Hòn Đảo Bí Ẩn

Lượt đọc: 704 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Kế hoạch của Cyrus Harding đã thành công, nhưng vốn quen điềm đạm, ông chẳng hề lộ chút thỏa mãn nào; môi mím chặt, ánh mắt đăm đăm, ông đứng lặng như tượng. Herbert sung sướng đến phát cuồng, Neb nhảy tưng lên vì vui sướng, Pencroft gật gật cái đầu to lớn, lầm bầm những lời này,—

– Nào, kỹ sư của chúng ta tiến hành cừ khôi thật chứ!

Chất nitroglycerine quả thực đã phát huy uy lực mạnh mẽ. Lỗ thủng mà nó tạo ra lớn đến mức lượng nước thoát qua lối thoát mới này ít nhất phải gấp ba lần lượng nước từng chảy qua lối cũ. Hệ quả là, chẳng lâu sau cuộc phá đá, mực nước hồ sẽ hạ xuống từ hai feet trở lên.

Những người định cư tiến về phía Hang Đá để lấy cuốc chim, giáo nhọn đầu sắt, dây thừng làm từ xơ thực vật, đá lửa cùng búa đánh lửa; rồi họ quay trở lại cao nguyên, đi cùng có cả Top.

Dọc đường, bác thủy thủ không kìm được bèn nói với kỹ sư,—

– Thưa kỹ sư, anh không nghĩ rằng nhờ thứ chất lỏng kỳ diệu mà anh vừa chế ra, người ta có thể cho bay tung cả hòn đảo của chúng ta lên sao?

– Không một chút nghi ngờ, đảo, lục địa, và ngay cả trái đất này nữa, vị kỹ sư đáp. Đó chỉ là vấn đề số lượng mà thôi.

– Thế thì anh không thể dùng chất nitroglycerine này để nạp đạn cho súng ống ư? – bác thủy thủ hỏi.

– Không, Pencroft; bởi vì nó là một chất quá dễ nổ. Nhưng sẽ dễ dàng thôi nếu chế tạo một ít bông súng, hay thậm chí thuốc súng thông thường, vì chúng ta đang có axit azotic, diêm tiêu, lưu huỳnh và than đá. Khốn nỗi, thứ chúng ta không có lại chính là những khẩu súng.

– Ồ, thưa kỹ sư, – bác thủy thủ đáp, – chỉ cần có chút quyết tâm—

Pencroft đã xóa sạch từ “bất khả thi” khỏi từ điển của đảo Lincoln.

Những người định cư, sau khi đã đặt chân đến Vùng Đất Cao, liền tiến thẳng về phía khúc hồ có cái lỗ thủng cũ nay đã lộ thiên. Lối thoát này giờ đây đã có thể qua lại được, bởi nước không còn ào ạt trút qua đó nữa, và việc thám hiểm bên trong chắc chắn sẽ chẳng mấy khó khăn.

Chỉ trong chốc lát, nhóm người đã tới điểm thấp nhất của hồ, và chỉ một cái liếc mắt là họ biết mục đích đã đạt được.

Quả thực, vách hồ nay đã nổi hẳn lên trên mặt nước, để lộ cái cửa hang mà họ hằng mong đợi. Một dải đất hẹp do nước rút để lộ ra đã tạo lối cho họ tiến đến gần. Miệng cửa này rộng gần hai feet, nhưng chiều cao thì chưa tới hai feet. Trông nó chẳng khác nào miệng cống ven lề đường, thế nên không thể mang lại lối đi dễ dàng cho những người định cư; nhưng Neb và Pencroft với những chiếc cuốc chim trên tay, chẳng mấy chốc đã nới rộng nó thành một chiều cao vừa vặn.

Vị kỹ sư bấy giờ bước tới, và nhận thấy vách của lối đi, ít nhất là ở phần trên, độ dốc không vượt quá ba mươi đến ba mươi lăm độ. Do đó nơi này hoàn toàn đi lại được, và miễn là độ dốc không tăng thêm, việc leo xuống tận mực nước biển sẽ vô cùng dễ dàng. Nếu quả thực, như phỏng đoán, có một khoang trống lớn nào đó ẩn sâu trong lòng khối đá granite, thì nó có lẽ sẽ mang lại những công dụng tuyệt vời.

