu, nói rằng: “Thuở ấy chỉ ngẫu nhiên đề thơ rồi thả vào dòng nước, không ngờ lại được lang quân cất trong rương”. Khi kiểm chứng lại những chữ ghi trên lá thì không ai không kinh ngạc. Thơ rằng:

Nước kia sao chảy gắp?

Cung sâu cả ngày nhàn

Ân cần nhờ lá thắm

Mang đến chốn nhân gian.

[1] Nguyên bản đề là Trương Thực, tự Tử Kinh, người Ngụy Lăng.

[2] “Vô Song truyện” chép là Vương Tiên Khách.

[3] Năm 875, Vương Tiên Chi khởi binh tại Trường Viên, tự xưng là “Thiên bổ bình quân Đại Tướng quân”. Ở Oan Cú, Hoàng Sào, Hoàng Quỹ và Hoàng Ân Nghiệp cũng hưởng ứng. Năm 878, Vương Tiên Chi thua trận và bị triều đình xử chém, tàn quân chạy về với Hoàng Sào, tôn ông làm Hoàng Vương. Cuối năm 880, Hoàng Sào vượt Hoài Hà và công hạ Đông đô Lạc Dương, Đường Hy Tông phải chạy sang đất Thục (tức Tứ Xuyên ngày nay).

[4] Năm 881, Hoàng Sào tiến vào Trường An, lên ngôi ở điện Hàm Nguyên, đổi quốc hiệu Đại Tề, đặt niên hiệu Kim Thống. Năm 882, nhà Đường bắt đầu phản công. Tháng 7 năm 884, Hoàng Sào thua trận và bị giết. Sang năm 885, Hy Tông hồi giá về Tây đô Trường An.

[5] Trương Tuấn (1097 – 1164) tự Đức Viễn, hiệu Từ Nham Cư sĩ, hậu duệ của nhà thơ Trương Cửu Linh đời Đường, ông là Tể tướng thời nhà Tống.

[6] Truyện này chép trong quyền Hạ bộ “Vân Khê hữu nghị” của Phạm Sư thời Đường.

LỖ TẤN (Sưu tầm và hiệu đính) ĐƯỜNG TỐNG TRUYỀN KỲ 唐宋傳奇Người dịch: Ngô Trần Trung Nghĩa NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.