– Nào, thưa kỹ sư, chúng ta còn đứng chờ gì nữa? – bác thủy thủ cất tiếng hỏi, số nóng lòng muốn bước vào lối đi hẹp. – Anh thấy đấy, Top đã chạy vượt lên trước chúng ta rồi kìa!

– Được thôi, – vị kỹ sư đáp. – Nhưng chúng ta phải soi đường mới thấy lối đi. Neb, hãy đi chặt vài cành cây có nhựa đi.

Neb và Herbert chạy thót ra mép hồ, nơi mọc đầy thông cùng những loài cây xanh khác, chẳng mấy chốc đã trở lại mang theo mấy cành cây được buộc thành đuốc. Những ngọn đuốc được châm lửa bằng đá lửa và búa đánh lửa, với Cyrus Harding đi đầu, cả nhóm liều mình bước vào lối đi tối tăm từng bị dòng nước tràn đầy của hồ chiếm chỗ.

Trái ngược với những gì người ta có thể tưởng tượng, đường kính của lối đi càng lúc càng rộng ra khi những nhà thám hiểm tiến sâu hơn, đến mức chẳng mấy chốc họ đã có thể đứng thẳng người. Khối đá granite bị nước mòn qua vô số thế kỷ trở nên vô cùng trơn trượt, khiến nguy cơ trượt ngã là rất lớn. Nhưng những người định cư đều dùng dây buộc níu vào nhau, hệt như cách người ta thường làm khi leo núi. May thay, một số gờ đá granite nhô ra, tạo thành những bậc thang ngay ngắn, đã giúp chuyến leo xuống bớt phần hiểm nguy. Những giọt nước còn đọng lại trên vách đá lấp lánh đây đó dưới ánh đuốc, khiến các nhà thám hiểm đoán rằng vách hang được bao phủ bởi vô số nhũ đá. Vị kỹ sư quan sát kỹ khối đá granite đen này. Chẳng có một lớp vỉa hay vết nứt nào cả. Cả khối đá đặc quánh và có thớ cực kỳ mịn. Lối đi này vậy là đã có từ thuở hồng hoang của hòn đảo. Không phải nước đã đục khoét nó từng chút một. Chính thần Plút-tôn chứ không phải thần Nép-tu-nơ đã tự tay khoanét nó, và trên vách đá vẫn còn nhận ra dấu vết của những hoạt động phun trào mà dòng nước xối xả đến mấy cũng chẳng thể xóa nhòa hoàn toàn.

Những người định cư tiến xuống rất chậm chạp. Họ không khỏi cảm thấy một nỗi e sợ khôn tả khi dấn thân vào những chiều sâu vô định này, nơi lần đầu tiên có dấu chân con người đặt đến. Họ không nói gì, nhưng ai nấy đều suy tư; và không chỉ một người thầm nghĩ rằng loài bạch tuộc hay một quái vật chân đầu khổng lồ nào đó có lẽ đang trú ngụ trong các hang động phía trong vốn thông liền với biển. Dù sao đi nữa, chú chó Top vẫn đi đầu nhóm nhỏ, và họ có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự tinh khôn của nó, kẻ chắc chắn sẽ cất tiếng báo động nếu có bất kỳ hiểm nguy nào.

Sau khi leo xuống chừng một trăm feet theo một con đường quanh co, Harding – người đang đi tiên phong – bỗng dừng lại, và những người đồng hành liền theo kịp. Nơi họ dừng chân rộng rãi hơn, tạo thành một hang động có kích thước vừa phải. Những giọt nước từ vòm trần nhỏ xuống, nhưng điều đó chẳng chứng minh được rằng chúng thấm qua vách đá. Đơn giản đó chỉ là những dấu vết cuối cùng do dòng thác từng gầm thét suốt bao lâu qua hang động này để lại, và không khí ở đây rất trong lành tuy hơi ẩm ướt, hoàn toàn không sinh ra thứ hơi độc hại nào.

– Nào, Cyrus thân mến của tôi, – Gideon Spilett lên tiếng, – đây quả là một chốn ẩn náu vô cùng an toàn, giấu mình kỹ càng trong lòng đá sâu, nhưng ngặt một nỗi là chẳng thể ở được.

– Sao lại không thể ở được? – bác thủy thủ hỏi.

– Bởi vì nó quá nhỏ và quá tối.

– Chẳng lẽ chúng ta không thể mở rộng nó, đục đẽo thêm, làm những ô cửa để đón ánh sáng và không khí hay sao? – Pencroft đáp, lúc này thì chẳng còn coi điều gì là bất khả thi nữa.

– Hãy tiếp tục cuộc thám hiểm đã, – Cyrus Harding nói. – Biết đâu càng xuống sâu, tạo hóa sẽ càng bớt đi phần việc này cho chúng ta.

– Chúng ta mới đi được một phần ba quãng đường thôi, – Herbert nhận xét.

– Gần một phần ba, – Harding đáp, – vì chúng ta mới xuống được một trăm feet tính từ cửa hang, và không loại trừ khả năng cách đây xuống thêm một trăm feet nữa—

– Top đâu rồi nhỉ? – Neb cất tiếng hỏi, cắt ngang lời chủ nhân.

Họ rọi đèn tìm khắp hang động nhưng chẳng thấy chú chó đâu.

– Rất có thể nó đã đi tít xuống dưới rồi, – Pencroft đoán.

– Hãy đi theo nó thôi, – Harding đáp.

Hành trình leo xuống lại tiếp tục. Vị kỹ sư cẩn trọng quan sát mọi ngóc ngách của lối đi, và dẫu phải rẽ qua bao khúc quanh, ông vẫn dễ dàng mường tượng ra hướng đi chung của nó là hướng ra phía biển.

Những người định cư đã đi thêm được chừng năm mươi feet nữa thì sự chú ý bị thu hút bởi những âm thanh văng vẳng vọng lên từ tận đáy sâu. Họ dừng bước và lắng nghe. Những âm thanh đó truyền qua đường hầm chẳng khác nào qua một chiếc ống nghe, vang đến tai vô cùng rõ rệt.

– Đó là tiếng sủa của Top! – Herbert kêu lên.

– Đúng thế, – Pencroft đáp, – và chú chó dũng cảm của chúng ta đang sủa dữ dội lắm!

– Chúng ta có giáo nhọn đầu sắt đây. Hãy cẩn trọng, và tiến lên! – Cyrus Harding hô lớn.

– Mọi chuyện càng lúc càng trở nên thú vị rồi đây, – Gideon Spilett thì thầm vào tai bác thủy thủ, và người này gật đầu tán thưởng. Harding cùng các đồng bạn lao đến ứng cứu cho chú chó. Tiếng sủa của Top ngày một rõ hơn và nghe có vẻ hung hăng đến kỳ lạ. Phải chăng nó đang đụng độ với một loài sinh vật nào đó có nơi ẩn trú bị quấy rầy? Bất chấp hiểm nguy có thể rình rập, lòng tò mò không gì kìm nã nổi đã thôi thúc các nhà thám hiểm, và chỉ ít phút sau, thấp hơn mười sáu feet, họ đã hội ngộ với Top.

Tại đó, lối đi mở ra một hang động rộng lớn và vô cùng tráng lệ.

Top đang chạy đi chạy lại, sủa vang trời. Pencroft và Neb giơ cao đuốc vung vẩy, rọi ánh sáng vào mọi ngóc ngách; đồng thời Harding, Gideon Spilett và Herbert với ngọn giáo trong tay đã sẵn sàng ứng phó cho mọi tình huống bất ngờ. Hang động khổng lồ hoàn toàn trống không. Những người định cư lùng sục khắp mọi hướng. Chẳng có gì ở đây cả, không một bóng động vật, không một sinh linh; thế nhưng Top vẫn tiếp tục sủa. Mọi lời vuốt ve hay dỗ dặn đều chẳng thể khiến nó im miệng.

– Ắt phải có một lối đi nào đó ở đâu đây để nước hồ chảy ra biển, – vị kỹ sư nhận định.

– Dĩ nhiên rồi, – Pencroft đáp, – và chúng ta phải cẩn thận kẻo ngã nhũi xuống hố đấy.

– Tiến lên, Top, tiến lên! – Harding ra lệnh.

Chú chó được lời như được gãi đúng chỗ ngứa liền chồm đến tận cùng hang động, rồi ở đó tiếng sủa càng thêm vang dội.

Họ bám theo nó, và nhờ ánh đuốc soi rọi, họ nhìn thấy miệng của một cái giếng đá tự nhiên ngay ngắn. Chính qua ngả này mà nước đã thoát đi; và lần này không phải là một lối đi xiên có thể qua lại được, mà là một cái giếng thẳng đứng, hoàn toàn không tài nào mạo hiểm trèo xuống nổi.

Những ngọn đuốc được chìa ra phía trên miệng vực: chẳng thể nhìn thấy gì dưới đó. Harding liền lấy một cành cây đang cháy ném xuống vực sâu. Ngọn đuốc rực lửa, với sức chiếu sáng càng lúc càng mạnh nhờ tốc độ rơi, đã soi tỏ lòng giếng nhưng bên dưới vẫn mịt mờ không thấy gì. Ngọn lửa sau đó tắt ngấm kèm theo một tiếng xèo nhỏ, chứng tỏ nó đã chạm tới mặt nước, tức là ngang với mực nước biển.

Dựa vào thời gian rơi của cành cây, vị kỹ sư đã tính toán được độ sâu của cái giếng, và kết quả là nó sâu chừng chín mươi feet.

Như vậy, sàn của hang động phải nằm ở cao độ chín mươi feet so với mực nước biển.

– Đây chính là chốn dung thân của chúng ta, – Cyrus Harding tuyên bố.

– Nhưng nó từng bị một sinh vật nào đó chiếm giữ đấy, – Gideon Spilett nói, lòng hiếu kỳ vẫn chưa được thỏa mãn.

– Chà, sinh vật đó, dù là lưỡng cư hay gì đi nữa, đã tẩu thoát qua cái lỗ này rồi, – vị kỹ sư đáp, – và nhường lại nơi này cho chúng ta.

– Mặc kệ nó, – bác thủy thủ bồi thêm, – tôi rất rất muốn được làm Top chỉ trong mười lăm phút thôi, bởi vì chú ta chẳng đời nào lại đi sủa vô cớ cả!

Cyrus Harding nhìn chú chó của mình, và những người đồng hành đứng gần ông hẳn đã nghe thấy ông lầm bầm những lời này,—

– Ừ, tôi tin là Top biết nhiều điều về rất nhiều thứ hơn chúng ta đấy.

Dẫu sao đi nữa, mong ước của những người định cư phần lớn đã thành hiện thực. Sự tình cờ, được trợ giúp bởi sự sắc sảo kỳ diệu của người thủ lĩnh, đã mang lại cho họ công lớn. Giờ đây họ đang có trong tay một hang động rộng lớn mà ánh sáng leo lét của những ngọn đuốc không thể đo đạc hết kích thước thật của nó, nhưng chắc chắn việc chia cắt nó thành các căn phòng bằng những bức tường gạch, hay sử dụng nó dẫu không làm nhà thì ít nhất cũng như một gian phòng rộng rãi sẽ vô cùng dễ dàng. Lượng nước đã rút đi sẽ không thể quay trở lại. Nơi này hoàn toàn thuộc về họ.

Vẫn còn đó hai khó khăn; thứ nhất, làm sao thắp sáng không gian khoét sâu giữa lòng khối đá nguyên khối này; thứ hai, sự cần thiết phải biến lối vào trở nên thuận tiện hơn. Chẳng ích gì khi nghĩ đến việc lấy ánh sáng từ trên trần xuống, bởi lớp đá granite cấu tạo nên vòm trần quá đỗi dày; nhưng có lẽ bức tường bên ngoài hướng ra biển có thể đục thủng được. Trên đường leo xuống, Cyrus Harding đã áng chừng độ nghiêng của nó, và qua đó tính được chiều dài của đường hầm, nên ông có cơ sở để tin rằng bức tường phía ngoài không quá dày. Nếu có thể rọi sáng theo cách ấy, thì đồng thời ta cũng mở được một lối vào, bởi việc đục một cánh cửa cũng dễ hệt như trổ cửa sổ và dựng một chiếc thang bên ngoài vậy.

Harding bèn bày tỏ ý tưởng của mình với những người đồng hành.

– Thế thì, thưa kỹ sư, chúng ta bắt tay vào việc thôi! – Pencroft đáp. – Tôi đang cầm cuốc đây, và tôi sẽ sớm mở được lối xuyên qua bức tường này thôi. Tôi nên giáng búa vào đâu đây?

– Ở đây, – vị kỹ sư vừa nói vừa chỉ cho bác thủy thủ vạm vỡ một hõm sâu đáng kể trên vách đá, nơi sẽ giúp giảm bớt đáng kể bề dày của bức tường.

Pencroft lao vào đục khoét khối đá granite, và suốt nửa giờ liền, dưới ánh đuốc chập chờn, anh khiến những mảnh đá dăm văng tung tóe xung quanh. Neb thay ca cho anh, rồi đến lượt Spilett thay thế vị trí của Neb.

Công việc ấy cứ thế kéo dài suốt hai tiếng đồng hồ, và họ bắt đầu lo sợ rằng tại vị trí này vách đá sẽ chẳng chịu khuất phục trước búa cuốc, thì bấy giờ, sau cú giáng cuối cùng của Gideon Spilett, mũi cuốc đã đâm thủng qua lớp đá và rơi tót ra ngoài.

– Hoan hô! Hoan hô! – Pencroft reo lên.

Bức tường ở đó chỉ dày vỏn vẹn ba feet.

Harding áp mắt vào lỗ thủng, nhìn ra khoảng không từ độ cao tám feet so với mặt đất. Trước mắt ông trải dài bờ biển, hòn đảo nhỏ, và xa xa là đại dương bao la.

Từng dòng ánh sáng ào ạt ùa qua lỗ thủng, ngập tràn hang động lộng lẫy và tạo nên một hiệu ứng kỳ diệu! Phía bên trái, hang cao và rộng chưa đầy ba mươi feet, nhưng ở phía bên phải thì vô cùng đồ sộ, với vòm trần cao vút lên hơn tám feet.

Ở một vài nơi, những trụ đá granite được sắp xếp ngẫu hứng đang gánh lấy vòm trần, hệt như những chiếc cột trong gian giữa của một nhà thờ lớn, chỗ thì tạo thành các trụ áp tường, nơi lại uốn thành những vòm cuốn hình elip được trang trí bằng các đường gờ nhọn, khuất dần vào nhữnghốc tối giữa những vòm cong kỳ ảo thấp thoáng trong bóng râm, phủ đầy những mảng nhô ra được chạm trổ tựa vô số chiếc đèn chùm treo ngược. Hang động này là một sự hòa trộn đầy mỹ vị của tất cả các phong cách kiến trúc Byzantine, La Mã hay Gothic từng xuất hiện dưới bàn tay con người. Thế mà đây lại hoàn toàn là kiệt tác của tạo hóa. Chỉ một mình tự nhiên đã nhào nặn nên chốn Alhambra tựa cõi thần tiên này giữa khối đá granite cứng ngắc.

Những người định cư choáng ngợp trong niềm thán phục. Nơi họ từng đinh ninh chỉ tìm thấy một cái hốc hẹp, nay lại hiện ra một thứ cung điện kỳ diệu, và Neb thậm chí đã cởi cả mũ ra cứ như thể vừa được đưa đến một chốn đền đài linh thiêng!

Những tiếng kêu thán phục bật ra từ mọi cái miệng. Tiếng hoan hô vang dậy hết lần này đến lần khác cho đến khi lịm dần trong những gian điện tối tăm.

– A, các bạn của tôi ơi! – Cyrus Harding thốt lên, – khi chúng ta đã thắp sáng được không gian bên trong này, đồng thời sắp xếp các phòng ốc cùng kho tàng ở phần bên trái, thì chúng ta vẫn sẽ còn nguyên hang động lộng lẫy này để làm phòng nghiên cứu và bảo tàng riêng!

– Và chúng ta sẽ gọi nó là? – Herbert hỏi.

– Ngôi Nhà Đá Granite, – Harding đáp; một cái tên lại một lần nữa được các đồng bạn chào mừng bằng những tiếng reo hò vang dội.

Những ngọn đuốc lúc bấy giờ đã gần cạn, và vì họ buộc phải quay trở lại theo đường hầm để lên tới đỉnh cao nguyên, nên mọi người quyết định dời công việc sắp xếp chốn dung thân mới sang ngày hôm sau.

Trước lúc rời đi, Cyrus Harding lại một lần nữa rướn người nhìn xuống cái giếng tối thẫm cắm thẳng đứng xuống tận mực nước biển. Ông chăm chú lắng nghe. Chẳng có âm thanh nào lọt vào tai, thậm chí cả tiếng nước vốn phải bị những đợt sóng ngầm khuấy động thỉnh thoảng ở tận đáy sâu. Một cành cây đang cháy lại được ném xuống. Vách giếng bừng sáng lên trong chốc lát, nhưng cũng như lần đầu, chẳng có lấy một thứ gì đáng ngờ xuất hiện.

Nếu có con quái vật biển nào bất ngờ bị con nước rút bẫy lại, thì giờ này nó cũng đã kịp tẩu thoát về với biển khơi qua lối đi ngầm trước khi cửa khẩu mới kịp mở ra cho nó.

Trong khi đó, vị kỹ sư vẫn đứng bất động, mắt đăm đăm nhìn xuống vực sâu mà không thốt lên lấy một lời.

Bác thủy thủ tiến lại gần, chạm nhẹ vào tay ông và cất tiếng: – Thưa kỹ sư!

– Anh muốn gì thế, bạn tôi? – vị kỹ sư hỏi, hệt như vừa bừng tỉnh sau một giấc mộng dài.

– Mấy cây đuốc sắp tàn hết rồi kìa.

– Tiến lên nào! – Cyrus Harding đáp.

Cả nhóm nhỏ rời khỏi hang động và bắt đầu hành trình leo ngược lên qua đường hầm tối tăm. Chú chó Top đoạn hậu, chốc chốc lại gầm gừ vài tiếng. Chặng đường leo lên gian khổ vô cùng. Những người định cư dừng chân nghỉ ngơi dăm phút ở hang đá phía trên, nơi đóng vai trò như một chiếu nghỉ lưng chừng cầu thang đá granite dài dằng dặc. Rồi họ lại tiếp tục guồng chân leo.

Chẳng mấy chốc bầu không khí tươi mát hơn đã phả tới. Những giọt nước bốc hơi khô cạn chẳng còn lấp lánh trên vách đá nữa. Những ngọn đuốc lập lòe bắt đầu mờ dần. Cây đuốc Neb đang cầm vụt tắt, và nếu không muốn phải mò mẫm tìm đường trong bóng tối, họ buộc phải rảo chân nhanh hơn.

Và họ đã làm kịp, để rồi chẳng mấy chốc trước bốn giờ, đúng vào khoảnh khắc cây đuốc của bác thủy thủ cũng lịm tắt theo, Cyrus Harding cùng các đồng bạn đã bước ra khỏi lối đi ngầm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.